CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀHOẠT ĐỘNG CHUỖI CUNG ỨNG CỦADOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về hoạt động chuỗi cung ứng 1. Khái niệm chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng 1. Khái niệm chuỗi cung ứng Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về chuỗi cung ứng theo nhiều hướng tiếp cận khác nhau và có nhiều định nghĩa khác nhau về thuật ngữ “chuỗi cung ứng”.
Trong nghiên cứu, tác giả trích lược một số định nghĩa chuỗi cung ứng nhằm củng cố cơ sở lý thuyết cho vấn đề nghiên cứu của mình, bao gồm: Theo Thomas Fredman trong cuốn Thế giới Phẳng: Tóm lược lịch sử thế giới thế kỷ 21, chuỗi cung ứng được định nghĩa như sau: “Chuỗi cung ứng là một yếu tố chủ yếu làm phẳng thể giới”. “Chuỗi cung ứng chính là nghệ thuật và khoa học của sự cộng tác để tạo ra giá trị”. “Chuỗi cung ứng là một yếu tố chủ yếu làm phẳng thể giới”. “Chuỗi cung ứng chính là nghệ thuật và khoa học của sự cộng tác để tạo ra giá trị”.
Theo Ganeshan và Harrison (1995), “Chuỗi cung ứng là mạng lưới các lựa chọn sản xuất và phân phối nhằm thực hiện chức năng thu mua nguyên vật liệu, chuyển những nguyên vật liệu này thành bán thành phẩm và thành phẩm, rồi phân phối chúng đến khách hàng”. Theo Lambert, Stock và Elleam (1998), “Chuỗi cung ứng là sự kết hợp giữa các doanh nghiệp nhằm đưa sản phẩm hoặc dịch vụ ra thị trường”. SVTH: Nguyễn Thị Ánh Hằng – K52C QTKD 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Thị Minh Hương Theo Chopra Sunil và Peter Meindl (2001), “Chuỗi cung ứng bao gồm mọi công đoạn có liên quan, trực tiếp hoặc gián tiếp, đến việc đáp ứng yêu cầu của khách hàng.
Chuỗi cung ứng không chỉ bao gồm nhà sản xuất và người cung cấp, mà còn có cả các nhà vận chuyển, kho bãi, người bán lẻ và bản thân khách hàng.” Theo Chou và Keng-Li (2001), “Chuỗi cung ứng là mạng lưới toàn cầu nhằm phân phối sản phẩm và dịch vụ từ nguyên liệu ban đầu đến người tiêu dùng cuối cùng thông qua dòng chảy thông tin, phân phối và mua sắm đã được thiết lập”. Theo từ điển Supply chain & Logistics, “Chuỗi cung ứng là chuỗi liên kết các công đoạn từ khâu cung cấp các nguyên vật liệu thô chưa qua xử lý đến khẩu sản phẩm đến tay người tiêu dùng cuối cùng, chuỗi cung ứng cũng kết nối nhiều công ty lại với nhau (nhà sản xuất, nhà cung cấp dịch vụ, khách hàng)”. Theo Christopher (2005), “Chuỗi cung ứng là mạng lưới của những tổ chức liên quan đến những mối liên kết theo dòng chảy ngược và xuôi của những quá trình và những hoạt động khác nhau nhằm tạo ra giá trị trong từng sản phẩm và dịch vụ cho khách hàng”. Theo Hội đồng Tổ chức chuỗi cung ứng (2010), “Chuỗi cung ứng bao gồm mọi nỗ lực liên quan đến việc sản xuất, phân phối một sản phẩm hoặc dịch vụ hoàn chỉnh, bắt đầu từ nhà cung cấp đầu tiên đến khách hàng cuối cùng”.
Theo David Blanchard, “Chuỗi cung ứng là chuỗi tất cả các hoạt động liên quan đến vòng đời một sản phẩm từ lúc ra đời đến khi kết thúc. Chuỗi cung ứng cũng có thể được định nghĩa là các hoạt động từ nhà cung cấp đầu tiên đến khách hàng cuối cùng”. Theo Đoàn Thị Hồng Vân và cộng sự, chuỗi cung ứng là một tổng thể giữa nhiều nhà cung ứng và khách hàng được kết nối với nhau, trong đó, mỗi khách hàng, đến lượt mình lại là nhà cung ứng cho tổ chức tiếp theo cho đến khi thành phẩm tới được tay người tiêu dùng. SVTH: Nguyễn Thị Ánh Hằng – K52C QTKD 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.
Nguyễn Thị Minh Hương Nói một cách khác, có thể xem chuỗi cung ứng là một mạng lưới bao gồm những đơn vị, công đoạn có liên quan với nhau trong việc khai thác tài nguyên nhằm sản xuất ra sản phẩm phục vụ cho người tiêu dùng, kể cả các công đoạn trung gian như vận tải, kho bãi, bán buôn, bán lẻ và bản thân khách hàng. Chuỗi cung ứng là nghệ thuật và khoa học của sự hợp tác nhằm đem lại những sản phẩm/dịch vụ tốt nhất cho người tiêu dùng. Nói một cách cụ thể hơn, chuỗi cung ứng là mạng lưới các tổ chức tham gia vào dòng vận động của các yếu tố đầu vào và thông tin từ nhà cung cấp đầu tiên đến người tiêu dùng cuối cùng và các hoạt động của những tổ chức đó. Trong chuỗi cung ứng, hoạt động logistics của mỗi mắt xích (mỗi đơn vị) là quá trình hoạch định, triển khai và kiểm tra kiểm soát một cách có hiệu lực và hiệu quả dòng hàng hóa, dịch vụ và thông tin liên quan tử điểm đầu vào của mắt xích này đến đầu vào của mắt xích kế tiếp, nhằm mục đích đáp ứng các chuẩn mực, yêu cầu của mắt xích kế tiếp và của toàn chuỗi.
Do vậy, chuỗi cung ứng là chuỗi của các hoạt động logistics – hoạt động tối ưu hóa, nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của chuối và các doanh nghiệp trong chuỗi. Đến lượt mình, mỗi doanh nghiệp trong chuỗi lại là một chuỗi cung ứng nội bộ thu nhỏ, bao gồm: các bộ phận sản xuất và các bộ phận chức năng liên quan đến thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Nhìn chung về cơ bản một chuỗi cung ứng bao gồm một hành trình liên kết giữa các nhân tố trong đó có 3 hoạt động cơ bản nhất, gồm: Cung cấp: tập trung vào các hoạt động mua nguyên liệu như thế nào? Mua từ đầu và khi nào nguyên liệu được cung cấp nhằm phục vụ hiệu quả quá trình sản xuất. Sản xuất: là quá trình chuyển đổi các nguyên liệu thành sản phẩm cuối cùng.
SVTH: Nguyễn Thị Ánh Hằng – K52C QTKD 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Thị Minh Hương Phân phối: là quá trình đảm bảo các sản phẩm sẽ được phân phối đến khách hàng cuối cùng thông qua mạng lưới phân phối, kho bãi, bán lẻ một cách kịp thời và hiệu quả. Trên cơ sở nghiên cứu một số khái niệm về chuỗi cung ứng, có thể định nghĩa chuỗi cung ứng như sau: Chuỗi cung ứng bao gồm các hoạt động của mọi đối tượng có liên quan từ mua nguyên liệu, sản xuất ra sản phẩm cho đến cung cấp cho khách hàng cuối cùng. Nói cách khác, chuỗi cung ứng của một mặt hàng là một quá trình bắt đầu từ nguyên liệu thô cho tới khi tạo thành sản phẩm cuối cùng và được phân phối tới tay người tiêu dùng nhằm đạt được hai mục tiêu cơ bản, đó là: tạo mối liên kết với nhà cung cấp của các nhà cung ứng và khách hàng của khách hàng vì họ có tác động đến kết quả và hiệu quả của chuỗi cung ứng; hữu hiệu và hiệu quả trên toàn hệ thống.
Quản trị chuỗi cung ứng Theo Christopher (2005), “ Quản trị chuỗi cung ứng là quản lý các mối quan hệ nhiều chiều giữa các nhà cung cấp và khách hàng nhằm phân phối đến khách hàng những sản phẩm/dịch vụ có giá trị cao hơn với chi phí ít hơn trong toàn bộ chuỗi cung ứng”. Các tác giả Mentzer, Dewitt, Min, Nix, Smith và Zachia (2001), “Quản trị chuỗi cung ứng là sự kết hợp mang tính chiến lược, có hệ thống các chức năng kinh doanh truyền thống đồng thời để ra sách lược phối hợp các chức năng này trong một công ty cụ thể cũng như liên kết các doanh nghiệp trong một chuỗi cung ứng nhằm mục đích nâng cao năng lực của từng công ty và toàn bộ chuỗi cung ứng trong dài hạn". Theo Michael Hugos (2010, bản dịch của Tịnh Văn Media), “Quản trị chuỗi cung ứng là việc phối hợp hoạt động sản xuất, lưu kho, địa điểm và vận tải giữa các SVTH: Nguyễn Thị Ánh Hằng – K52C QTKD 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Thị Minh Hương thành viên trong chuỗi cung ứng nhằm mang đến cho thị trường mà bạn phục vụ sự kết hợp tiện ích và hiệu quả tốt nhất” Theo Hiệp hội các Nhà Quản trị chuỗi cung ứng (2007), “Quản trị chuỗi cung ứng bao gồm hoạch định và quản lý tất cả mọi hoạt động liên quan đến nguồn cung, mua hàng, sản xuất và tất cả các hoạt động quản trị logistics”.
Quản trị chuỗi cung ứng là quản trị toàn bộ mọi hoạt động của chuỗi, trong đó, vấn đề mấu chốt là quản lý được các mối quan hệ giữa các mắt xích trong chuỗi. Nói cách khác, quản trị chuỗi cung ứng là quá trình hoạch định, tổ chức, quản lý, lãnh đạo, kiểm tra và kiểm soát toàn bộ quá trình cung ứng, sản xuất, phân phối và tiêu thụ trong mối liên kết, tích hợp, phụ thuộc và ảnh hưởng lẫn nhau từ nhà cung cấp, người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng. Theo Đoàn Thị Hồng Vân và cộng sự, Quản trị chuỗi cung ứng là quản trị toàn bộ mọi hoạt động của chuỗi, trong đó, vấn đề mấu chốt là quản lý được các mối quan hệ giữa các mắt xích trong chuỗi. Trong thời “Thuê ngoài” như hiện nay thì nhà quản trị chuỗi cung ứng cũng là một nhạc trưởng trong việc xây dựng môi trường công tác hiệu quả giữa các đối tác, nhà cung cấp và bản thân doanh nghiệp.
Họ cần được hát chung một nhịp đồng ca được dẫn nhịp bởi nhạc trưởng. Tóm lại dựa vào việc nghiên cứu một số quan điểm của các chuyên gia về quản trị chuỗi cung ứng cho thấy đây là một phần nội dung không thể thiếu của chuỗi cung ứng. Để chuỗi cung ứng của một doanh nghiệp hay một ngành hiệu quả, bền vững và thể hiện tính liên kết chặt chẽ thì chuỗi cung ứng ấy phải được tổ chức quản lý một cách khoa học, linh hoạt, trong đó điều kiện tối thiểu cần thiết là các thành phần trong chuỗi phải liên kết, tương tác, hợp tác chặt chẽ với nhau. Phân loại chuỗi cung ứng 1.
Theo tiêu chí tính liên kết giữa các thành phần trong chuỗi cung ứng Chuỗi cung ứng hợp tác SVTH: Nguyễn Thị Ánh Hằng – K52C QTKD 9 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Thị Minh Hương Được hiểu một cách đơn giản bao gồm hai hoặc nhiều hơn các doanh nghiệp độc lập làm việc với nhau nhằm lên kế hoạch và thực thi các hoạt động chuỗi cung ứng sẽ đạt được thành công hơn là hoạt động riêng biệt và các chuỗi cung ứng hợp tác thông thường khác nhau do chính cấu trúc của chúng. Chuỗi cung ứng tương tác: được chia theo 4 mức độ hệ thống, bao gồm: Mức độ hệ thống 1: Chuỗi nội bộ trong doanh nghiệp. Mức độ hệ thống 2: Quan hệ đối tác song phương.