Tổng quan nghiên cứu
Trải qua hơn 60 năm xây dựng và trưởng thành kể từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945, hệ thống Viện kiểm sát nhân dân luôn giữ vị trí thiết chế đặc thù, trực thuộc cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là Quốc hội. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và Kết luận số 79-KL/TW ngày 28/07/2010, hoạt động tư pháp đang đứng trước nhiều thách thức lớn. Thực tiễn thống kê cho thấy tình trạng oan, sai cũng như hiện tượng bỏ lọt tội phạm trong giai đoạn điều tra, truy tố vẫn chiếm tỷ lệ khoảng 1% đến 2% trên tổng số các vụ án hình sự phức tạp, đòi hỏi phải có sự chuyển biến căn bản về cả nhận thức lý luận lẫn tổ chức bộ máy.
Luận văn tập trung giải quyết vấn đề cốt lõi: Làm rõ vị trí, vai trò, chức năng của Viện kiểm sát nhân dân nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp khẩn trương, đồng bộ, lấy hoạt động xét xử làm trọng tâm và gắn công tố với điều tra. Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu bao gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận về quyền công tố và kiểm sát tư pháp; phân tích lịch sử phát triển của ngành qua 5 giai đoạn chính; khảo cứu kinh nghiệm tổ chức cơ quan công tố của 5 quốc gia tiêu biểu (Anh, Mỹ, Pháp, Đức, Trung Quốc); đánh giá thực trạng tổ chức từ năm 1992 đến năm 2011; từ đó đề xuất mô hình Viện kiểm sát 4 cấp cùng các nhóm giải pháp khả thi.
Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện thể chế, hướng tới mục tiêu giảm tỷ lệ án bị hủy, sửa do lỗi chủ quan của Kiểm sát viên xuống dưới 0.5%, đồng thời nâng cao hiệu quả tranh tụng tại phiên tòa đạt mức 100% đối với các vụ án có luật sư tham gia.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, đặc biệt là học thuyết về quyền lực nhà nước thống nhất có sự phân công, phối hợp giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp theo quy định tại Điều 2 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001). Khung lý thuyết của luận văn tập trung vào 4 khái niệm và chế định trọng tâm:
- Quyền công tố: Quyền lực nhà nước nhân danh công quyền thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự, buộc tội người phạm tội và bảo vệ sự buộc tội đó trước Tòa án.
- Thực hành quyền công tố: Tổng hợp các biện pháp tố tụng độc lập do Viện kiểm sát tiến hành trong 3 giai đoạn tố tụng hình sự gồm điều tra, truy tố và xét xử.
- Hoạt động tư pháp: Hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan bổ trợ tư pháp nhằm giải quyết tranh chấp pháp lý và xử lý vi phạm pháp luật theo thủ tục tố tụng nghiêm ngặt.
- Kiểm sát hoạt động tư pháp: Thẩm quyền của Viện kiểm sát theo quy định tại Điều 137 Hiến pháp năm 1992 và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 nhằm kiểm soát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tư pháp trong 4 lĩnh vực: điều tra, xét xử, thi hành án, và tạm giữ, tạm giam.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ hệ thống 5 bản Hiến pháp Việt Nam (1946, 1959, 1980, 1992, 2001), hơn 30 văn bản quy phạm pháp luật, cùng các nghị quyết chuyên đề của Đảng như Nghị quyết số 08-NQ/TW năm 2002 và Nghị quyết số 49-NQ/TW năm 2005.
Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu, tác giả đã thu thập và phân tích 180 báo cáo tổng kết thực tiễn ngành kiểm sát cùng 25 công trình khoa học chuyên sâu giai đoạn từ năm 1992 đến năm 2011. Phương pháp chọn mẫu định ngạch kết hợp chọn mẫu điển hình được áp dụng nhằm bao quát đầy đủ số liệu từ các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự các cấp và các địa phương trọng điểm.
Lý do lựa chọn phương pháp luật học so sánh kết hợp phân tích quy phạm và tổng hợp thực tiễn là nhằm nhận diện rõ sự khác biệt giữa mô hình đại diện công tố thuộc nhánh hành pháp (Anh, Mỹ), mô hình gắn liền với Tòa án (Pháp, Đức) và mô hình cơ quan giám sát pháp luật độc lập (Trung Quốc, Việt Nam). Quá trình nghiên cứu được triển khai liên tục trong timeline 24 tháng từ năm 2009 đến năm 2011.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Quá trình phân tích thực tiễn và lý luận mang lại 4 phát hiện quan trọng:
Thứ nhất, việc ban hành Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 đã tạo bước ngoặt khi chấm dứt chức năng kiểm sát chung (kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực kinh tế - xã hội), giúp ngành dồn 100% nguồn lực vào 2 chức năng trọng tâm là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Tỷ lệ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm trong những năm sau đó tăng khoảng 18% so với giai đoạn trước năm 2002.
Thứ hai, mô hình tổ chức Viện kiểm sát theo đơn vị hành chính 3 cấp (huyện, tỉnh, tối cao) bộc lộ sự bất cập lớn khi không tương thích với định hướng cải cách Tòa án theo thẩm quyền xét xử. Sự phụ thuộc vào địa giới hành chính khiến khoảng 12% các quyết định kháng nghị ở cấp cơ sở gặp rào cản từ các mối quan hệ địa phương.
Thứ ba, cơ chế công tố gắn với hoạt động điều tra chưa thực sự nhuần nhuyễn. Trong thực tế, quyền hạn trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra của Kiểm sát viên chỉ được vận dụng trong khoảng 5% tổng số vụ án có dấu hiệu xâm phạm hoạt động tư pháp hoặc tội phạm tham nhũng nghiêm trọng.
Thứ tư, khảo sát quốc tế cho thấy các nước thông luật như Hoa Kỳ thiết lập 93 văn phòng công tố liên bang tại 93 hạt và áp dụng chế định Đại bồi thẩm đoàn gồm 24 người; Vương quốc Anh có 42 cơ quan công tố khu vực tương ứng với 43 lực lượng cảnh sát; Cộng hòa Liên bang Đức sở hữu 116 văn phòng công tố cấp tỉnh và 25 văn phòng công tố cấp khu vực. Mô hình của Việt Nam khẳng định tính ưu việt khi Viện kiểm sát giữ vị trí cơ quan tư pháp độc lập do Quốc hội bầu, nhưng cần tinh gọn và phân cấp mạnh mẽ hơn.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân của những tồn tại xuất phát từ nhận thức chưa đồng bộ về vị trí quyền lực tư pháp, sự chồng chéo trong các văn bản hướng dẫn tố tụng hình sự, và việc thiếu hụt nguồn lực kiểm sát viên có trình độ cao. Dữ liệu nghiên cứu thực trạng có thể được trực quan hóa thông qua Bảng đối chiếu quyền hạn kiểm sát qua các thời kỳ (1960, 1980, 1992, 2002) và Biểu đồ cột thể hiện tỷ lệ kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm được Hội đồng xét xử chấp nhận, vốn duy trì ở mức trung bình từ 75% đến 82% trong thập niên 2000.
So sánh với các nghiên cứu trước đây của các chuyên gia đầu ngành, luận văn khẳng định không nên chuyển Viện kiểm sát về trực thuộc Chính phủ như mô hình của Pháp hay Mỹ, bởi nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải có một cơ quan độc lập kiểm soát quyền lực tư pháp. Kết quả nghiên cứu là luận cứ trực tiếp chứng minh tính cấp thiết của việc xây dựng hệ thống Viện kiểm sát 4 cấp theo tinh thần Kết luận số 79-KL/TW.
Đề xuất và khuyến nghị
Để đổi mới Viện kiểm sát nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp đến năm 2020, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp mang tính đột phá:
- Hoàn thiện thể chế pháp lý: Viện kiểm sát nhân dân tối cao phối hợp với Quốc hội sửa đổi toàn diện Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 trong giai đoạn 2012-2015. Mục tiêu là chế định hóa đầy đủ thẩm quyền của Kiểm sát viên từ khi thụ lý tin báo tội phạm, đảm bảo 100% các quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam đều được kiểm sát chặt chẽ.
- Thiết lập mô hình tổ chức 4 cấp: Chuyển đổi toàn bộ hệ thống cơ quan kiểm sát theo thẩm quyền xét xử của Tòa án trong lộ trình 2011-2016, bao gồm:
- Viện kiểm sát nhân dân khu vực (trên cơ sở sáp nhập các Viện kiểm sát cấp huyện theo cụm).
- Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
- Viện kiểm sát nhân dân cấp cao (đặt tại 3 miền Bắc, Trung, Nam).
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
- Chuẩn hóa và nâng cao chất lượng đội ngũ Kiểm sát viên: Triển khai quy chế thi tuyển chức danh tư pháp nghiêm ngặt theo tiêu chuẩn tương đương chức danh Thẩm phán. Đặt chỉ tiêu đến năm 2015 có ít nhất 85% cán bộ có trình độ cử nhân luật hệ chính quy và 30% có trình độ thạc sĩ luật học, hướng tới kéo giảm tỷ lệ án trả hồ sơ điều tra bổ sung giữa các cơ quan tố tụng xuống dưới 3%.
- Tăng cường hiện đại hóa cơ sở vật chất: Bộ Tài chính và Viện kiểm sát nhân dân tối cao bố trí ngân sách chuyên biệt hàng năm giai đoạn 2012-2020 để trang bị 100% phòng ghi âm, ghi hình có âm thanh phục vụ hỏi cung, số hóa hồ sơ vụ án và trang bị phương tiện chuyên dùng cho cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nội dung và các kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên chuyên ngành Luật học tại hơn 40 cơ sở đào tạo đại học trên toàn quốc: Cung cấp nguồn tư liệu học thuật hệ thống về môn học Lý luận lịch sử Nhà nước và pháp luật, Luật Tố tụng hình sự và Khoa học kiểm sát.
- Đội ngũ Kiểm sát viên, Điều tra viên và Thẩm phán thuộc hơn 700 đơn vị cơ sở: Nắm vững cơ chế phối hợp tố tụng, giới hạn quyền công tố và các kỹ năng nghiệp vụ nhằm phòng chống oan sai trong giải quyết án hình sự, dân sự.
- Các cơ quan hoạch định chính sách và lập pháp (Ban Chỉ đạo Cải cách Tư pháp Trung ương, Ủy ban Tư pháp của Quốc hội): Tiếp cận khung lý luận và dữ liệu thực chứng phục vụ xây dựng Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân sửa đổi và Đề án đổi mới tổ chức bộ máy tư pháp.
- Giới Luật sư và các tổ chức hành nghề bổ trợ tư pháp với hơn 10.000 luật sư trên toàn quốc: Nâng cao hiểu biết về cơ chế tranh tụng dân chủ, bình đẳng với đại diện Viện kiểm sát tại các phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm.
Câu hỏi thường gặp
Câu hỏi 1: Quyền công tố khác với thực hành quyền công tố như thế nào trong khoa học pháp lý?
Trả lời: Quyền công tố là quyền lực pháp lý trừu tượng thuộc về Nhà nước trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội. Trong khi đó, thực hành quyền công tố là hoạt động thực tế do Viện kiểm sát sử dụng các quyền năng luật định tại Điều 137 Hiến pháp năm 1992 để khởi tố, truy tố và buộc tội bị can, bị cáo trước Tòa án từ giai đoạn điều tra đến khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Câu hỏi 2: Vì sao Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 lại bãi bỏ chức năng kiểm sát chung?
Trả lời: Trước năm 2002, Viện kiểm sát thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quản lý hành chính, kinh tế và xã hội. Việc bãi bỏ chức năng này theo tinh thần đổi mới nhằm tránh chồng chéo với chức năng thanh tra nhà nước, đồng thời tập trung 100% nguồn lực vào việc thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp để phòng chống oan sai.
Câu hỏi 3: Mô hình Viện kiểm sát 4 cấp theo Kết luận số 79-KL/TW được phân định cụ thể ra sao?
Trả lời: Hệ thống 4 cấp gồm có: Viện kiểm sát nhân dân khu vực (tương ứng với Tòa án sơ thẩm khu vực), Viện kiểm sát nhân dân tỉnh/thành phố, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao (thực hành quyền công tố và kiểm sát phúc thẩm, giám đốc thẩm cấp vùng), và Viện kiểm sát nhân dân tối cao (giữ vai trò định hướng chính sách, hướng dẫn nghiệp vụ và giám đốc thẩm).
Câu hỏi 4: Cơ quan công tố Hoa Kỳ có điểm gì khác biệt căn bản so với Viện kiểm sát Việt Nam?
Trả lời: Cơ quan công tố Hoa Kỳ gồm 93 Văn phòng công tố liên bang thuộc nhánh hành pháp (Bộ Tư pháp) và sở hữu đặc quyền tùy nghi truy tố. Ngược lại, Viện kiểm sát Việt Nam là hệ thống cơ quan độc lập do Quốc hội bầu ra, hoạt động theo nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa và kết hợp thực hành quyền công tố với kiểm sát tính hợp pháp của các hoạt động tư pháp.
Câu hỏi 5: Kiểm sát viên có được quyền tự mình tiến hành các biện pháp điều tra vụ án hình sự không?
Trả lời: Theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Kiểm sát viên có quyền trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra như hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, khám nghiệm hiện trường trong trường hợp cần kiểm tra, bổ sung chứng cứ hoặc khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động điều tra của Cảnh sát.
Kết luận
- Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về vị trí độc lập của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công và phối hợp.
- Tổng kết 60 năm lịch sử hình thành và phát triển của ngành, chỉ rõ tính ưu việt cũng như các giới hạn thực tiễn của tổ chức bộ máy Viện kiểm sát giai đoạn từ năm 1992 đến năm 2011.
- Phân tích đối sánh sâu sắc kinh nghiệm của 5 hệ thống công tố trên thế giới, rút ra các giá trị khoa học phù hợp với điều kiện thể chế chính trị nước ta.
- Đề xuất mô hình tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 4 cấp đồng bộ với hệ thống Tòa án theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW và Kết luận số 79-KL/TW của Bộ Chính trị.
- Thiết lập lộ trình 4 nhóm giải pháp khả thi về lập pháp, tổ chức bộ máy, phát triển nhân lực và đầu tư trang thiết bị kỹ thuật số giai đoạn 2011-2020.
Để hiện thực hóa các giải pháp nêu trên, các nhà hoạch định chính sách và cơ quan lập pháp cần nhanh chóng thể chế hóa mô hình 4 cấp vào dự thảo Hiến pháp sửa đổi và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân mới. Hãy tham khảo toàn văn công trình nghiên cứu để nắm bắt đầy đủ hệ thống luận cứ khoa học và giải pháp thực tiễn cho công cuộc cải cách tư pháp tại Việt Nam.