phần mở đầu, tác giả đã giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu, trong đó trình bày về tính cấp thiết của đề tài, tình hình nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu. Những định hướng nêu trên là cơ sở để tác giả trình bày khóa luận này ở những chương tiếp theo. 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÁC NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG 1. Tổng quan về rủi ro tác nghiệp trong hoạt động tín dụng 1.
Khái niệm về rủi ro tác nghiệp Rủi ro tác nghiệp là loại rủi ro phát sinh do yếu tố con người, đạo đức nghề nghiệp, sự yếu kém, chậm phát triển trong hệ thống công nghệ thông tin của đơn vị, sự sơ hở, yếu kém trong các quy định nghiệp vụ, hoặc từ những yếu tố bên ngoài. Theo Hiệp ước Basel II (BCBS 2006) thì “Rủi ro tác nghiệp được định nghĩa là nguy cơ tổn thất do các quy trình, con người và hệ thống nội bộ không đạt yêu cầu hoặc không hoạt động hay do các sự kiện bên ngoài. Khái niệm rủi ro tác nghiệp bao gồm rủi ro pháp lý nhưng không bao gồm rủi ro chiến lược và rủi ro uy tín doanh nghiệp”. Trong đề tài nghiên cứu này, tác giả chỉ đề cập đến rủi ro tác nghiệp trong hoạt động tín dụng.
Các loại hình rủi ro tác nghiệp Một số loại hình rủi ro tác nghiệp theo Uỷ ban Basel II cảnh báo bao gồm những loại như sau: Rủi ro liên quan đến hành vi gian lận xuất phát từ nội bộ Ngân hàng Rủi ro liên quan đến hành vi gian lận xuất phát từ bên ngoài Rủi ro liên quan đến quy trình quản lý Rủi ro liên quan đến quá trình hoạt động của hệ thống công nghệ thông tin Rủi lo liên quan đến sản phẩm, chất lượng dịch vụ Rủi ro liên quan đến an toàn, văn hóa lao động Rủi ro liên quan đến yếu tố tự nhiên 7 1. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tác nghiệp trong hoạt động tín dụng Cũng theo Basel II thì RRTN gồm các nhóm nguyên nhân như sau: Gian lận bên trong nội bộ: Rủi ro này xảy ra khi xuất hiện các hành động cố ý gian lận, biển thủ tài sản hoặc không chấp hành các quy định của pháp luật, của ngân hàng. Thiếu hoạt động rà soát, kiểm tra đánh giá định kỳ về mô hình tổ chức hoạt động, bộ máy làm việc, cơ cấu tổ chức bộ phận nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng. Quá trình đào tạo, đánh giá năng lực các cán bộ chưa chuyên nghiệp; trình độ học vấn, chuyên ngành chưa đáp ứng tiêu chuẩn; kinh nghiệm làm việc thực tế, kết quả hoàn thành công việc không đạt yêu cầu; không tuân thủ, chấp hành các quy định về quy trình cấp tín dụng; một số cán bộ có bằng cấp và năng lực chưa phù hợp với vị trí công việc được bố trí.
Chính sách tuyển dụng, bổ nhiệm, bố trí vị trí làm việc dành cho các bộ nhân viên chưa hợp lý dẫn đến tình trạng cán bộ nhân viên làm việc quá năng lực, khả năng thực có. Điều kiện nơi làm việc không đảm bảo tính bảo mật: nơi lưu trữ hồ sơ chưa an toàn có thể dẫn đến việc thất lạc hồ sơ, giấy tờ hồ sơ tín dụng, bị đánh cắp thông tin khách hàng hoặc mất tài sản. Cơ sở vất chất chưa đảm bảo yêu cầu về môi trường, không gian, công cụ, hệ thống cảnh báo an toàn như: thiết bị phòng cháy chữa cháy, thiết bị liên lạc với cơ quan bảo đảm an toàn,… sẽ gây ảnh hưởng đến hiệu suất làm việc của cán bộ tín dụng. Chủ tịch Hội đồng tín dụng có mối quan hệ thân thích với thành viên trong hội đồng tín dụng.
Giám đốc/ Phó giám đốc phụ trách phòng công tác tín dụng có người thân hoặc người có mối quan hệ thân thích làm cán bộ phòng công tác tín dụng. 8 Gian lận từ bên ngoài: Rủi ro này nguyên nhân xuất phát từ phía khách hàng không trung thực hoặc bên thứ ba cố ý lừa đảo, chiếm đoạt tài sản hoặc không chấp hành các quy định của pháp luật. Hồ sơ tín dụng bị can thiệp bởi cá nhân, tổ chức do cơ quan chính quyền xác nhận, cung cấp sai thông tin. Văn phòng, cơ quan công chứng gian lận trong quá trình công chứng hợp đồng thế chấp về giá TSBĐ, các điều khoản trong hợp đồng.
Quá trình thực hiện hoạt động đăng ký giao dịch bảo đảm bị trì hoãn, quy trình thủ tục đăng ký sai. Khách hàng hoặc bên thứ ba che giấu, cung cấp thông tín đúng sai sự thật, cố tình gian lận trong quá trình cung cấp hồ sơ. Các nguyên tắc về an toàn sức khỏe và an toàn nơi làm việc: Rủi ro này phát sinh từ các hành vi vi phạm lao động, sức khỏe và an toàn, phân biệt đối xử tại nơi làm việc và các luật hoặc thỏa thuận khác. Các dấu hiệu quan đến hoạt động ban hành quy chế, quy trình và hướng dẫn nghiệp vụ tín dụng như: Việc ban hành các văn bản, quy chế, quy định chưa tuân theo các quy định do cơ chính sách pháp luật ban hành.
Các văn bản, quy chế, quy định được ban hành còn tồn tại thiếu sót. Kẻ xấu lợi dụng kẻ hở của các quy định gây ra tổn thất cho ngân hàng. Ban hành các văn bản, quy chế, quy trình chồng chéo nhau, mâu thuẫn gây khó khăn trong quá trình áp dụng. Khách hàng, sản phẩm và các thực tiễn kinh doanh: Rủi ro phát sinh do không làm tròn trách nhiệm đối với khách hàng, sản phẩm kinh doanh không phù hợp, không đáp ứng được nhu cầu khách hàng đề ra,… Tổn thất về tài sản: Rủi ro phát sinh do thất lạc hoặc hư hỏng tài sản, cơ sở vật chất vì thiên tai, điều kiện môi trường tự nhiên hoặc các nguyên nhân khách quan khác.
9 Gián đoạn quá trình kinh doanh: Rủi ro phát sinh do lỗi, sự cố hệ thống, hệ thống bảo trì hoặc bị hỏng làm cho hoạt động kinh doanh bị gián đoạn. Do trục trặc trong quá trình hoạt động của hệ thống công nghệ như: chương trình phần mềm của hệ thống ngân hàng tính toán sai lãi và gốc khoản vay, thu tiền sai so với khoản vay của khách hàng, tính kỳ hạn nợ sai. Đối với dấu hiệu rủi ro liên quan đến hệ thống công nghệ thông tin, nhóm nhận diện rủi ro này là quá trình theo dõi sự hoạt động của hệ thống (bao gồm: phần cứng, hệ thống bảo mật, thiết bị mạng, đường truyền, phần mềm nghiệp vụ,…), tiến hành thống kê, báo cáo một cách đầy đủ các lỗi, sai sót, các sự cố của hệ thống CNTT làm gián đoạn đến quá trình hoạt động của ngân hàng. Quy trình hoạt động và vận hành xuất hiện lỗi: Rủi ro xuất hiện do có lỗi trong quá trình xử lý giao dịch, quản lý quy trình hoạt động, rủi ro này có thể phát sinh từ nguồn cung cấp từ các đối tác, nhà cung cấp.
Theo dõi, thống kê chưa đầy đủ, mắc lỗi, sai sót trong quá trình xử lý công việc, thực hiện nghiệp vụ chưa có sự ủy quyền, vượt quá thẩm quyền quyết định; thực hiện không đúng, không đầy đủ chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao, không bảo vệ lợi ích chính đáng tối đa cho ngân hàng trong điều kiện có thể bảo vệ được; không tuân thủ quy định, quy trình; kiểm soát chặt chẻ. Phƣơn ph p đo lƣờng rủi ro tác nghiệp trong hoạt động tín dụng Việc đo lường, xác định mức độ phức tạp của rủi ro tác nghiệp đối với nghiệp vụ tín dụng là hoạt động khó khăn do xuất phát từ yếu tố con người và đạo đức nghề nghiệp là chủ yếu. Các phương pháp chủ yếu được sử dụng để đo lường mức độ rủi ro tác nghiệp là phương pháp định lượng và phương pháp định tính (Trần Đỗ Nhật Uyên, 2018a). Phương pháp định tính: Phương pháp này cho phép phân tích, đánh giá và đưa ra nhận xét một cách chủ quan từ phía ngân hàng về mức độ tốt – xấu; mức độ nghiêm trọng lớn – nhỏ của rủi ro tác nghiệp.
Mục đích phương pháp này nhằm đo lường các rủi ro nguyên nhân liên quan đến mô hình hoạt động, cơ cấu tổ chức, liên 10 quan đến văn bản, quy trình nội bộ. Chỉ tiêu cho phương pháp định tính gồm: Xếp hạng kiểm soát nội bộ; Thông tin báo chí; Báo cáo của kiểm soát, thanh tra nhà nước. Phương pháp định lượng: Phương pháp này đánh giá bằng số liệu cụ thể về xác suất xảy ra RRTN và xác định được tổn thất cụ thể do rủi ro gây ra. Một số chỉ số đo lường và các phương pháp đo lường định lượng mà ngân hàng có thể sử dụng là chỉ số đo lường rủi ro tác nghiệp (KRIs) và ma trận rủi ro tác nghiệp.1 Chỉ số đo lƣờng rủi ro tác nghiệp Sự cố Chỉ số đo lƣờng rủi ro (KRI) Gian lận Số lần vi phạm gian lận nội bộ Số lần vi phạm gian lận bên ngoài Khiếu nại và tranh chấp Tần suất báo cáo khiếu nại và tranh chấp của khách hàng Tần suất báo cáo khiếu nại vượt quá X ngày Vị trí cán bộ bỏ trống Phần trăm tỷ lệ nhân viên bỏ trống Số lượng các vị trí bỏ trống hơn X ngày Chính sách sản phẩm Số sản phẩm mới đưa vào sử dụng nhưng chưa đạt yêu cầu chương trình sản phẩm Lỗi, sai sót Số lượng tiền mặt thừa/ thiếu Số lượng tiền thu thừa/ thiếu do sai sót Số lần vi phạm quá giới hạn Xử lý giao dịch Phần trăm khối lượng giao dịch Số lượng giao dịch quá giới hạn trong quá trình xử lý Công nghệ thông tin Số lần và độ dài thời gian ngừng hệ thống theo kế hoạch 11 Số lần và độ dài thời gian ngừng hệ thống không theo kế hoạch Vi phạm quy định Số lần vi phạm, phạt/cảnh cáo những vi phạm quy định của cơ quan/pháp luật (Nguồn: KPMG International 2007) Bảng 1.