Nghiên cứu cải thiện chất lượng bún gạo lứt bằng tinh bột trong luận văn thạc sĩ công nghệ thực phẩm

Nghiên cứu cải thiện chất lượng bún gạo lứt bằng tinh bột trong luận văn thạc sĩ công nghệ thực phẩm, mang lại giải pháp tối ưu cho ngành thực phẩm.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2020

92
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về bún gạo lứt

Bún gạo lứt là một trong những sản phẩm thực phẩm truyền thống của Việt Nam, được chế biến từ gạo lứt, một loại ngũ cốc nguyên hạt có giá trị dinh dưỡng cao. Chất lượng bún gạo lứt phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm nguyên liệu, quy trình sản xuất và các thành phần dinh dưỡng có trong sản phẩm. Gạo lứt chứa nhiều vitamin, khoáng chất và các hợp chất có hoạt tính sinh học như phenolic, flavonoid, và GABA, giúp cải thiện sức khỏe người tiêu dùng. Sản phẩm bún gạo lứt không chỉ đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng mà còn góp phần bảo vệ sức khỏe nhờ vào các thành phần tự nhiên. Theo đó, nghiên cứu cải thiện chất lượng bún gạo lứt bằng cách bổ sung tinh bột từ các nguồn khác nhau là rất cần thiết.

1.1. Thành phần dinh dưỡng của gạo lứt

Gạo lứt là một nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng, chứa nhiều protein, lipid, và carbohydrate. Hàm lượng protein trong gạo lứt cao hơn so với gạo trắng do lớp vỏ cám vẫn còn nguyên. Chất lượng bún gạo lứt có thể được cải thiện bằng cách tận dụng các thành phần dinh dưỡng có trong gạo lứt. Nghiên cứu cho thấy, các hợp chất phenolic trong gạo lứt có khả năng kháng oxy hóa cao, giúp bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng. Những thành phần này không chỉ mang lại giá trị dinh dưỡng mà còn có tác dụng phòng ngừa nhiều bệnh lý, bao gồm bệnh tiểu đường và bệnh tim mạch. Việc sử dụng gạo lứt trong sản xuất bún không chỉ nâng cao chất lượng sản phẩm mà còn góp phần phát triển ngành thực phẩm bền vững tại Việt Nam.

II. Tinh bột và ứng dụng trong sản xuất bún

Tinh bột đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện cấu trúc và chất lượng của bún gạo lứt. Nghiên cứu đã khảo sát 5 loại tinh bột khác nhau để xác định loại tinh bột nào phù hợp nhất cho sản xuất bún. Kết quả cho thấy tinh bột đậu xanh khi được bổ sung 30% vào bột gạo lứt sẽ tạo ra sản phẩm bún có cấu trúc ổn định và chất lượng tốt. Việc sử dụng tinh bột trong thực phẩm không chỉ giúp cải thiện độ dẻo và độ đàn hồi của bún mà còn nâng cao giá trị dinh dưỡng của sản phẩm. Quy trình sản xuất bún gạo lứt bổ sung tinh bột cần được tối ưu hóa để đảm bảo chất lượng sản phẩm đạt yêu cầu cao nhất cho người tiêu dùng.

2.1. Nghiên cứu các loại tinh bột

Trong nghiên cứu này, các loại tinh bột được khảo sát bao gồm tinh bột đậu xanh, bắp, dong riềng, khoai mì và khoai tây. Mỗi loại tinh bột mang lại những đặc tính riêng, ảnh hưởng đến cấu trúc và chất lượng của bún. Tinh bột đậu xanh, với hàm lượng protein cao và khả năng tạo gel tốt, đã cho thấy hiệu quả vượt trội trong việc cải thiện chất lượng bún. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp thông tin về thành phần dinh dưỡng của các loại tinh bột mà còn mở ra hướng đi mới cho ngành công nghệ thực phẩm trong việc phát triển sản phẩm bún gạo lứt, hướng tới sức khỏe và dinh dưỡng cho người tiêu dùng.

III. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc bổ sung tinh bột vào quy trình sản xuất bún gạo lứt không chỉ cải thiện chất lượng bún gạo lứt mà còn tăng cường giá trị dinh dưỡng của sản phẩm. Các thông số công nghệ như nhiệt độ hơi nước và tốc độ ép đùn cũng đã được xác định là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến cấu trúc và chất lượng bún. Điều này cho thấy khả năng ứng dụng cao của nghiên cứu trong thực tiễn, giúp các nhà sản xuất bún cải thiện quy trình sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm. Sản phẩm bún gạo lứt bổ sung tinh bột không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng mà còn góp phần vào việc phát triển bền vững ngành thực phẩm tại Việt Nam.

3.1. Ứng dụng trong ngành công nghệ thực phẩm

Nghiên cứu này mở ra hướng đi mới cho ngành công nghệ thực phẩm, đặc biệt là trong việc phát triển sản phẩm bún gạo lứt. Việc cải thiện chất lượng bún thông qua việc bổ sung tinh bột không chỉ tạo ra sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao mà còn đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng về thực phẩm tốt cho sức khỏe. Điều này không chỉ có lợi cho sức khỏe người tiêu dùng mà còn thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp thực phẩm bền vững tại Việt Nam, góp phần vào việc bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế.

09/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU Gạo đứng thứ hai trong sản xuất lương thực thế giới sau bắp và cung cấp hơn 20% tổng năng lượng tiêu thụ của dân số thế giới. Hạt gạo trưởng thành được thu hoạch dưới dạng thóc, trong đó nội nhũ được bao trong một vỏ trấu. Khi tách bỏ vỏ trấu sẽ được gạo lứt có lớp vỏ quả, vỏ hạt và aleuron bao phủ bên ngoài.

Các lớp lứt này có giá trị dinh dưỡng cao do giàu khoáng chất và vitamin. Mặc dù gạo được tiêu thụ chủ yếu dưới dạng hạt xát kỹ, đánh bóng nhưng gạo lứt lại đang được khuyến khích tiêu dùng nhờ thành phần dinh dưỡng đặc biệt có lợi cho sức khỏe trong lớp cám gạo [1]. Do đó hiện nay trên thế giới, gạo lứt đang được sử dụng rộng rãi và chế biến thành nhiều dạng thực phẩm khác nhau như trà gạo lứt [2], bánh gạo lứt [3], bánh cookie gạo lứt [4]. Riêng tại Việt Nam, các sản phẩm từ gạo lứt phần lớn là các sản phẩm dạng sợi, được phân phối dưới dạng sấy khô như: bún khô, phở khô, hủ tiếu khô,… Mở rộng hơn các sản phẩm từ gạo lứt đang là nhu cầu cho ngành công nghệ thực phẩm nhằm tạo sản phẩm có lợi cho sức khỏe và thân thiện với môi trường.

Ép đùn là một quá trình kết hợp bao gồm các hoạt động như phối trộn, nấu, nhào, cắt và tạo hình [5]. Đây là một kỹ thuật trong đó kết hợp nhiệt độ và độ ẩm cùng một lúc để hồ hóa tinh bột và biến tính protein, làm chín nguyên liệu, đồng thời kết hợp đùn ép qua lỗ khuôn để tạo hình sản phẩm [6]. Kỹ thuật ép đùn để tạo sợi từ gạo đã được nghiên cứu bởi một số nhóm tác giả như: nghiên cứu ảnh hưởng của lên men và ép đùn đến tính chất hóa lý, cảm quan và hoạt tính sinh học của hỗn hợp bột gạo đen thực hiện bởi Reni và cộng sự (2017) [7]; nghiên cứu duy trì hợp chất phenolic trong gạo lứt sau quá trình ép đùn với enzyme -amylase mesophilic của Zeng và cộng sự (2017) [8], nghiên cứu đánh giá các tính chất chức năng của thức ăn nhẹ ép đùn được phát triển từ bột gạo lứt bằng phương pháp phản ứng bề mặt của Pardhi và cộng sự (2016) [9]. Đối với các sản phẩm dạng sợi, một số nhà khoa học đã thay đổi công thức phối trộn giữa gạo lứt, bột mì và một số loại tinh bột hoặc phụ liệu khác trong công thức chế biến.

Một số công bố khoa học về vấn đề này bao gồm: đánh giá chất lượng 1 Luận Văn Cao Học Trịnh Thị Kiều Oanh của mì sợi phi gluten được sản xuất từ bột gạo lứt và bột ngô thông qua phương pháp ép đùn của Silva và cộng sự (2016) [10]; khảo sát chế độ xử lý ẩm nhiệt để nảy mầm gạo lứt trước khi phối trộn với bột mì khi sản xuất mì tạo hình bằng phương pháp cán cắt của Chung và cộng sự (2012) [11]; khảo sát ảnh hưởng tỷ lệ phối trộn gạo lứt với bột mì đến chất lượng của mì sợi tạo hình bằng phương pháp cán cắt của Ahmed và cộng sự (2015) [12]. Khi nhu cầu xã hội hiện nay về sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên, tốt cho sức khỏe đang càng lúc càng tăng thì nguyên liệu gạo lứt là một nguyên liệu tiềm năng. Nhằm mục đích sản xuất ra các sản phẩm bún tươi từ gạo lứt, luận văn nghiên cứu này tập trung khảo sát công thức phối trộn và thông số công nghệ của máy làm bún mới để tạo được sản phẩm bún tươi từ gạo lứt đạt chất lượng cả về cấu trúc và giá trị dinh dưỡng. 2 Luận Văn Cao Học Trịnh Thị Kiều Oanh CHƯƠNG 2.1 Sơ lược về sản phẩm bún Bún là một trong những sản phẩm truyền thống phổ biến ở nước ta.

Nghề làm bún đã có từ lâu đời và đang ngày càng phát triển. Trong ẩm thực Việt Nam, bún là loại thực phẩm dạng sợi tròn, trắng, mềm, được làm từ bột gạo, tạo sợi qua khuôn, được luộc chín trong nước sôi. Đây là một nguyên liệu được sử dụng khá nhiều làm thành phần chính chế biến rất nhiều món ăn (bún bò huế, bún mắm, bún riêu…). Bún là một trong những loại thực phẩm phổ biến nhất trong cả nước, chỉ xếp sau các món ăn dạng cơm, phở.

Bún truyền thống thường được làm từ gạo xát – gạo đã được tách bỏ lớp vỏ cám với hàm lượng amylose cao hơn 22% [13]. Để sản xuất ra sản phẩm bún cần trải qua nhiều quá trình ngâm, nghiền, phối trộn, hồ hóa một phần, nhào, ép đùn và luộc. Gạo lứt là loại gạo còn giữ lại lớp vỏ cám với thành phần dinh dưỡng cũng như những hợp chất có hoạt tính sinh học cao. Thành phần của gạo lứt gồm tinh bột, chất đạm, chất béo, chất xơ cùng các vitamin như B1, B2, B6; các axit như pantothenic (vitamin B5), folic (vitamin M), các nguyên tố vi lượng như canxi, sắt, magie, selen, natri và kali) nhiều hơn trong gạo xát.

Trong gạo lứt và mầm gạo còn chứa các chất có hoạt tính oxy hóa như ferulic acid, phytic acid, tocophenols và oryzanols [14]. Ngoài ra, các hợp chất phenolic được xác định gồm 27 hợp chất, trong đó 6 hợp chất phenolic acid, 4 hợp chất phenolic acid glycoside và 8 hợp chất flavonoid glycoside [15]. Các cơ chế cho tác dụng chống đái tháo đường của gạo lứt nảy mầm do các hợp chất hoạt tính sinh học như γ-aminobutyric acid (GABA), γ-oryzanol, chất xơ, phenolics, vitamin, steryl β-glucoside, và khoáng chất bao gồm hạ huyết áp, kháng oxy hóa, kháng viêm, giảm cholesterol máu và tác dụng bảo vệ thần kinh [16]. Các nghiên cứu trước đó cho thấy γ-oryzanol là một trong những thành phần chính của gạo lứt giúp cải thiện chứng rối loạn chuyển hóa glucose và làm giảm sự ưa thích đối với chất béo trong chế độ ăn uống bằng cách giảm căng thẳng lưới nội 3 Luận Văn Cao Học Trịnh Thị Kiều Oanh mô ở vùng dưới đồi.

Những phát hiện này cho thấy gạo lứt và chiết xuất từ gạo lứt có thể là công cụ hữu ích giúp cải thiện tình trạng béo phì và hội chứng chuyển hóa [17].1 Thành phần dinh dưỡng của gạo lứt Gạo lứt là một thực phẩm giàu dinh dưỡng thuộc nhóm ngũ cốc nguyên hạt (whole grain).1 Bảng phân tích gần đúng các thành phần của hạt gạo trên 100g ở độ ẩm 14% Dinh dưỡng trên 100g Vỏ trấu Gạo lứt Gạo trắng Cám gạo Nước (g) 14 14 14 14 Năng lượng (kJ) 1110 – 1300 1480 – 1610 1460 – 1560 1670 – 1990 Năng lượng (kcal) 266 – 311 358 – 388 349 – 373 399 – 476 Protein thô (g) 2,0 – 2,8 7,1 – 8,3 6,3 – 7,1 11,3 – 14,9 Chất béo tổng (g) 0,3 – 0,8 1,6 – 3,1 0,3 – 0,7 15,0 – 19,7 Tro (g) 13 – 21 1,0 – 1,5 0,3 – 0,8 6,6 – 9,9 Carbohydrate (g) 22 – 34 73 – 87 77 – 89 34 – 62 Chất xơ tiêu hóa (g) 66 – 74 2,9 – 4,4 0,7 – 2,7 19 – 29 Đường (g) 0,6 0,7 – 1,9 0,1 – 0,5 5,5 – 6,9 Nguồn: Juliano and Tuano [18]. Protein Protein là chất dinh dưỡng thứ hai trong gạo sau tinh bột, bao gồm bốn phần protein chính của gạo : albumin, globulin, glutelin và prolamin. Tỷ lệ tiêu hóa và giá trị sinh học của protein gạo cao hơn các loại ngũ cốc chính khác. Hơn nữa, protein gạo không gây dị ứng và có các hoạt động kháng oxy hóa, chống tăng huyết áp, chống ung thư và chống béo phì [19].

Hàm lượng protein trong gạo lứt cao hơn trong gạo trắng do lớp vỏ cám có hàm lượng protein cao [18]. Hàm lượng protein thô (N x 5,95) dao động từ 5,3 - 13,4% trong gạo trắng và từ 6,7 - 13,5% trong gạo lứt. 4 Luận Văn Cao Học Trịnh Thị Kiều Oanh Hàm lượng nitơ acid amin tự do chiếm khoảng 1% trong tổng lượng nitơ protein thô. Nó chiếm nhiều nhất là ở trong phôi, sau đó là đến cám và cuối cùng là ở trong nội nhũ [20].

Có nghiên cứu cho thấy là hàm lượng protein và acid amin tự do tập trung nhiều ở lớp ngoài của hạt gạo đã xát trắng và giảm dần về phía trong hạt. Cũng nhận thấy rằng tỷ lệ albumin và globulin trong protein cao nhất là ở các lớp ngoài của hạt gạo đã xát trắng và giảm dần về phía trong hạt trong khi tỷ lệ glutelin thì ngược lại [21]. Lipid Lipid tập trung chủ yếu trong cám và phôi. Cám thương mại chứa 10,1 - 23,5% lipid [22, 23].

Gạo xát trắng chỉ chứa 0,3 - 0,7% lipid, còn gạo lứt chứa khoảng 1,5 - 2,5% lipid [24]. Độ ổn định của lipid từ gạo là do các chất chống oxy hóa mà chủ yếu là tocopherol. Trong nghiên cứu của David và cộng sự [25], dầu cám gạo thô chứa 0,044% tổng lượng tocopherol, trong đó 0,026% là α-tocopherol. Trong gạo cũng có chứa một loại tocopherol lạ, đó là η-tocopherol.

Khi nghiên cứu xa hơn, tác giả thấy có sự hiện diện của 4 tocol đã được methyl hóa và 4 loại tocotrienol liên quan và từ đó xác định được η-tocopherol của lipid gạo là 7,8-dimethyl tocotrienol [24]. Các chất không xà phòng hóa trong lipid gạo chiếm khoảng 3,0 - 5,7% [22], trong đó các sterol chiếm 25% trong tổng số này. Phytosterol, stimagsterol và dihydrositosterol đều có mặt [24]. Carbohydrate Carbohydrate của gạo chủ yếu là tinh bột cùng với lượng nhỏ pentosane, hemicellulose và đường.

Tinh bột chiếm khoảng 85-90% chất khô gồm hai thành phần chính là amylose và amylopectin. Ở gạo, hàm lượng amylose được chia thành 5 nhóm: nếp (0-2% amylose), rất thấp (5-12%), thấp (12-20%), trung bình (20-25%) và cao (25-33%) [26]. Chất lượng của gạo bị ảnh hưởng đáng kể bởi nhiệt độ hồ hóa của tinh bột và hàm lượng amylose của chúng, do amylose có tương quan trực tiếp đến sự giãn nở về 5 Luận Văn Cao Học Trịnh Thị Kiều Oanh thể tích, độ cứng, độ trắng của gạo sau khi nấu. Gạo có hàm lượng amylose cao cho thấy sự giãn nở lớn và có xu hướng trở nên cứng, khô khi làm nguội.

Ngược lại, gạo với hàm lượng amylose thấp có xu hướng ẩm, dẻo hơn và thường được gọi là gạo nếp [27]. Hàm lượng pentosan trong gạo xát là khoảng 1 - 2% với tỷ lệ arabinose : xylose từ 1:1 đến 1:1,5 [24, 28, 29]. Còn trong gạo lứt thì hàm lượng chitosan dao động từ 2,0 – 2,5%. Các polysaccharide không chứa tinh bột của gạo lức là 2,5% pentosans, 0,6% tan trong nước (1/3) (1/4) β-glucan, arabinoxylan 0,5%, fructans hòa tan 0,8% và axit uronic 0,2%.

Đường chiếm khoảng 0,3 – 0,5% trong gạo trắng và khoảng 0,6 – 1,4% trong gạo lứt. Đường tự do chủ yếu là saccharose cùng với một lượng nhỏ glucose và fructose [30].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận văn thạc sĩ của Trịnh Thị Kiều Oanh, mang tiêu đề "Nghiên cứu cải thiện chất lượng bún gạo lứt bằng tinh bột", được thực hiện tại Đại học Bách Khoa - Đại học Quốc Gia TP. HCM vào năm 2020, tập trung vào việc nâng cao chất lượng sản phẩm bún gạo lứt thông qua việc sử dụng tinh bột. Nghiên cứu này không chỉ giúp cải thiện độ dẻo và hương vị của bún mà còn mở ra hướng đi mới cho ngành chế biến thực phẩm, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường tiêu dùng về sản phẩm an toàn và chất lượng.

Để tìm hiểu thêm về các khía cạnh liên quan đến công nghệ thực phẩm và nông nghiệp, bạn có thể tham khảo thêm bài viết "Luận văn về quy trình sản xuất cà ngừ chà bông trong công nghệ thực phẩm", trong đó nghiên cứu quy trình sản xuất thực phẩm và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm.

Ngoài ra, bài viết "Luận văn về phát triển kinh tế trang trại bền vững tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang" cũng sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc ứng dụng công nghệ trong sản xuất nông nghiệp bền vững, từ đó giúp bạn có thêm thông tin về các giải pháp cải thiện chất lượng sản phẩm nông sản.

Cuối cùng, bạn cũng có thể tham khảo "Nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cá ngừ đại dương trong quá trình cấp đông", bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thực phẩm trong công nghệ chế biến.

Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức cho bạn mà còn mở rộng thêm các khía cạnh khác nhau trong lĩnh vực công nghệ thực phẩm và nông nghiệp.