Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị dự toán trong tiến trình cải cách tài chính công ở Việt Nam" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Hồng Hà, dưới sự hướng dẫn khoa học của người hướng dẫn Bùi Đường Nghiêu tại Học viện Tài chính. Luận án thuộc chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, đi sâu vào lĩnh vực quản lý tài chính công đối với khu vực hành chính và sự nghiệp công lập.

Về tính cấp thiết, tác giả khẳng định cải cách tài chính vừa là đòi hỏi nội tại của việc đổi mới tài chính công, vừa là nội dung trọng tâm trong tiến trình cải cách hành chính nhà nước. Tài chính công giữ vai trò cung cấp và điều tiết nguồn lực cho toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước cũng như việc cung cấp dịch vụ công cho xã hội. Để thực hiện các chủ trương cải cách, hệ thống cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị dự toán tại Việt Nam đã trải qua bốn giai đoạn phát triển:

  • Giai đoạn trước năm 1991: Cơ chế quản lý theo mô hình quan liêu bao cấp, chưa có sự đổi mới.
  • Giai đoạn 1991 - 2000: Giai đoạn dò tìm cơ chế, bắt đầu hình thành các mô hình thí điểm, bước đầu phân biệt khu vực hành chính với khu vực sự nghiệp và tiếp cận khái niệm dịch vụ công.
  • Giai đoạn 2001 - 2005: Xác lập cơ chế đổi mới thế hệ thứ nhất, chính thức hóa bằng văn bản pháp quy với Nghị định số 10/2002/NĐ-CP (cho đơn vị sự nghiệp có thu) và Quyết định số 192/2001/QĐ-TTg (thí điểm khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính).
  • Giai đoạn từ năm 2005 đến nay: Cơ chế quản lý thế hệ thứ hai ra đời với các văn bản chuyên ngành như Nghị định số 115/2005/NĐ-CP (tổ chức khoa học và công nghệ), Nghị định số 130/2005/NĐ-CP (thay thế Quyết định 192/2001/QĐ-TTg cho cơ quan nhà nước), và Nghị định số 43/2006/NĐ-CP (thay thế Nghị định 10/2002/NĐ-CP cho đơn vị sự nghiệp công lập).

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ ra là sau một thời gian thực hiện, hệ thống cơ chế thế hệ thứ hai đã bộc lộ tính chất nửa vời, phân cấp chưa triệt để, tự chủ mang tính hình thức, dẫn đến tình trạng thu nhập thấp, chất lượng dịch vụ thấp và đầu tư dàn trải. Thực tiễn đòi hỏi phải hình thành hệ thống cơ chế quản lý thế hệ thứ ba. Về mặt học thuật, nhận thức về đơn vị dự toán còn thiếu rõ nét; chưa có công trình nghiên cứu toàn diện, đầy đủ về cơ sở lý luận, đặc điểm, vị trí và cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị dự toán trong nền kinh tế.

Mục đích nghiên cứu của đề tài được tác giả xác định và đánh số gồm 3 nội dung:

  1. Hệ thống hóa và làm rõ các vấn đề lý luận về cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị dự toán; làm rõ nội hàm khái niệm quản lý và cơ chế quản lý tài chính; xác định rõ những nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế quản lý tài chính.
  2. Đánh giá và làm rõ thực trạng quản lý tài chính đối với các đơn vị dự toán hiện nay ở nước ta.
  3. Đề xuất được những kiến nghị giải pháp cần thiết, khả thi giúp đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị dự toán trong thời gian tới.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Cơ chế quản lý tài chính.
  • Phạm vi nội dung: Giới hạn trong cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị dự toán ở Việt Nam; không đi vào nghiên cứu cơ chế quản lý tài sản công và cơ chế quản lý đầu tư xây dựng cơ bản.
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu từ khi thực hiện đường lối đổi mới đến nay, trọng tâm tập trung vào việc phân tích, đánh giá hệ thống cơ chế hiện hành.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu khối đơn vị dự toán hành chính nhà nước và khối đơn vị dịch vụ công. Đối với khối sự nghiệp, do giới hạn thời gian, luận án tập trung nghiên cứu trường hợp điển hình tại hai lĩnh vực có quy mô lớn nhất (chiếm trên 30% ngân sách nhà nước và phục vụ lượng người thụ hưởng lớn) là sự nghiệp y tế và sự nghiệp giáo dục.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong phần tổng quan tình hình nghiên cứu, tác giả điểm lại các công trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Bộ Tài chính từ năm 2001 đến thời điểm thực hiện đề tài:

  • Đề tài cấp Bộ năm 2004 của Bộ Tài chính: "Các giải pháp tài chính thúc đẩy các tổ chức khoa học và công nghệ nghiên cứu triển khai chuyển sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp" do PGS. Phạm Ngọc Ánh làm chủ nhiệm. Đề tài tập trung giải pháp thúc đẩy thực hiện Nghị định số 115/2005/NĐ-CP và chuyển đổi mô hình sang doanh nghiệp, nhưng không nghiên cứu cơ chế tài chính đối với các đơn vị dự toán công lập.
  • Đề tài cấp Bộ năm 2010 của Bộ Tài chính: "Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp giáo dục, đào tạo đại học và cao đẳng công lập" do TS. Lê Xuân Trường (Học viện Tài chính) làm chủ nhiệm. Công trình phân tích mô hình tổ chức cung cấp dịch vụ giáo dục đại học, cao đẳng và nội dung cơ chế tự chủ tài chính; tuy nhiên chưa làm rõ khái niệm, đặc điểm của khu vực sự nghiệp công, chưa phân tích nội hàm cơ chế tự chủ, vấn đề giá phí dịch vụ công và phương thức quản lý theo kết quả đầu ra.
  • Đề tài cấp Bộ năm 2010 của Bộ Tài chính: "Tăng cường công tác quản lý tài chính công ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay" do PGS. TS. Trần Xuân Hải (Học viện Tài chính) làm chủ nhiệm. Đề tài tiếp cận ở tầm vĩ mô về phân cấp ngân sách nhà nước, quản lý thu - chi, thâm hụt ngân sách và nợ công, không đi sâu vào cơ chế tài chính áp dụng cho các đơn vị dự toán.
  • Hai đề tài cấp Bộ năm 2010 của Bộ Tài chính do ông Nguyễn Trọng Nghĩa (Vụ Pháp chế - Bộ Tài chính) làm chủ nhiệm gồm: "Cải cách thủ tục hành chính tài chính, các kết quả và định hướng giai đoạn 2011 - 2015" và "Những vấn đề lý luận và thực tiễn hoàn thiện thể chế tài chính giai đoạn 2011 - 2020". Kết quả hai đề tài này mang tính định hướng vĩ mô, được tác giả sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các giải pháp hỗ trợ.
  • Các đề tài cấp Bộ trong danh mục năm 2011 - 2012 đang trong giai đoạn nghiên cứu: "Đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với các cơ sở giáo dục đại học ở Việt Nam giai đoạn 2011 - 2015 và định hướng 2020" do TS. Nguyễn Trường Giang làm chủ nhiệm và "Đổi mới tài chính đơn vị sự nghiệp công và dịch vụ công" do PGS. TS. Phạm Văn Đăng (Học viện Tài chính) làm chủ nhiệm.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết: Trước luận án này, chưa có công trình khoa học nào đề cập một cách toàn diện và đầy đủ các khía cạnh lý luận cũng như thực tiễn về cơ chế quản lý tài chính áp dụng cho toàn bộ hệ thống đơn vị dự toán công lập (bao gồm cả khối hành chính và khối sự nghiệp). Luận án xác định nhiệm vụ hệ thống hóa nền tảng học thuật, phân định bản chất đơn vị dự toán với đơn vị ngân sách, phân tích mối quan hệ giữa tự chủ tài chính với tự chủ nhân sự và định hình khung khổ cơ chế quản lý thế hệ thứ ba.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý thuyết, tác giả tổng hợp và phân tích các quan niệm học thuật kinh điển về quản lý:

  • Fayel xác định quản lý gồm 5 yếu tố cấu thành: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát.
  • Tailor tiếp cận quản lý từ góc độ phương pháp: biết rõ mong muốn người khác làm việc và tìm ra cách làm tốt nhất, kinh tế nhất.
  • Hard Koont định nghĩa quản lý là việc xây dựng và duy trì môi trường giúp con người hoàn thành mục tiêu một cách hiệu quả.
  • Peter F. Druker nhấn mạnh bản chất thực tiễn của quản lý: bản chất nằm ở hành động, kiểm chứng qua thành quả và quyền uy thể hiện ở thành tích.
  • Dalark phân định quản lý giới hạn bởi môi trường bên ngoài, bao gồm quản lý doanh nghiệp, giám đốc, công việc và nhân công.
  • Mary Parker Follett khái quát quản lý là nghệ thuật khiến công việc được hoàn thành bởi người khác.
  • Tác giả dẫn chứng thêm quan điểm thực tiễn của người Nhật ("biết quan hệ quan trọng hơn biết cái gì và biết làm gì") và số liệu của người Mỹ (chi phí thiết lập, khai thông các quan hệ chiếm 25% đến 50% tổng chi phí hoạt động).

Từ đó, luận án đưa ra định nghĩa: Quản lý là tổng hòa các tác động có chủ định của chủ thể quản lý vào quá trình hoạt động của đối tượng bị quản lý theo những cách thức, biện pháp nhất định trong bối cảnh không gian và thời gian xác định nhằm đạt mục tiêu đề ra. Nội hàm quản lý gồm 5 chức năng: hoạch định, tổ chức, bố trí nguồn lực, lãnh đạo/động viên và kiểm soát.

Về cơ chế quản lý tài chính, tác giả truy nguyên từ gốc tiếng Pháp "mécanisme" và định nghĩa của Viện Ngôn ngữ học để xác định: Cơ chế quản lý là tổng thể các quy định quản lý (thành văn hoặc bất thành văn) được thừa nhận và chấp hành bởi các chủ thể trong môi trường quản lý. Cơ chế quản lý tài chính là tổng hòa các quy tắc, phương pháp, công cụ quản lý tài chính được pháp quy hóa trong hệ thống văn bản pháp quy do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều hành hệ thống tài chính quốc gia, ngành hoặc đối tượng cụ thể. Quản lý tài chính đối với đơn vị dự toán được phân định thành quản lý vĩ mô (ban hành thể chế, định hướng chiến lược của Quốc hội, Chính phủ, Bộ Tài chính, chính quyền địa phương) và quản lý vi mô (quản lý thu, chi và điều hành nguồn lực cụ thể tại từng cơ quan, đơn vị).

Về phương pháp nghiên cứu, luận án sử dụng phương pháp luận biện chứng mác-xít làm nền tảng, phối hợp với các phương pháp nghiên cứu cụ thể: tổng hợp, quy nạp, phân tích logic và đối chiếu, kiểm nghiệm qua thực tiễn quản lý. Luận án tập trung phân tích phương pháp dự toán (kế hoạch hóa), không đi sâu nghiên cứu các phương pháp kiểm toán, kế toán và thanh tra giám sát.

Nguồn tư liệu và dữ liệu: Luận án khai thác hệ thống văn bản pháp quy của Nhà nước (Luật Ngân sách nhà nước, các Nghị định số 10/2002/NĐ-CP, 115/2005/NĐ-CP, 130/2005/NĐ-CP, 43/2006/NĐ-CP, Quyết định số 192/2001/QĐ-TTg), các báo cáo tổng kết thực tiễn và số liệu nghiên cứu ngành của Bộ Tài chính cùng các cơ quan quản lý chức năng.

Nội dung chính theo từng chương

Luận án có kết cấu gồm phần mở đầu, 3 chương nội dung, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo.

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý tài chính đối với các đơn vị dự toán (36 trang)

Chương 1 tập trung xây dựng hệ thống khái niệm, tiêu chí phân loại và xác định các nguyên tắc, nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế quản lý tài chính đơn vị dự toán.

Tác giả làm rõ khái niệm đơn vị dự toán xuất phát từ thời kỳ bao cấp tại Việt Nam, chỉ những đơn vị được ngân sách nhà nước cấp kinh phí hoạt động và phải thực hiện việc quản lý theo trình tự dự toán (lập, chấp hành và quyết toán ngân sách). Luận án thiết lập bảng phân biệt giữa đơn vị dự toán và đơn vị ngân sách:

Tiêu chí phân biệt Đơn vị dự toán Đơn vị ngân sách
Bản chất vai trò Là đơn vị thụ hưởng kinh phí từ ngân sách nhà nước. Là mắt xích, cơ quan quản lý nhà nước về ngân sách, thực hiện cấp phát ngân sách.
Cơ cấu hệ thống Chia theo cấp quản lý: Đơn vị dự toán cấp I, cấp II, cấp III và đơn vị cơ sở. Chia theo cấp ngân sách: Ngân sách trung ương và Ngân sách địa phương (tỉnh, huyện, xã).
Chức năng chính Tiếp nhận dự toán, tổ chức chi tiêu, thực hiện nhiệm vụ chuyên môn và quyết toán. Lập dự toán tổng hợp, phân bổ, cấp phát, điều hành và giám sát quỹ ngân sách chung.

Về phân loại đơn vị dự toán, tác giả đưa ra hai cách tiếp cận:

  • Theo loại hình và nhiệm vụ: Gồm khối cơ quan hành chính nhà nước (cung cấp hàng hóa công cộng thuần túy, không có nguồn thu từ sản phẩm quản lý, kinh phí hoạt động do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ) và khối đơn vị sự nghiệp công (cung ứng dịch vụ công cho xã hội - hàng hóa công cộng không thuần túy, có phát sinh nguồn thu sự nghiệp, cung cấp qua hình thức trực tiếp độc quyền, phối hợp công tư hoặc tư nhân).
  • Theo cấp độ phân cấp quản lý: Đơn vị dự toán cấp I (đầu mối trực tiếp nhận dự toán từ cấp có thẩm quyền như Bộ, Sở; không trực tiếp tiêu dùng ngân sách), đơn vị dự toán cấp II (cấp trung gian như Cục, Tổng cục), đơn vị dự toán cấp III và đơn vị cơ sở (đơn vị trực tiếp sử dụng kinh phí, có con dấu và tài khoản riêng).

Riêng đối với các đơn vị sự nghiệp công lập tại Việt Nam, luận án trình bày công thức xác định mức độ tự chủ tài chính đối với kinh phí hoạt động thường xuyên:

$$\text{Mức độ tự chủ tài chính (%)} = \frac{\text{Tổng nguồn thu sự nghiệp (tự chủ)}}{\text{Tổng nhu cầu chi cho hoạt động thường xuyên}} \times 100%$$

Dựa vào công thức, các đơn vị sự nghiệp được phân thành ba nhóm quản lý:

  1. Đơn vị tự bảo đảm chi phí hoạt động: Mức độ tự chủ từ 100% trở lên (tự bảo đảm từ nguồn thu sự nghiệp hoặc đơn đặt hàng của Nhà nước).
  2. Đơn vị tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động: Mức độ tự chủ từ trên 10% đến dưới 100%.
  3. Đơn vị được ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động: Mức độ tự chủ từ 10% trở xuống (đơn vị không có nguồn thu hoặc nguồn thu rất thấp).

Luận án khẳng định bốn yêu cầu bảo đảm hiệu quả quản lý: xác định rõ đối tượng/mục tiêu/phương thức quản lý; phù hợp đặc thù loại hình tổ chức; khai thác đa dạng nguồn lực tài chính; và hài hòa lợi ích giữa các bên liên quan theo nguyên lý cùng thắng. Đồng thời, tác giả xác định năm nhóm nhân tố ảnh hưởng: nhận thức chủ quan của đội ngũ cán bộ quản lý và thực thi; tiến trình cải cách hành chính (với sự tham gia của 4 nhóm chủ thể: lãnh đạo chính trị, nhà quản lý hành chính, chuyên gia/tư vấn, quần chúng nhân dân); cơ cấu tổ chức bộ máy và quan hệ phân cấp (khẳng định phân cấp tài chính chỉ có ý nghĩa khi đi liền với phân cấp quản lý nhân sự và xóa bỏ cơ chế giao chỉ tiêu số lượng dịch vụ); môi trường kinh tế - xã hội; và quy mô nguồn lực tài chính, ngân sách, cơ sở vật chất.

Chương 2: Thực trạng cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị dự toán (66 trang)

Chương 2 đi sâu phân tích thực trạng nguồn lực tài chính, cơ cấu chi tiêu và quy trình quản lý dự toán hiện hành tại các đơn vị dự toán Việt Nam, trọng tâm là khối hành chính và hai ngành sự nghiệp y tế, giáo dục.

Về nguồn tài chính, luận án thống kê 4 nguồn đang tồn tại:

  1. Nguồn kinh phí do ngân sách nhà nước cấp theo dự toán.
  2. Nguồn thu từ cung ứng dịch vụ công (học phí, viện phí, phí, lệ phí, hợp đồng dịch vụ, quảng cáo, bản quyền...).
  3. Nguồn viện trợ, quà biếu, tặng theo quy định pháp luật.
  4. Nguồn khác (vốn vay tín dụng, huy động từ cán bộ viên chức, liên doanh liên kết). Đơn vị hành chính nhà nước thực tế hầu như chỉ có nguồn ngân sách cấp; trong khi đó đơn vị sự nghiệp có hai nguồn chủ yếu là ngân sách nhà nước và nguồn thu sự nghiệp chuyên môn.

Về nội dung chi tiêu, luận án phân định:

  • Chi thường xuyên: Gồm nhóm chi thanh toán cho cá nhân (tiền lương, tiền công, phụ cấp lương, đóng góp theo lương, thu nhập tăng thêm từ kinh phí tiết kiệm); nhóm chi phí nghiệp vụ chuyên môn (văn phòng phẩm, điện nước, thông tin liên lạc, công tác phí, sửa chữa thường xuyên, đào tạo); và nhóm chi khác (bảo hiểm tài sản, hội họp, hỗ trợ đoàn thể).
  • Chi không thường xuyên: Gồm đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố định; chi đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức; kinh phí thực hiện nhiệm vụ nhà nước đặt hàng hoặc đột xuất; và chi cho các hoạt động liên doanh liên kết.

Về phân phối kết quả tài chính tại đơn vị sự nghiệp, phần chênh lệch thu lớn hơn chi thường xuyên sau khi trang trải chi phí và nộp thuế được trích lập và sử dụng theo thứ tự ưu tiên:

  1. Trích lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp (mức tối thiểu 25% số chênh lệch thu lớn hơn chi).
  2. Chi trả thu nhập tăng thêm cho người lao động.
  3. Trích lập Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi và Quỹ dự phòng ổn định thu nhập. Trường hợp số chênh lệch thu lớn hơn chi bằng hoặc nhỏ hơn một lần quỹ tiền lương cấp bậc, chức vụ trong năm thì đơn vị được ưu tiên trả thu nhập tăng thêm trước khi trích lập các quỹ.

Quy trình quản lý theo trình tự dự toán được tác giả khái quát qua 4 bước: (1) Lập dự toán từ cấp cơ sở trở lên; (2) Cấp trên giao số kiểm tra từ trên xuống; (3) Bảo vệ và thảo luận dự toán; (4) Duyệt dự toán và thông báo dự toán được duyệt. Tác giả chỉ rõ thực trạng các cơ chế quản lý thế hệ thứ hai (Nghị định số 130/2005/NĐ-CP và Nghị định số 43/2006/NĐ-CP) vẫn duy trì phương thức cấp phát theo định mức đầu vào, việc phân cấp quản lý tài chính chưa gắn với quyền tự chủ tuyển dụng, tổ chức bộ máy, dẫn đến tình trạng tự chủ hình thức và hạn chế chất lượng cung ứng dịch vụ công.

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị dự toán trong tiến trình cải cách tài chính công ở Việt Nam (38 trang)

Dựa trên các phân tích lý luận và thực trạng, Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đơn vị dự toán theo định hướng xây dựng cơ chế thế hệ thứ ba:

  • Chuyển đổi phương thức phân bổ ngân sách: Thay thế cơ chế cấp phát cào bằng, bình quân theo yếu tố đầu vào bằng cơ chế cấp phát gắn liền với kết quả và chất lượng sản phẩm đầu ra; giảm thiểu các thủ tục kiểm soát hành chính cứng nhắc.
  • Thực hiện đồng bộ phân cấp tài chính với phân cấp nhân sự: Trao quyền tự chủ thực chất cho thủ trưởng đơn vị dự toán về việc sắp xếp bộ máy, tuyển dụng lao động và quyết định thang bảng lương, thu nhập tăng thêm gắn với hiệu quả công việc; xóa bỏ việc giao chỉ tiêu hành chính đối với các dịch vụ sự nghiệp công (như chỉ tiêu tuyển sinh đại học).
  • Hoàn thiện chính sách giá và cơ chế tạo nguồn thu: Từng bước tính đúng, tính đủ chi phí vào giá dịch vụ sự nghiệp công (y tế, giáo dục); minh bạch hóa các khoản thu sự nghiệp, khuyến khích các đơn vị đa dạng hóa nguồn tài chính thông qua liên doanh, liên kết, vay vốn đầu tư nâng cao chất lượng hoạt động.
  • Sắp xếp và chuyển đổi mô hình đơn vị sự nghiệp công lập: Thực hiện rà soát, phân loại đơn vị sự nghiệp; đẩy mạnh chuyển đổi các đơn vị có khả năng tự bảo đảm toàn bộ chi phí sang cơ chế tự chủ hoàn toàn, tự chịu trách nhiệm về tài sản và từng bước chuyển sang mô hình doanh nghiệp khi đáp ứng đầy đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án đã:

  • Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về quản lý tài chính đơn vị dự toán; phân định rõ ràng giữa đơn vị dự toán (chủ thể thụ hưởng ngân sách, quản lý theo trình tự dự toán) và đơn vị ngân sách (chủ thể quản lý, cấp phát ngân sách theo cấp hành chính).
  • Phân tích và chỉ rõ mối quan hệ hữu cơ không thể tách rời giữa tự chủ tài chính với tự chủ về tổ chức bộ máy, biên chế nhân sự và chuyên môn nghiệp vụ. Luận án khẳng định nguyên lý: phân cấp quản lý cán bộ được trao đến đâu thì phân cấp quản lý tài chính mới phát huy giá trị thực chất đến đó.
  • Luận giải cơ sở khoa học của công thức đo lường mức độ tự chủ tài chính và tiêu chí phân nhóm đơn vị sự nghiệp công lập thành 3 nhóm căn cứ trên tỷ lệ bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên.

Về mặt thực tiễn, luận án đã:

  • Đánh giá có hệ thống tiến trình cải cách tài chính công tại Việt Nam qua 4 giai đoạn lịch sử; chỉ rõ giới hạn của cơ chế quản lý thế hệ thứ hai (Nghị định 43/2006/NĐ-CP, Nghị định 130/2005/NĐ-CP) và sự cần thiết khách quan phải thiết lập hệ thống cơ chế quản lý thế hệ thứ ba.
  • Nhận diện chi tiết cơ cấu 4 nguồn tài chính và các nội dung chi tiêu (thường xuyên, không thường xuyên, thứ tự trích lập quỹ sự nghiệp) tại các đơn vị dự toán hành chính và sự nghiệp y tế, giáo dục.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp chuyển dịch phương thức quản lý tài chính từ kiểm soát yếu tố đầu vào sang quản lý theo kết quả đầu ra, mở rộng tự chủ thực chất đi đôi với trách nhiệm giải trình xã hội.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Căn cứ vào tuyên bố về phạm vi và giới hạn do tác giả xác định trong văn bản:

  • Về nội dung nghiên cứu: Luận án không đi sâu nghiên cứu cơ chế quản lý tài sản nhà nước và cơ chế quản lý đầu tư xây dựng cơ bản tại các đơn vị dự toán.
  • Về phạm vi đối tượng: Trong khối đơn vị sự nghiệp công lập, luận án chỉ tập trung nghiên cứu trường hợp điển hình tại hai lĩnh vực là sự nghiệp y tế và sự nghiệp giáo dục. Các lĩnh vực sự nghiệp khác như khoa học và công nghệ, văn hóa, thể thao, sự nghiệp kinh tế, giao thông, thủy lợi chưa được nghiên cứu chi tiết.
  • Về phương pháp quản lý: Luận án chỉ tập trung khảo sát phương pháp dự toán (kế hoạch hóa). Các phương pháp quản lý tài chính quan trọng khác gồm phương pháp kiểm tra, giám sát, kế toán và kiểm toán được tác giả định vị dành cho các công trình nghiên cứu độc lập tiếp theo.

Giá trị tham khảo

Luận án cung cấp giá trị tham khảo chuyên môn cho các nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, các cơ quan quản lý chuyên ngành y tế, giáo dục có thể sử dụng các phân tích thực trạng và kiến nghị của luận án để sửa đổi, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật thay thế các quy định của cơ chế thế hệ thứ hai.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành tài chính công: Luận án là tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu học thuật, giảng dạy các học phần về Quản lý tài chính công, Quản lý tài chính đơn vị hành chính sự nghiệp tại các trường đại học và học viện khối kinh tế.
  • Đội ngũ lãnh đạo và kế toán tại các đơn vị dự toán: Cung cấp góc nhìn hệ thống về quy trình lập dự toán, cơ chế chi trả tiền lương, thu nhập tăng thêm và nguyên tắc phân phối các quỹ nội bộ tại đơn vị.

Câu hỏi thường gặp

1. Đơn vị dự toán khác đơn vị ngân sách ở những điểm cơ bản nào? Theo luận án, đơn vị dự toán là đơn vị thụ hưởng ngân sách nhà nước, được cấp phát kinh phí để hoạt động và phải thực hiện quy trình lập, chấp hành, quyết toán ngân sách. Đơn vị dự toán được chia thành cấp I, cấp II, cấp III và cấp cơ sở. Ngược lại, đơn vị ngân sách là các mắt xích, bộ phận cấu thành hệ thống quản lý nhà nước về ngân sách, chịu trách nhiệm cấp phát và quản lý ngân sách (gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương các cấp tỉnh, huyện, xã).

2. Mức độ tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp được tính toán như thế nào và chia làm mấy nhóm? Mức độ tự chủ tài chính được tính bằng tỷ lệ phần trăm giữa tổng nguồn thu sự nghiệp (tự chủ) chia cho tổng nhu cầu chi cho hoạt động thường xuyên của đơn vị. Căn cứ tỷ lệ này, đơn vị sự nghiệp được chia thành 3 nhóm: nhóm tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên (tỷ lệ từ 100% trở lên), nhóm tự bảo đảm một phần (tỷ lệ từ trên 10% đến dưới 100%), và nhóm được ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí (tỷ lệ từ 10% trở xuống).

3. Bốn giai đoạn cải cách cơ chế quản lý tài chính đơn vị dự toán ở Việt Nam gồm những giai đoạn nào? Tác giả phân chia thành: giai đoạn trước năm 1991 (cơ chế quan liêu, bao cấp); giai đoạn 1991 - 2000 (dò tìm cơ chế, làm quen khái niệm dịch vụ công và thí điểm); giai đoạn 2001 - 2005 (cơ chế thế hệ thứ nhất với Nghị định 10/2002/NĐ-CP và Quyết định 192/2001/QĐ-TTg); và giai đoạn từ năm 2005 đến nay (cơ chế thế hệ thứ hai với các Nghị định 115/2005/NĐ-CP, 130/2005/NĐ-CP, 43/2006/NĐ-CP).

4. Sau khi trang trải chi phí và nghĩa vụ thuế, chênh lệch thu lớn hơn chi tại đơn vị sự nghiệp được phân phối ra sao? Phần chênh lệch thu lớn hơn chi được sử dụng theo thứ tự: trích lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp (mức trích tối thiểu 25%), chi trả thu nhập tăng thêm cho người lao động, và trích lập Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ dự phòng ổn định thu nhập. Trường hợp mức chênh lệch nhỏ hơn hoặc bằng một lần quỹ lương chức vụ/cấp bậc trong năm, đơn vị được ưu tiên trả thu nhập tăng thêm trước khi trích các quỹ.

5. Điều kiện tiên quyết để việc phân cấp quản lý tài chính có hiệu quả thực chất là gì? Luận án kết luận rằng phân cấp quản lý tài chính không thể tách rời việc phân cấp quản lý về nhân sự, tổ chức bộ máy và chuyên môn nghiệp vụ. Phân cấp quản lý tài chính chỉ có ý nghĩa trong phạm vi phân cấp quản lý cán bộ; nếu cấp trên vẫn giao chỉ tiêu hành chính về khối lượng công việc và khống chế quyền quyết định nhân sự thì quyền tự chủ tài chính của đơn vị chỉ mang tính hình thức.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Hồng Hà là công trình nghiên cứu chuyên khảo về cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị dự toán tại Việt Nam trong bối cảnh cải cách tài chính công. Tác giả đã hệ thống hóa các khái niệm học thuật nền tảng, phân biệt rõ bản chất giữa đơn vị dự toán và đơn vị ngân sách, đồng thời phân tích thực trạng cơ chế quản lý thế hệ thứ hai tại khối hành chính cùng hai lĩnh vực sự nghiệp trọng điểm là y tế và giáo dục. Các giải pháp do luận án đề xuất tập trung vào việc chuyển đổi phương thức quản lý sang kết quả đầu ra, trao quyền tự chủ thực chất gắn liền với tổ chức bộ máy và tính đúng, tính đủ giá dịch vụ công, tạo cơ sở cho việc hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính thế hệ tiếp theo ở Việt Nam.