mở đầu Ở chương này, đề tài sẽ xác định hướng đi của bài nghiên cứu thông qua việc nêu rõ lí do chọn đề tài. Từ đó, xác định các mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu cụ thể để hình thành hướng nghiên cứu cho bài. Bên cạnh đó, đề tài cũng nêu rõ ý nghĩa khoa học và phương diện thực tiễn mà bài báo cáo sẽ đem lại Chương 2: Tổng quan lý thuyết và phương pháp nghiên cứu Chương này sẽ tập trung đưa ra các khái niệm liên quan trực tiếp đến đề tài, cụ thể là các khái niệm về chính sách tiền lương, thưởng. Bên cạnh đó, đề tài cũng chọn lọc và đưa ra một số công trình nghiên cứu trước đó để làm cơ sở và cũng từ đó rút ra những bài học cho bài nghiên cứu.
Trong phần phương pháp nghiên cứu, đề tài sẽ nêu ra phương pháp và hình thức thu thập cũng như phân tích và xử lí dữ liệu để phục vụ nghiên cứu. Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Trong chương 3, bên cạnh những thông tin khái quát về công ty như quá trình hình thành và phát triển, cơ cấu tổ chức, lĩnh vực hoạt động, tình hình hoạt động kinh doanh, nghiên cứu cũng tiến hành phân tích thực trạng chính sách tiền lương của công ty. Đồng thời phân tích các dữ liệu được thu thập từ hình thức khảo sát để đánh giá sự hài lòng của cán bộ công nhân viên về chính sách tiền lương tại công ty. Chương 4: Giải pháp hoàn thiện chính sách tiền lương tại Công ty TNHH MTV Duy Hưng Logistics.
Từ những mục tiêu phát triển trong tương lai và những hạn chế đã được nêu ở chương trước, tiến hành đưa ra đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách tiền lương tại Công ty TNHH MTV Duy Hưng Logistics. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Lý thuyết Trong bài nghiên cứu này, chính sách tiền lương sẽ được hiểu là bao gồm các khoản tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp, trợ cấp và phúc lợi. Khái niệm Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO): “Tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập, bất luận tên gọi hay cách tính thế nào, mà đươc thể biểu hiện bằng tiền và được ấn định bằn thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động, hoặc bằng pháp luật, pháp quy quốc gia, do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo một hợp đồng lao động được viết ra hay bằng miệng, cho một công nhân đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện, hoặc cho những dịch vụ đã làm hay sẽ phải làm”.
Theo Điều 55 Bộ luật lao động nước ta cho rằng, khoản tiền lương của người lao động là do 2 phía doanh nghiệp và người lao động thỏa thuận với nhau trong hợp đồng ,chi trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc. Bên cạnh đó, Mức tiền lương của người lao động luôn bằng hoặc lớn hơn mức lương tối thiếu do Nhà nước quy định, không được thấp hơn. Có 3 thành phần tạo nên tiền lương: Lương cơ bản (chiếm 70-80% tiền lương), phụ cấp, trợ cấp và tiền thưởng. Lương cơ bản Theo Trần Kim Dung (Quản trị nguồn nhân lực, 2011), lương cơ bản là khoản được trả cố định cho người lao động sau khi đã thực hiện các trách nhiệm công việc cụ thể.
Lương cơ bản được tính theo những cách như thời gian làm việc (giờ, ngày, tháng), hoặc theo đơn giá sản phẩm, và nó không gồm các khoản lương ngoài giờ, lương khuyến khích,… Độ phức tạp của công việc, năng lực của người lao động, điều kiện làm việc và giá thị trường là những cơ sở để xác định lương cơ bản. Ý nghĩa của tiền lương 4 Đối với người lao động Có nhiều lý do để người lao động quan tâm đến tiền lương: - Nó phần cơ bản nhất trong thu nhập của người lao động, giúp họ và gia đình trang trải các chi tiêu, sinh hoạt, dịch vụ cần thiết. - Địa vị của người lao động trong gia đình, trong tương quan với các bạn đồng nghiệp có chịu sự ảnh hưởng của tiền lương, cũng như giá trị của họ đối với tổ chức và xã hội. - Khả năng kiếm được tiền cao hơn sẽ tạo động lực thúc đẩy người lao động cố gắng ra sức học tập để nâng cao giá trị của bản thân đối với tổ chức, thông qua sự nâng cao về trình độ và đóng góp cho tổ chức.
Đối với tổ chức - Trong chi phí sản xuất, tiền lương là một phần quan trọng. Nếu tăng tiền lương cao hơn thì chi phí sẽ bị ảnh hưởng, cũng như là giá cả và khả năng cạnh tranh của sản phẩm công ty trên thị trường sẽ bị tác động. - Tiền lương còn là công cụ để duy trì , giữ gìn, thu hút những người lao động có trình độ cao, có khả năng phù hợp với công việc của tổ chức. - Tiền lương và các thù lao khác là công cụ để quản lý chiến lược nguồn nhân lực, có ảnh hưởng đến chức năng khác của quản trị nguồn nhân lực.
Đối với xã hội - Tiền lương cao hơn sẽ giúp người lao động có sức mua cao hơn, do đó làm tăng sự thịnh vượng của cộng đồng, Nhưng đồng thời lại dẫn đến việc tăng giá cả và làm giảm mức sống của những người có thu nhập thấp, không thể theo kịp mức tăng của giá cả. Bên cạnh đó, giá cả tăng cao có thể làm giảm nhu cầu về các sản phẩm dịch vụ và dẫn tới chuyện công ăn việc làm giảm. - Sự đóng góp của tiền lương vào thu nhập quốc dân là khá đáng kể, thông qua con đường thuế thu nhập, góp phần làm tăng nguồn thu của Chính phủ. Đồng thời giúp cho Chính phủ điều tiết được thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội.
Các hình thức trả lương Tuỳ vào loại hình doanh nghiệp hay vào loại hoạt động, thì tổ chức sẽ lựa chọn hình thức trả lương cho phù hợp. Hình thức trả lương theo thời gian Với hình thức này, tổ chức căn cứ vào mức tiền lương đã xác định cho công việc và thời gian mà người lao động có mặt tại nơi làm việc để tiến hành trả lương, với điều kiện họ phải đáp ứng được các tiêu chuẩn tối thiểu về thực hiện công việc đã được tổ chức xây dựng. Hình thức này thường áp dụng rộng rãi đối với một số loại công việc của lao động không lành nghề, công việc khó định mức cụ thể; hoặc công việc đòi hỏi chất lượng cao, các công việc mà phần lớn năng suất, chất lượng phụ thuộc vào máy móc thiết bị, hoặc các hoạt động tạm thời, sản xuất thử. Với cách trả lương này, thời gian làm việc được trả lương càng nhắn bao nhiêu thì độ chính xác càng cao bấy nhiêu.
Ưu điểm của nó là dễ hiểu, dễ quản lý. Bên cạnh đó, nhược điểm chủ yếu của hình thức này là tiền lương mà người lao động nhận được không gắn bó trực tiếp đến sự đóng góp của họ trong một chu kỳ thời gian cụ thể. Để hạn chế nhược điểm của hình thức này, ngoài việc trả công theo thời gian đơn giản, tổ chức còn có thể khuyến khích nhân viên bằng cách trả theo thời gian có thưởng, gồm tiền công theo thời gian đơn giản cộng với tiền thưởng. Hình thức trả lương theo sản phẩm Đây là hình thức trả lương căn cứ vào mức độ hoàn thành công việc của người lao động.
Để áp dụng hình thức này doanh nghiệp cần xác định đơn giá tiền lương sản phẩm. Cụ thể thì có nhiều hình thức trả lương theo sản phẩm như: - Trả lương theo sản phẩm trực tiếp cá nhân: Áp dụng đối với những công nhân sản xuất mà công việc của họ mang tính chất độc lập tương đối và có thể kiểm tra hay định mức, nghiệm thu một cách dễ dàng, riêng biệt. - Trả lương theo sản phẩm tập thể: Áp dụng đối với những công việc cần một nhóm công nhân, yêu cầu có sự phối hợp giữa các họ và sự đóng góp của cả nhóm chính là năng suất 6 lao động chủ yếu. Sau khi xác định được mức lương chung cho cả tập thể thì bộ phận quản trị lao động tiếp tục chia lương cho từng người trong tập thể đó theo những phương pháp phù hợp như phương pháp hệ số điều chỉnh hay phương pháp giờ-hệ số.
Ưu điểm của hình thức này là khuyến khích công nhân trong tổ, nhóm nâng cao trách nhiệm vì tập thể, tập trung đến kết quả cuối cùng của tổ. Song, nhược điểm của nó lại là mức kích thích nâng cao năng suất cá nhân là thấp, do sản lượng của mỗi người không trực tiếp quyết định tiền công của họ. - Trả lương theo sản phẩm có thưởng: Hình thức trả lương kết hợp tiền thưởng để khuyến khích lao động làm việc tốt hơn. Khi áp dụng, tất cả sản phẩm được áp dụng theo đơn giá cố định, còn mức tiền thưởng sẽ căn cứ vào trình độ hoàn thành và vượt mức các chỉ tiêu về số lượng kèm theo chất lượng tốt mà chế độ tiền thưởng đã quy định.
- Trả lương khoán: Đây là hình thức trả lương được áp dụng cho các công việc nếu từng chi tiết, từng bộ phận sẽ không có lợi mà phải giao toàn bộ khối lượng cho công nhân hoàn thành trong một thời gian nhất định. Áp dụng chủ yếu trong các công việc xây dựng, công việc sửa chữa, lắp ráp sản phẩm máy móc thiết bị. Hình thức này khuyến khích người lao động hoàn thành nhiệm vụ trước thời hạn mà vẫn đảm bảo chất lượng công việc. Bên cạnh đó, trong hình thức này tổ chức phải tính đơn giá hết sức tỉ mỉ để trả công chính xác cho người lao động làm khoán.
Tiền thưởng Khái niệm Tiền thưởng là khoản tiền mà người lao động được doanh nghiệp chi trả do họ có những thành tích đóng góp trong công việc vượt trên mức độ mà doanh nghiệp đã quy định. Tiền thưởng và tiền lương cơ bản cùng nhau tạo nên các khoản thu nhập của người lao động, bằng tiền là chủ yếu. Vì vậy, tiền thưởng đã góp phần giúp người lao động thỏa mãn ở mức độ cao hơn những nhu cầu vật chất và tinh thần của bản thân và gia đình. Đôi khi tiền thưởng còn có tác dụng kích thích mạnh mẽ hơn cả tiền lương.
7 Một số hình thức thưởng: Theo kết quả hoạt động kinh doanh (quý / năm); Theo doanh thu bán hàng (tháng); Thưởng do tiết kiệm vật tư; Thưởng do sáng kiến cải tiến kỹ thuật; Thưởng do hoàn thành tiến độ sớm hơn quy định; Thưởng do năng suất, chất lượng tốt; Thưởng do đảm bảo ngày công.