Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về cải cách thủ tục hành chính trong quản lý thuế theo định hướng Nhà nước kiến tạo trên địa bàn cấp tỉnh. Cơ sở lý luận về cải cách thủ tục hành chính trong quản lý thuế theo định hướng Nhà nước kiến tạo trên địa bàn cấp tỉnh. Thực trạng về cải cách thủ tục hành chính trong quản lý thuế theo định hướng Nhà nước kiến tạo tại thành phố Hà Nội. Giải pháp cải cách thủ tục hành chính trong quản lý thuế theo định hướng Nhà nước kiến tạo tại Thành phố Hà Nội.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THEO ĐỊNH HƯỚNG NHÀ NƯỚC KIẾN TẠO TRÊN ĐỊA BÀN CẤP TỈNH 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu trên thế giới 1. Các công trình nghiên cứu về cải cách thủ tục hành chính Ở Pháp, theo cuốn Bách khoa toàn thư Pháp (1994) [59] và sửa đổi năm 1999, thủ tục là: “Thủ tục là toàn bộ những quy tắc phải theo, những phương pháp tiến hành phải thực hiện đối với việc thiết lập một số quyền hay một số tình huống về pháp lý”.
Mặc dù khái niệm trên không nói một cách cụ thể về trình tự, cách thức thực hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện, chủ thể quy định TTHC, nhưng có thể nói, đây là một trong những quan niệm có ảnh hưởng nhiều đến các nghiên cứu về khái niệm thủ tục, TTHC của các nhà khoa học, các nhà luật học ở Việt Nam nhiều năm qua. Bằng chứng là trong các nghiên cứu về Luật hành chính, thuật ngữ hành chính và giáo trình giảng dạy về TTHC của Học viện hành chính ở Việt Nam đều có đề cập và nhắc lại các khái niệm này. Chúng khá ngắn gọn và tương đối đầy đủ, có giá trị thực tế và có tính lịch sử, rất đáng để tham khảo sử dụng trong quá trình nghiên cứu và trình bày các vấn đề về lý luận TTHC. Trong giáo trình về Luật hành chính của Nga (dịch ra tiếng Việt) cũng có một định nghĩa tương tự về TTHC.
Ở Trung Quốc, thì “TTHC có một lịch sử lâu dài., được thiết kế để đảm bảo hiệu quả hành chính. TTHC là trung tâm của quá trình ra quyết định hành chính” [67]. Còn theo Đạo luật TTHC, “TTHC là hành vi hành chính của Luật cơ bản cung cấp cho các cơ quan hành chính các phương pháp hành động hành chính, quy trình, thủ tục, thời hạn, điều chỉnh các cơ quan hành chính và đối tác hành chính trong quản lý hành chính của mối quan hệ xảy ra trong hệ thống chỉ tiêu pháp lý. Các nguyên tắc cơ bản của TTHC bao gồm các nguyên tắc công khai, công bằng, theo nguyên tắc tham gia, các nguyên tắc xem xét, nguyên tắc hiệu quả, nguyên tắc thứ tự, nguyên tắc của chương trình một cách kịp thời.
TTHC làm luật, chống lạm dụng quyền lực công cộng, kiểm soát, bảo vệ nhân quyền, bảo vệ công dân quyền cơ bản và quyền tự do, chuẩn hóa hành vi hành chính, duy trì trật tự cạnh tranh thị trường, chuẩn hóa và đơn giản hóa TTHC”. 10 Trong việc nghiên cứu những vấn đề về CCHC và cải cách TTHC cần phải kể đến cuốn sách của hai tác giả: S. Sundaram thuộc Ngân hàng phát triển châu Á “Phục vụ và duy trì: Cải thiện hành chính công trong một thế giới cạnh tranh” (Nxb Chính trị quốc gia, 2003) [64]. Ở đây, khi đề cập đến tính hiệu quả kinh tế của cải cách TTHC các tác giả cho rằng: “Về mặt tổng thể, quy trình sẽ trở nên vô nghĩa nếu không tính đến hiệu quả, nhưng ngược lại, nếu quá tập trung vào kết quả mà không quan tâm đến việc bảo vệ các quy định công bằng và quy trình đúng đắn thì cũng không thể có những cải thiện bền vững được”.
Đây là một trong những quan điểm cảnh báo rất sâu sắc về quan hệ giữa tính hiệu quả và sự công bằng với tính đúng đắn của pháp luật. Sự thiên lệch cái này có thể sẽ làm hỏng cái kia. Chiavo Campo và P. Sundaram cũng cho rằng: “Bên cạnh số lượng quá dư thừa các quy định ở các nước đang phát triển là tình trạng bừa bãi và mâu thuẫn của các văn bản.
Nhiều văn bản có các quy định bỏ ngỏ và mơ hồ đã buộc công dân phải tuân theo ý muốn chủ quan của các viên chức nhỏ nhen” [64]. Công trình nghiên cứu về cải cách cơ chế quản lý thuế (1) Adam Smith (1776), trong tác phẩm “Bàn về bản chất và nguồn gốc sự giàu có của các dân tộc” thường được gọi tắt là “Của cải của các dân tộc” luận rằng: mỗi loại thuế nên chọn cách thức và thời hạn thích hợp để NNT có được sự thuận tiện. Thời hạn nộp thuế, cách thức thanh toán thuế, số tiền thuế phải trả cần rõ ràng không chỉ đối với NNT mà đối với cả những người khác [36, tr. Việc thu thuế luôn gắn liền với chi phí hành thu, gắn với sự bất tiện, khó chịu và oán hận từ NNT [49].
Tài liệu tập trung đưa ra những nguyên tắc cơ bản xác định các bên có quan hệ giao dịch liên kết, bản chất của giao dịch giữa các bên có quan hệ liên kết và hướng dẫn các phương pháp xác định giá thị trường của giao dịch trong các công ty đa quốc gia dưới cách tiếp cận quản lý thuế. Bên cạnh đó, cách thức, trình tự, thủ tục xác định giá chuyển giao trong những tình huống nghiên cứu cụ thể; phương thức tiếp cận các TTHC thuế để giải quyết tranh chấp về xác định hành vi chuyển giá cũng được phân tích về mặt lý luận và thực tiễn. 11 Đặc biệt, chương 4 phân tích rõ cách tiếp cận quản lý thuế trong việc giải quyết các tranh chấp về chuyển giá có thể xảy ra. Qua đó, khái quát được quy trình, phương pháp kiểm soát và xử lý vi phạm trong chuyển giá của doanh nghiệp theo cơ chế thỏa thuận trước APA.
Đây là nghiên cứu chính thống về chuyển giá và kiểm soát chuyển giá đối với các công ty đa quốc gia và là tài liệu được các nước thành viên OECD tham khảo để xây dựng các quy tắc và chính sách pháp luật về chuyển giá dựa trên những quy tắc được OECD ghi nhận. CK&M (2011), Hướng dẫn xác định giá thị trường trong giao dịch liên kết [50], Nxb Tài chính gồm 6 phần trong dung lượng 277 trang, phân tích các nội dung chính như: phân tích các mối quan tâm của cơ quan thuế trong quản lý thuế các giao dịch liên kết, định nghĩa xác định giá giao dịch nội bộ, phân tích việc chuyển lợi nhuận ra nước ngoài thông qua giao dịch liên kết và phân tích các loại hình giao dịch liên kết nội bộ trong tập đoàn. Nghiên cứu đã phân tích cơ chế kiểm định tính chất, khách quan của giao dịch liên kết, các nguyên tắc giá thị trường khách quan, phân tích tính tương đồng và mức độ có thể so sánh được giữa các giao dịch. Nội dung cũng tập trung phân tích, hệ thống quá trình phát triển các quy định pháp lý về xác định giá giao dịch liên kết trong nội bộ tập đoàn có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam cũng như hướng dẫn lập hồ sơ xác định giá thị trường trong giao dịch liên kết; các tình huống đặc biệt cũng như một số vấn đề liên quan khác đến xác định giá giao dịch liên kết.
Nghiên cứu đã hệ thống hóa những lý luận cơ bản về chuyển giá và quản lý hành vi chuyển giá của cơ quan thuế trên cơ sở áp dụng cơ chế thỏa thuận trước APA và cũng mang tính thực hành cao dành cho các nước đang phát triển thông quan phân tích kinh nghiệm một số nước như Brasil, Trung Quốc, Ấn Độ, Nam Phi. Nghiên cứu khuyến nghị chính phủ các nước đang phát triển có cách tiếp cận tổng thể, hệ thống về chuyển giá, sự hình thành quy định pháp lý về kiểm soát chuyển giá, các nguyên tắc xác định giá thị trường, các phương pháp xác định giá thị trường được chấp nhận rộng rãi theo cơ chế thỏa thuận trước APA bởi các nước OECD. Nghiên cứu cũng phân tích việc áp dụng cơ chế APA tại một số nước như: Brazil, Trung Quốc, Ấn Độ và Nam Phi,. Đặc biệt, nghiên cứu đã phân tích sâu công cụ thanh tra, kiểm tra thuế và cách tiếp cận quản lý để tránh và giải quyết các tranh chấp liên quan 12 đến hành vi chuyển giá.
Bên cạnh đó, nhiều mẫu biểu ở phần phụ lục có giá trị được giới thiệu tham khảo tốt đối với các quốc gia đang phát triển trong quá trình xây dựng các quy định pháp lý kiểm soát chuyển giá dựa trên cơ chế quản lý thuế APA phù hợp với đặc điểm của từng nước cũng như thông lệ quốc tế. European commission (2015), Tax Reforms in EU Member States: 2015 Report, [53] báo cáo đề cập đến cải cách cơ cấu tổ chức của cơ quan thuế được triển khai khi áp dụng cơ chế mới “tự khai, tự nộp thuế” và phát sinh những chức năng quản lý thuế mới. Cụ thể, cơ quan thuế Bulgaria đã thiết lập một giám đốc chuyên môn để phát hiện gian lận thuế trong cơ quan thu thuế quốc gia. Đan Mạch đã xem xét tổng thể cấu trúc hành chính quản lý thuế để củng cố bộ phận kiểm soát và thanh tra, kiểm tra thuế, Cơ quan thuế Cộng Hòa Séc thiết lập lập một “điểm thu thuế duy nhất”, nơi kết hợp việc thu thuế nội địa, thuế, phí hải quan và đóng góp an sinh xã hội.
Croatia đã tổ chức lại cơ quan quản lý thuế, với mục tiêu nâng cao hiệu quả lý thuế trong tình hình mới. Bồ Đào Nha thiết lập đơn vị quản lý rủi ro tuân thủ trong cơ quan thuế và đã triển khai hoạt động, Malta đang có kế hoạch để hoàn thành việc sáp nhập các cục và chi cục thu thuế thành một cơ quan duy nhất, kết hợp quản lý thuế giá trị gia tăng (GTGT) và thuế thu nhập. Romania đã tái cơ cấu cơ quan quản lý thuế quốc gia về quản lý ngân sách, thiết lập một bộ phận mới với chức năng chống gian lận thuế. John Brondolo and Zhiyong Zhang (2016) trong nghiên cứu “Tax Administration Reform in China: Achievements, Challenges, and Reform Priorities” công bố bởi IMF Working Papers [55], nghiên cứu đã phân tích cải cách cơ cấu tổ chức của Cơ quan thuế nhà nước Trung Quốc (SAT).
Trong 20 năm qua, SAT đã thực hiện cải cách và phát triển với các bộ phận mới được tạo ra để thực hiện những mục tiêu ưu tiên trong quản lý thuế.