Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH THEO CƠ CHẾ TỰ CHỦ TẠI CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CÔNG LẬP 1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu về cơ chế tự chủ tài chính đối với các tổ chức khoa học công nghệ công lập Tự chủ về tài chính, được giao tài sản để chủ động sử dụng cho nghiên cứu khoa học, sản xuất kinh doanh và phân cấp quản lý cán bộ viên chức là ba vấn đề vướng mắc nhất trong hoạt động của các tổ chức KHCN nhiều năm qua, làm cản trở sự phát triển của tổ chức KHCN và cần phải tháo gỡ. Theo số liệu tổng hợp từ các bộ, ngành, địa phương, tính đến ngày 31/12/2013, trong tổng số 571 tổ chức KHCN công lập có báo cáo, trong đó 435 tổ chức thuộc các bộ, ngành và 136 tổ chức thuộc các địa phương, có 437 tổ chức đã được phê duyệt đề án thực hiện cơ chế tự chủ, đạt 76% (trong đó 249 tổ chức thuộc diện tự trang trải kinh phí hoạt động thường xuyên và 188 tổ chức thuộc diện tiếp tục được Nhà nước bao cấp); 134 tổ chức đang xây dựng và trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt đề án, chiếm 24%. (Nguồn: Báo điện tử Lao động, số 91, ngày 23/4/2014) Như vậy, sau hơn 9 năm, kể từ khi Nghị định 115/2005 có hiệu lực, vẫn còn một số lượng lớn các tổ chức khoa học công nghệ công lập chưa hoặc đang trong chuyển đổi mô hình hoạt động. Chưa kể các tổ chức đã được phê duyệt đề án chuyển đổi mô hình hoạt động những vẫn còn vướng mắc, loay hoay trong cơ chế mới.
Điều này ảnh hưởng đến sự phát triển của tổ chức đó nói riêng và của trình độ phát triển KHCN của nước ta nói chung. Chính vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng, đưa ra giải pháp nhằm tháo gỡ và tìm hướng đi đúng khi chuyển đổi mô hình hoạt động sang cơ chế tự chủ là rất cấp thiết trong giai đoạn hiện nay. Đổi mới cơ chế quản lý tài chính theo hướng tự chủ tại các tổ chức khoa học công nghệ công lập là xu hướng tất yếu và mang tính chiến lược. Đây là một vấn đề 4 z mang tính thời sự, do đó đã có nhiều công trình nghiên cứu, sách, bài báo, tham luận hội thảo,.
liên quan tới vấn đề này, nổi bật trong số đó là các nghiên cứu: - Đề tài “Đổi mới cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp khoa học và công nghệ - Những vấn đề đặt ra” của tác giả Bùi Tiến Dũng, bài đăng trên Tạp chí tài chính số 2/2014. Bài báo đã phân tích các vấn đề cốt lõi trong cơ chế tài chính hiện nay của các đơn vị sự nghiệp khoa học công nghệ công lập và đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện cơ chế tài chính hiện nay. - Đề tài “Chính sách chuyển đổi tổ chức khoa học và công nghệ công lập sang mô hình doanh nghiệp” của tác giả Nguyễn Thị Lê Thu, bài đăng trên Tạp chí Tài chính số 2/2014. Tác giả đã phân tích thực trạng việc chuyển đổi từ mô hình tổ chức khoa học công nghệ công lập sang mô hình doanh nghiệp hiện nay, những thuận lợi và khó khăn trong quá trình chuyển đổi và kiến nghị các giải pháp nhằm đẩy mạnh quá trình chuyển đổi.
- Đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý tài chính theo hướng tự chủ tại các tổ chức khoa học công nghệ trong các trường đại học khối kỹ thuật trực thuộc Bộ giáo dục và đào tạo” của tác giả Nguyễn Văn Bảo, bài đăng trên Tạp chí Khoa học Công nghệ Xây dựng số 14/12-2012. Tác giả đã phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý tài chính tại các Viện, các Trung tâm KHCN trong các trường đại học khối kỹ thuật và đề xuất các giải pháp nhằm đẩy nhanh quá trình chuyển đổi và tăng cường tính tự chủ tài chính trong các đơn vị này. - Đề tài “Quản lý tài chính tại Trung tâm vận tải đối ngoại V75- Bộ ngoại giao theo cơ chế tự chủ tài chính” của tác giả Nguyễn Thành Lê, Luận văn thạc sỹ bảo vệ năm 2013 tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Đề tài đã nghiên cứu cơ sở lý luận và pháp lý về quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập theo cơ chế tự chủ, thực hiện theo nghị định số 43/2006/NĐ-CP và đánh giá thực trạng thực hiện tại Trung tâm vận tải đối ngoại –Bộ ngoại giao, tìm ra điểm mạnh, điểm yếu của công tác quản lý tài chính, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện hơn công tác quản lý tài chính tại đơn vị.
5 z - Đề tài “Đổi mới cơ chế tự chủ tài chính trong trường đại học công lập – Trường hợp trường Đại học Thương Mại” của tác giả Phạm Xuân Tuyển, Luận văn thạc sỹ bảo vệ năm 2014 tại Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà nội. Đề tài nghiên cứu việc triển khai thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại cơ sở giáo dục đào tạo công lập theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP để từ đó đề xuất giải pháp đổi mới, hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính trong trường Đại học công lập, góp phần trong việc đưa ra một cái nhìn tổng quan về tình hình tự chủ trong các trường Đại học công lập nói chung và tự chủ về tài chính của trường Đại học Thương mại. Các đề tài nghiên cứu trên đây đã làm rõ các khung pháp lý, phân tích các thuận lợi, khó khăn, và đề xuất các giải pháp cho việc đổi mới cơ chế tài chính theo hướng tự chủ của các tổ chức KHCN công lập. Đối tượng nghiên cứu được đề cập đến là viện nghiên cứu, các trường đại học, các doanh nghiệp khoa học công nghệ ở nhiều ngành, lĩnh vực.
Tuy nhiên, việc chuyển đổi cơ chế tại mỗi tổ chức khác nhau có những nét đặc thù riêng, chính vì vậy, tác giả đã đặt ra vấn đề cần nghiên cứu cụ thể ở đây là “Quản lý tài chính theo cơ chế tự chủ tại Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng – Bộ Xây dựng”, một đơn vị khoa học công nghệ công lập đang trong những năm đầu tiên thực hiện cơ chế tự chủ tài chính theo Nghị định 115/2005/NĐ- CP.2 Khái quát về cơ chế tự chủ tài chính đối với các tổ chức khoa học công nghệ công lập 1.1 Khái niệm và đặc điểm của tổ chức khoa học công nghệ công lập 1.1 Khái niệm Tổ chức khoa học và công nghệ là tổ chức có chức năng chủ yếu là nghiên cứu khoa học, nghiên cứu triển khai và phát triển công nghệ, hoạt động dịch vụ khoa học và công nghệ, được thành lập và đăng ký hoạt động theo quy định của pháp luật. 6 z Các tổ chức khoa học và công nghệ công lập gồm: các tổ chức nghiên cứu khoa học; tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ, có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng, do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập.2 Đặc điểm của tổ chức khoa học công nghệ công lập Là một đơn vị sự nghiệp có thu của Nhà nước, tổ chức khoa học công nghệ công lập phải thực hiện đồng thời hai chức năng: thực hiện nhiệm vụ khoa học công nghệ và sản xuất kinh doanh. * Về thực hiện nhiệm vụ khoa học công nghệ: - Căn cứ vào định hướng ưu tiên phát triển khoa học và công nghệ của Nhà nước, nhu cầu của xã hội, nhu cầu của doanh nghiệp, chức năng, nhiệm vụ và lĩnh vực hoạt động của mình, các tổ chức khoa học và công nghệ tự xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ và biện pháp tổ chức thực hiện. - Căn cứ vào danh mục các nhiệm vụ khoa học và công nghệ do Bộ Khoa học và Công nghệ, các Bộ, ngành và địa phương công bố hàng năm, các tổ chức khoa học và công nghệ tự quyết định việc tham gia tuyển chọn, đấu thầu thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ của Nhà nước và biện pháp tổ chức thực hiện.
- Các tổ chức khoa học và công nghệ tự quyết định biện pháp tổ chức thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ do các cơ quan nhà nước giao hoặc đặt hàng, đảm bảo chất lượng và tiến độ theo yêu cầu. - Các tổ chức khoa học và công nghệ được quyền: + Ký hợp đồng thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; hợp tác với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để thực hiện các nhiệm vụ của tổ chức khoa học và công nghệ. + Trực tiếp quyết định việc mời chuyên gia, các nhà khoa học nước ngoài vào Việt Nam và cử cán bộ ra nước ngoài công tác. 7 z + Quyết định việc đầu tư phát triển từ vốn vay, vốn huy động các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, từ quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp của tổ chức khoa học và công nghệ * Về hoạt động sản xuất kinh doanh: Về hoạt động sản xuất kinh doanh, các tổ chức khoa học và công nghệ được thực hiện các quyền sau đây: - Sản xuất, kinh doanh hàng hoá, thực hiện các dịch vụ thuộc lĩnh vực hoạt động chuyên môn của tổ chức khoa học và công nghệ và các lĩnh vực khác theo quy định của pháp luật; được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
- Liên doanh, liên kết sản xuất với các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước. Sử dụng tài sản để liên doanh, liên kết hoặc góp vốn liên doanh với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để đầu tư xây dựng, mua sắm máy móc thiết bị phục vụ hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của đơn vị theo quy định hiện hành của nhà nước - Xuất khẩu, nhập khẩu trực tiếp công nghệ và sản phẩm hàng hóa thuộc lĩnh vực hoạt động chuyên môn của tổ chức khoa học và công nghệ theo quy định của pháp luật. - Tham gia đấu thầu thực hiện các hợp đồng sản xuất, cung ứng hàng hóa, dịch vụ phù hợp với lĩnh vực hoạt động chuyên môn của tổ chức khoa học và công nghệ. - Quyết định mua sắm tài sản, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất từ quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, vốn huy động, theo quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt; 1.