Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong bối cảnh Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số trở thành xu thế tất yếu tác động sâu sắc đến hoạt động quản lý nhà nước. Tại Việt Nam, cải cách hành chính nhà nước đang được triển khai toàn diện qua nhiều giai đoạn: Chương trình tổng thể giai đoạn 2001–2010 (Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg), giai đoạn 2011–2020 (Nghị quyết số 30c/NQ-CP) và hiện nay là giai đoạn 2021–2030 (Nghị quyết số 76/NQ-CP). Trong 6 nội dung trọng tâm của cải cách hành chính (thể chế, thủ tục hành chính, tổ chức bộ máy, chế độ công vụ, tài chính công, xây dựng và phát triển chính phủ điện tử/chính phủ số), cải cách thủ tục hành chính (TTHC) được xác định là khâu đột phá mang tính chiến lược nhằm phục vụ người dân, doanh nghiệp và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Để đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa nền hành chính, việc kết hợp cải cách TTHC với chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ thông tin là đòi hỏi cấp thiết. Đề tài "Thực trạng cải cách thủ tục hành chính theo xu hướng chuyển đổi số ở Việt Nam hiện nay" do sinh viên Phí Hồng Anh thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Trần Thị Hiền (ngành Luật Hành chính, Hà Nội, 2024) tập trung làm rõ thực tiễn triển khai, nhận diện vướng mắc và đề xuất giải pháp hoàn thiện.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

  • Mục đích nghiên cứu: Từ thực tiễn thực hiện cải cách TTHC theo xu hướng chuyển đổi số, chỉ ra sự cần thiết của việc áp dụng các thành tựu khoa học, công nghệ vào quy trình giải quyết TTHC nhằm thúc đẩy tiến trình chuyển đổi số quốc gia.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Đánh giá tình hình và thực trạng cải cách TTHC theo xu hướng chuyển đổi số tại Việt Nam.
    2. Phân tích các chỉ số cải cách hành chính (PAR INDEX) và chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS).
    3. Đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả và chất lượng giải quyết TTHC trong môi trường số.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Thể chế pháp lý quy định về TTHC và cải cách TTHC; trình độ phát triển của khoa học, công nghệ; năng lực nguồn nhân lực; nguồn lực tài chính bảo đảm cho quá trình cải cách TTHC theo xu hướng chuyển đổi số.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận tập trung nghiên cứu kết quả cải cách TTHC trong giai đoạn thực hiện Nghị quyết số 30c/NQ-CP (2011–2020) và các biện pháp, kết quả chuyển đổi số TTHC đang triển khai theo Nghị quyết số 76/NQ-CP (2021–2030) trên phạm vi toàn quốc tính đến đầu năm 2024.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác – Lênin, kết hợp hệ thống khái niệm và khung pháp lý chuyên ngành Luật Hành chính:

  • Khung khái niệm và lý thuyết: Bản chất của chuyển đổi số trong cải cách TTHC là chuyển phương thức ra quyết định từ "dựa trên tài liệu" (án tại hồ sơ) sang "dựa trên dữ liệu" (án tại dữ liệu) theo tiêu chuẩn dữ liệu "đúng, đủ, sạch, sống"; lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Khóa luận vận dụng các lý thuyết về quản lý hành chính công, chính phủ điện tử, chính phủ số cùng các công nghệ nền tảng: Internet vạn vật (IoT), Dữ liệu lớn (Big Data), Điện toán đám mây (Cloud Computing), Chuỗi khối (Blockchain).
  • Khung văn bản pháp luật sử dụng: Nghị quyết số 52-NQ/TW của Bộ Chính trị; Quyết định số 749/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; Quyết định số 06/QĐ-TTg (Đề án 06); Nghị định số 45/2020/NĐ-CP về thực hiện TTHC trên môi trường điện tử; Nghị định số 42/2022/NĐ-CP về cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến; Nghị định số 104/2022/NĐ-CP về bãi bỏ xuất trình sổ hộ khẩu, sổ tạm trú giấy; Luật Công nghệ thông tin (2006); Luật An toàn thông tin mạng (2015); Luật An ninh mạng (2018); Luật Giao dịch điện tử (2023); Luật Viễn thông (2023); cùng hệ thống thông tư quản lý tài chính (Thông tư số 33/2022/TT-BTC, Thông tư số 26/2023/TT-BTC, Thông tư số 09/2023/TT-BTC).

Phương pháp nghiên cứu thực tế:

  • Phương pháp phân tích và bình luận: Làm rõ các quy định pháp luật và yêu cầu thực tiễn đối với quản lý nhà nước khi chuyển đổi số.
  • Phương pháp chứng minh: Sử dụng các số liệu thống kê thực tế, chỉ số cải cách hành chính và chỉ số đo lường sự hài lòng để minh chứng cho các nhận định.
  • Phương pháp diễn dịch, quy nạp và tổng hợp: Khái quát hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn, từ đó tổng hợp thành các nhóm kiến nghị có tính khả thi.

Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo chính thức gồm Báo cáo PAR INDEX 2022, Báo cáo SIPAS 2022 của Bộ Nội vụ; Báo cáo số 1343/VPCP-KSTT ngày 01/3/2024 của Văn phòng Chính phủ; Báo cáo khảo sát 63 cổng dịch vụ công cấp tỉnh năm 2023 của UNDP và Viện Nghiên cứu Chính sách và Phát triển Truyền thông (IPS); Báo cáo kết quả dự án VILG (2017–2023) của Bộ Tài nguyên và Môi trường; Đề tài khoa học mã số 09/2021/ĐTLS-HVHCQG của Học viện Hành chính Quốc gia do TS. Nguyễn Thị Thu Cúc làm chủ nhiệm; số liệu của Cục Kiểm soát TTHC, Tổng cục Thuế và Bộ Khoa học và Công nghệ.


Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO XU HƯỚNG CHUYỂN ĐỔI SỐ Ở VIỆT NAM

Chương này tập trung xác lập cơ sở lý luận và các điều kiện bảo đảm việc chuyển đổi số trong cải cách TTHC:

  • Khái niệm và sự cần thiết: Cải cách TTHC theo xu hướng chuyển đổi số là việc ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin để rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh, thành phần hồ sơ và tối ưu hóa quy trình giải quyết TTHC; đưa dịch vụ công lên môi trường điện tử nhằm giải quyết hai mối quan hệ cốt lõi: (i) Mối quan hệ nội bộ giữa các cơ quan hành chính nhà nước với nhau (thủ tục nội bộ, văn thư, tuyển dụng, ban hành văn bản) và (ii) Mối quan hệ giữa cơ quan nhà nước với cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp (thuế, hải quan, đất đai, đầu tư, y tế). Chuyển đổi số giúp giảm thiểu tiếp xúc trực tiếp, hạn chế tiêu cực, tham nhũng vặt và thực hiện phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng".
  • Mục tiêu đến năm 2025 theo Quyết định số 749/QĐ-TTg:
    • Cung cấp 80% dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 trên nhiều phương tiện truy cập (bao gồm thiết bị di động).
    • Xử lý hồ sơ công việc trên môi trường mạng đạt 90% tại cấp bộ, tỉnh; 80% tại cấp huyện; 60% tại cấp xã.
    • Tích hợp 100% chế độ báo cáo, chỉ tiêu thống kê phục vụ chỉ đạo điều hành trên Hệ thống thông tin báo cáo Chính phủ.
    • Thực hiện 50% hoạt động kiểm tra của cơ quan quản lý qua môi trường số, đưa Việt Nam vào nhóm 70 nước dẫn đầu về Chính phủ điện tử.
  • Các yêu cầu bảo đảm:
    • Yêu cầu thể chế: Thể chế phải đi trước mở đường, tạo hành lang pháp lý an toàn, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, cắt giảm điều kiện kinh doanh và tinh gọn bộ máy biên chế.
    • Yêu cầu khoa học kỹ thuật và nguồn nhân lực: Xây dựng hạ tầng số hiện đại, bảo đảm an ninh mạng và an toàn thông tin cá nhân; phát triển đội ngũ công chức "giỏi về CNTT, giỏi cải cách, giỏi thủ tục, giỏi quản trị".
    • Yêu cầu nguồn lực tài chính: Bố trí ngân sách có trọng tâm, thực hiện theo Nghị định số 42/2022/NĐ-CP và Thông tư số 33/2022/TT-BTC, tránh phân bổ dàn trải.

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ THỰC TIỄN QUÁ TRÌNH CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO XU HƯỚNG CHUYỂN ĐỔI SỐ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chương 2 phân tích thực trạng triển khai qua 4 nội dung chính: (1) Đẩy mạnh thể chế và công nghệ để trực tuyến hóa TTHC; (2) Phát triển hạ tầng số, nền tảng số tích hợp hệ thống dữ liệu; (3) Tăng cường giám sát, bảo đảm an toàn, an ninh mạng; (4) Thay đổi nhận thức của cán bộ, công chức và người dân.

1. Thực trạng pháp luật và thể chế:

  • Kết quả đạt được: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) từng bước được hoàn thiện (Luật CNTT 2006, Luật An toàn thông tin mạng 2015, Luật An ninh mạng 2018, Nghị định số 45/2020/NĐ-CP, Đề án 06, Nghị định số 104/2022/NĐ-CP). Theo Báo cáo số 1343/VPCP-KSTT (01/3/2024), từ năm 2021 đến tháng 02/2024, các bộ, ngành đã cắt giảm, đơn giản hóa 2.905 quy định kinh doanh tại 236 VBQPPL; phân cấp giải quyết 195/699 TTHC (đạt 27,8%) tại 17/21 bộ, cơ quan ngang bộ; đơn giản hóa 658/1.086 TTHC liên quan đến quản lý dân cư (đạt 61%), trong đó có 6 bộ, ngành hoàn thành 100%.
  • Hạn chế: Theo Báo cáo PAR INDEX 2022, tiêu chí "Xây dựng VBQPPL theo chương trình được phê duyệt" đạt điểm trung bình thấp nhất (47,06%) trong các tiêu chí thành phần cải cách thể chế.
Tiêu chí thuộc Chỉ số thành phần "Cải cách thể chế" (PAR INDEX 2022) Giá trị trung bình (%)
Xây dựng VBQPPL theo chương trình được phê duyệt 47,06
Thực hiện Đánh giá tác động (ĐGTĐ) của TTHC trong đề nghị/dự thảo VBQPPL 64,71
Vai trò của bộ đối với sự phát triển của ngành, lĩnh vực 74,11
Tính kịp thời phát hiện và xử lý các bất cập, vướng mắc trong thi hành VBQPPL 83,48
Kiểm tra, xử lý VBQPPL 88,24
Theo dõi thi hành pháp luật 96,47
Rà soát VBQPPL 97,15

2. Thực trạng ứng dụng khoa học kỹ thuật và nguồn nhân lực:

  • Kết quả ứng dụng công nghệ: Triển khai Đề án 06 đã kết nối, tích hợp dữ liệu của 11 bộ, ngành, 4 doanh nghiệp nhà nước và 14 địa phương (gồm hơn 17 triệu thông tin BHXH, gần 78 triệu thông tin công dân với hơn 133 triệu mũi tiêm chủng, hơn 570.000 dữ liệu giáo viên/cán bộ, cấp hơn 7 triệu số định danh cho trẻ em đăng ký khai sinh); cấp mã định danh cá nhân cho 100% công dân, thu nhận hơn 60 triệu hồ sơ cấp thẻ Căn cước công dân gắn chip điện tử và in trả hơn 50 triệu thẻ; vận hành ứng dụng VNeID. Trong lĩnh vực đất đai, 100% Văn phòng Đăng ký đất đai ứng dụng CNTT, 63/63 tỉnh, thành phố triển khai cơ sở dữ liệu đất đai với hơn 42 triệu thửa đất (216/705 cấp huyện hoàn thành); Dự án VILG (3/2017–6/2023) đã kết nối dữ liệu đất đai với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ quan thuế và một cửa điện tử.
  • Hạn chế về kỹ thuật và tiếp cận:
    • Theo Báo cáo SIPAS 2022 (khảo sát 36.095 người): 2/3 người dân vẫn chọn giải quyết TTHC trực tiếp, 1/3 chọn kết hợp, chỉ 1/20 (khoảng 5%) chọn hình thức trực tuyến.
    • Khảo sát của UNDP và Viện IPS (2023) trên 63 cổng dịch vụ công cấp tỉnh: chỉ 3,05% người được phỏng vấn đã lập tài khoản trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia và hơn 1% từng sử dụng để làm TTHC.
    • Theo Cục Kiểm soát TTHC (tính đến tháng 7/2023): Tỷ lệ hồ sơ nộp trực tuyến đạt khoảng 60%, nhưng chỉ có 32% do người dân tự thực hiện, 28% vẫn cần cán bộ hướng dẫn, hỗ trợ trực tiếp.
  • Hạn chế về nguồn nhân lực:
    • Tình trạng cán bộ vừa thừa vừa thiếu, chất lượng chưa đồng đều; tỷ lệ người dân đô thị phản ánh công chức gây phiền hà cao hơn nông thôn 6,25% (SIPAS 2022). Do hạ tầng chưa liên thông hoàn toàn sau khi bỏ sổ hộ khẩu giấy, một số nơi vẫn yêu cầu Giấy xác nhận thông tin về cư trú (thời hạn 30 ngày) gây khó khăn cho người dân.
    • Khảo sát năng lực ngoại ngữ của cán bộ lãnh đạo quản lý tại cơ quan hành chính trung ương (Đề tài của TS. Nguyễn Thị Thu Cúc): 81% có chứng chỉ bậc 3 trở lên nhưng chỉ 9% vị trí việc làm có bản mô tả yêu cầu cụ thể; chỉ số ít đạt bậc 4; gần 50% gặp khó khăn khi tra cứu tài liệu và tham gia hội họp quốc tế; trên 60% gặp khó khăn với thuật ngữ chuyên ngành; chỉ 17% tham gia các khóa học ngoại ngữ trong năm 2019–2020 (8% học phục vụ công việc).
    • PAR INDEX 2022 ghi nhận chỉ số công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức đạt 90,06% nhưng chỉ số đánh giá chất lượng đội ngũ chỉ đạt 78,93%; tiêu chí cán bộ trục lợi cá nhân vẫn còn cao; còn tình trạng đùn đẩy, né tránh trách nhiệm theo Kết luận số 21-KL/TW. Công tác thu hút nhân tài gặp khó khăn (TP. Hồ Chí Minh trong 5 năm không tuyển được sinh viên xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ theo chính sách ưu đãi).

3. Thực trạng đầu tư nguồn lực tài chính:

  • Cơ chế quản lý tài chính thực hiện theo Luật Ngân sách nhà nước, Luật KH&CN, Nghị định số 95/2014/NĐ-CP, Thông tư số 26/2023/TT-BTC, Thông tư số 09/2023/TT-BTC.
  • Các địa phương dành 60–70% kinh phí sự nghiệp KH&CN cho nghiên cứu, ứng dụng. Tổng ngân sách sự nghiệp chi cho đầu tư phát triển KH&CN giai đoạn 2016–2020 tại địa phương là 10.627,7 tỷ đồng (vùng Đông Nam Bộ: 6.544,9 tỷ đồng - 61,58%; Đồng bằng sông Hồng: 1.559,5 tỷ đồng - 14,67%; Nam Trung Bộ: 177,7 tỷ đồng - 1,67%).
  • Trích lập Quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp giai đoạn 2015–2021 đạt trên 23.000 tỷ đồng, giải ngân sử dụng trên 14.000 tỷ đồng (đạt khoảng 60%).
  • Đào tạo: Điển hình tại Bộ Công Thương giai đoạn 2015–2019 đã tổ chức bồi dưỡng cho hơn 24.000 cán bộ, công chức thuộc bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp.

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO XU HƯỚNG CHUYỂN ĐỔI SỐ TẠI VIỆT NAM

Chương 3 đề xuất 2 nhóm giải pháp đồng bộ:

  • Hoàn thiện thể chế và pháp luật: Tiếp tục rà soát, sửa đổi các VBQPPL để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ; xây dựng quy định pháp lý bắt buộc về chia sẻ dữ liệu liên ngành; ban hành quy chế về giá trị pháp lý của hồ sơ, kết quả giải quyết TTHC điện tử; hoàn thiện quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân và an toàn thông tin trong giao dịch công.
  • Nâng cao năng lực kỹ thuật, nguồn nhân lực và tài chính: Nâng cấp hạ tầng Cổng Dịch vụ công Quốc gia và cổng dịch vụ công cấp tỉnh, tối ưu giao diện thân thiện cho người yếu thế (người già, người dân tộc thiểu số); chuẩn hóa bản mô tả vị trí việc làm gắn với khung năng lực số và ngoại ngữ; đổi mới cơ chế tuyển dụng, đãi ngộ để thu hút nhân lực CNTT chất lượng cao vào khu vực công; phân bổ kinh phí khoa học, minh bạch, tránh dàn trải và tăng cường xã hội hóa đầu tư hạ tầng công nghệ.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả chính kèm số liệu thực tế: Khóa luận đã hệ thống hóa bức tranh toàn cảnh về chuyển đổi số trong cải cách TTHC tại Việt Nam đến năm 2024. Phân tích rõ kết quả cắt giảm 2.905 quy định kinh doanh, phân cấp 195/699 TTHC, hoàn thành 61% phương án đơn giản hóa TTHC dân cư; tích hợp hơn 78 triệu dữ liệu công dân, cấp mã định danh 100% và in trả hơn 50 triệu thẻ CCCD gắn chip; kết nối 42 triệu thửa đất vào CSDL quốc gia. Đồng thời, chỉ ra thực trạng chỉ 3,05% người dùng lập tài khoản trên Cổng DVCQG (theo IPS/UNDP) và 60% hồ sơ trực tuyến vẫn cần 28% cán bộ hỗ trợ.
  • Giải pháp và kiến nghị: Đề xuất giải pháp toàn diện trên 4 trụ cột: hoàn thiện thể chế pháp lý kết nối dữ liệu; hiện đại hóa hạ tầng công nghệ thông tin; chuẩn hóa vị trí việc làm và nâng cao kỹ năng số, ngoại ngữ cho công chức; tối ưu hóa phân bổ ngân sách và thu hút vốn xã hội hóa cho công nghệ.
  • Đóng góp của đề tài theo tự nhận định:
    • Về lý luận: Bổ sung hệ thống lý luận khoa học Luật Hành chính về chuyển đổi số trong TTHC, làm rõ bản chất chuyển đổi từ quản trị dựa trên hồ sơ sang quản trị dựa trên dữ liệu số.
    • Về pháp lý: Đánh giá thực trạng hệ thống VBQPPL điều chỉnh dịch vụ công trực tuyến, xác định các điểm nghẽn về tính liên thông và phân cấp thẩm quyền.
    • Về thực tiễn: Cung cấp góc nhìn đa chiều dựa trên các chỉ số định lượng (PAR INDEX, SIPAS, số liệu chuyên ngành), đưa ra các đề xuất cụ thể nâng cao hiệu lực thực thi TTHC số.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi nghiên cứu chủ yếu dựa trên các báo cáo tổng hợp thứ cấp ở cấp độ vĩ mô (PAR INDEX, SIPAS, báo cáo của Văn phòng Chính phủ và các bộ, ngành) và các đợt khảo sát diện rộng tính đến đầu năm 2024; chưa đi sâu khảo sát thực nghiệm chuyên biệt cho từng loại TTHC đặc thù hoặc phân tích sâu sự khác biệt giữa các địa bàn miền núi, vùng sâu vùng xa.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đánh giá tác động sâu rộng của Đề án 06 giai đoạn 2025–2030; phân tích thực tiễn triển khai dịch vụ công trực tuyến toàn trình ở cấp cơ sở (xã, phường); nghiên cứu các mô hình hợp tác công tư (PPP) trong cung cấp hạ tầng công nghệ phục vụ quản trị hành chính công.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật Hành chính, Quản lý công, Quản trị văn phòng, Xây dựng chính quyền nhà nước và Công nghệ thông tin trong khu vực công.
  • Nội dung đáng tham khảo: Phần hệ thống hóa cơ sở pháp lý và các bảng số liệu thực chứng (PAR INDEX 2022, SIPAS 2022, dữ liệu Đề án 06, số liệu đầu tư KH&CN theo vùng miền) cung cấp nguồn cứ liệu phục vụ việc trích dẫn, so sánh và phát triển các đề tài nghiên cứu về hiện đại hóa nền hành chính công.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận nêu các mục tiêu định lượng chủ yếu nào đến năm 2025 theo Quyết định số 749/QĐ-TTg?
Khóa luận chỉ rõ các mục tiêu đến năm 2025 gồm: 80% dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 được cung cấp trên nhiều phương tiện (kể cả di động); tỷ lệ xử lý hồ sơ công việc trên môi trường mạng đạt 90% tại cấp bộ/tỉnh, 80% tại cấp huyện, 60% tại cấp xã; 100% chế độ báo cáo, chỉ tiêu thống kê kết nối trên Hệ thống thông tin báo cáo Chính phủ; 50% hoạt động kiểm tra thực hiện qua môi trường số; đưa Việt Nam vào nhóm 70 nước dẫn đầu về Chính phủ điện tử.

2. Tiêu chí nào thuộc Chỉ số thành phần cải cách thể chế trong Báo cáo PAR INDEX 2022 đạt điểm trung bình thấp nhất?
Theo số liệu Bảng 1 trong khóa luận, tiêu chí "Xây dựng VBQPPL theo chương trình xây dựng pháp luật đã được phê duyệt" có giá trị trung bình thấp nhất trong số các tiêu chí đánh giá cải cách thể chế, chỉ đạt 47,06%.

3. Khóa luận đưa ra những con số cụ thể nào về kết quả triển khai Đề án 06 và CSDL quốc gia về dân cư?
Đề án 06 đã kết nối dữ liệu của 11 bộ/ngành, 4 doanh nghiệp nhà nước và 14 địa phương; tích hợp hơn 17 triệu thông tin BHXH, gần 78 triệu dữ liệu công dân với hơn 133 triệu mũi tiêm chủng, hơn 570.000 dữ liệu cán bộ/giáo viên, cấp hơn 7 triệu số định danh cho trẻ em đăng ký khai sinh; cấp mã định danh cá nhân cho 100% công dân; thu nhận hơn 60 triệu hồ sơ cấp CCCD gắn chip và in trả hơn 50 triệu thẻ đến tay người dân.

4. Khảo sát của UNDP và Viện IPS năm 2023 trên 63 cổng dịch vụ công cấp tỉnh phản ánh thực trạng gì về mức độ sử dụng của người dân?
Khảo sát chỉ ra rằng chỉ có 3,05% số người được phỏng vấn cho biết đã lập hồ sơ người dùng trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia, và chỉ hơn 1% từng thực tế sử dụng Cổng dịch vụ công để làm TTHC.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phí Hồng Anh đã phân tích hệ thống lý luận và thực tiễn về cải cách thủ tục hành chính theo xu hướng chuyển đổi số tại Việt Nam. Thông qua các số liệu thống kê chính thống từ PAR INDEX, SIPAS và kết quả thực hiện Đề án 06, tác giả đã làm rõ những thành tựu về cắt giảm thủ tục, xây dựng cơ sở dữ liệu dân cư và đất đai, đồng thời chỉ ra các điểm nghẽn về hạ tầng công nghệ, tính liên thông thể chế và chất lượng nguồn nhân lực. Công trình đề xuất các nhóm kiến nghị nhằm hoàn thiện thể chế, nâng cấp kỹ thuật và đổi mới công vụ, đóng góp nguồn tài liệu tham khảo cho chuyên ngành Luật Hành chính và thực tiễn hiện đại hóa quản trị nhà nước.