Chương 1: Tổng quan về thực thi chính sách phát triển VLX không nung. Chương 2: Thực thi chính sách phát triển VLX không nung trên địa bàn tỉnh Hà Nam Chương 3: Giải pháp hoàn thiện việc thực hiện chính sách phát triển VLX không nung trên địa bàn tỉnh Hà Nam. 7 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VẬT LIỆU XÂY KHÔNG NUNG 1. Vật liệu xây không nung và chính sách phát triển sản xuất và sử dụng vật liệu xây không nung 1.
Vật liệu xây nung và không nung Vật liệu xây dựng là các loại vật liệu được sử dụng trong công trình xây dựng. Vật liệu xây dựng gồm nhiều chủng loại khác nhau như sắt thép, gỗ, bê tông, gạch, đá, cát sỏi… Vật liệu xây là vật liệu dùng để bao che bề mặt công trình, được liên kết bởi các lớp vữa. Phân loại vật liệu xây có hai loại chính theo phương pháp sản xuất là VLX nung và không nung. Khái niệm về vật liệu xây nung: Vật liệu xây nung hay còn gọi là gạch đỏ, là loại VLXD có được độ cứng nhờ phương pháp nung đất sét ở nhiệt độ cao.
Đất sét sau khi được đào lên và trộn với nước, nhồi kỹ cho nhuyễn và được đưa vào khuôn (bằng máy hoặc thủ công) để in ra viên.Viên đất sét được phơi hoặc sấy cho khô và chất vào lò.Nhiên liệu để đốt lò là củi, than đá hoặc khí thiên nhiên được đặt bên dưới lò. Lò được đốt trong nhiều tiếng đồng hồ cho đến khi gạch "chín", chuyển sang màu đỏ hoặc nâu sẫm. Khái niệm về vật liệu xây không nung Vật liệu xây không nung là loại vật liệu dùng trong xây dựng trong đó việc sản xuất/tạo ra chúng không sử dụng nhiệt để nung.Bình thường khi nói đến VLX không nung thì chủ yếu nói đến gạch không nung.Tuy nhiên trên thực tế VLX không nung còn có tấm 3D (panels), thạch cao…Với nhiều ưu thế, VLX không nung đang được chú trọng và khuyến khích phát triển.Đây là xu thế phát triển tất yếu trong xây dựng. 8 Gạch không nung là loại gạch mà sau nguyên công định hình thì tự đóng rắn đạt các chỉ số về cơ học như cường độ nén, uốn, độ hút nước…mà không cần qua nhiệt độ, không phải sử dụng nhiệt để nung nóng đỏ viên gạch nhằm tăng độ bền của viên gạch.
Độ bền của viên gạch không nung được gia tăng nhờ lực ép hoặc rung hoặc cả ép lẫn rung lên viên gạch và thành phần kết dính của chúng. Về bản chất của sự liên kết tạo hình, gạch không nung khác hẳn gạch đất nung. Quá trình sử dụng gạch không nung, do các phản ứng hoá đá của nó trong hỗn hợp tạo gạch sẽ tăng dần độ bền theo thời gian. Tất cả các tổng kết và thử nghiệm trên đã được cấp giấy chứng nhận: Độ bền, độ rắn viên gạch không nung tốt hơn gạch đất sét nung đỏ và đã được kiểm chứng ở tất cả các nước trên thế giới: Mỹ, Đức, Trung Quốc, Nhật Bản.
Gạch không nung ở Việt Nam đôi khi còn được gọi là gạch blốc, gạch bê tông, gạch block bê tông,. tuy nhiên với cách gọi này thì không phản ánh đầy đủ khái niệm về gạch không nung. Mặc dù gạch không nung được dùng phổ biến trên thế giới nhưng ở Việt Nam gạch không nung vẫn chiếm tỉ lệ thấp. Phân loại vật liệu xây không nung Vật liệu xây không nung có các chủng loại sản phẩm là gạch bê tông, gạch bê tông khí chưng áp và không chưng áp và gạch bê tông bọt.
- Gạch bê tông cốt liệu còn được gọi là gạch block. Gạch này được tạo thành từ xi măng, đá mạt và các chất phụ gia khác. Qua quá trình rung ép thủy lực, hoặc ép tĩnh các hạt cốt liệu được lèn chặt trong khuôn thép thành các sản phẩm có hình dạng theo khuôn mẫu, và sau đó dưỡng hộ cho tới khi đạt mác thiết kế. - Gạch bê tông bọt thuộc chủng loại bê tông nhẹ, được làm từ xi măng, tro bay, chất tạo bọt và một số chất phụ gia khác.
Cấu trúc bê tông bọt có dạng tổ ong, với hàng triệu bọt khí li ti, phân bố đồng đều. Bê tông bọt có đặc 9 tính chống thấm rất tốt, hơn hẳn gạch bê tông chưng áp và bê tông cốt liệu. Ngoài ra, còn có khả năng cách âm, cách nhiệt, chống cháy cho các công trình. Nội dung về chính sách phát triển vật liệu xây không nung 1.
Khái niệm về chính sách Hiện nay có rất nhiều nghiên cứu về chính sách và chưa có được sự thống nhất về khái niệm của chính sách. Mỗi nhà nghiên cứu đứng trên khía cạnh sẽ có cách giải thích về chính sách khác nhau, sau đây là một số khái niệm về chính sách tiêu biểu như: - Chính sách là một chuỗi (tập hợp) những hành động có mục đích nhằm giải quyết một vấn đề (Anderson 1984); - Chính sách là những gì mà chính phủ làm, lý do làm, và sự khác biệt nó tạo ra (Dye 1972); - Chính sách là những gì mà chính phủ làm, hoặc bỏ qua không làm (Klein & Marmor 2006); - Chính sách là một hành động mang tính quyền lực nhà nước nhằm sử dụng nguồn lực để thúc đẩy một giá trị ưu tiên (Considine 1994); - Chính sách là một công việc được thực hiện liên tục, bởi những nhóm hoạch định, nhằm sử dụng các thể chế công để kết nối, phối hợp và biểu đạt giá trị họ theo đuổi (Considine 1994); - Chính sách là quá trình mà một xã hội tạo ra và quyết định có tính bắt buộc những hành vi nào được chấp nhận và hành vi nào không (Wheelan 2011); - Chính sách là một phần của khung khổ các ý kiến, mà qua đó, chúng ta được điều chỉnh bởi một cách thức hợp lý, giữa các khía cạnh đa chiều của cuộc sống (Colebatch 2002). Từ điển bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm về chính sách như sau: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính 10 sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó.
Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa. Định nghĩa khác thì “chính sách” là “sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra”. Cũng có một định nghĩa khác, “chính sách là chuỗi những hoạt động mà chính quyền chọn làm hay không làm với tính toán và chủ đích rõ ràng, có tác động đến người dân”. Như vậy, có thể hiểu: Chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình.
Phân tích khái niệm “chính sách” thì thấy: - Chính sách là do một chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra; - Chính sách được ban hành căn cứ vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế; - Chính sách được ban hành bao giờ cũng nhắm đến một mục đích nhất định; nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó; chính sách được ban hành đều có sự tính toán và chủ đích rõ ràng. Trên phương diện lý thuyết, chính sách phát triển VLX không nung được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau. Một chính sách phát triển VLX không nung có phạm vi rộng nhằm vào khuyến khích phát triển các chủng loại VLX không nung, trong khi đó một chính sách phát triển VLX không nung có phạm vi hẹp thì chỉ tập trung vào một loại VLX không nung được lựa chọn theo những tiêu thức nhất định. Như vậy, Chính sách phát triển VLX không nung được hiểu là sự can thiệp trực tiếp hay gián tiếp của Nhà nước và Chính phủ đối với việc phát triển 11 sản xuất và sử dụng VLX không nung thông qua các Nghị định, Quyết định, Thông tư để đạt được mục tiêu phát triển cụ thể về kinh tế, xã hội và môi trường.
Trong đó, mục về kinh tế có thể là phát triển VLX không nung trên cơ sở quy hoạch VLXD phù hợp với địa phương và vùng lãnh thổ và tạo ra sản phẩm VLXD đáp ứng nhu cầu xây dựng; thu hút các thành phần kinh tế trong và ngoài nước, nâng cao hiệu quả sử dụng n guồn lực phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước; tăng trưởng ngành sản xuất công nghiệp, nâng cao giá trị xuất khẩu góp phần phát triển kinh tế - xã hội và chuyển đổi cơ cấu kinh tế của địa phương. Mục tiêu về xã hội có thể là giải quyết việc làm, đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao thu nhập, đời sống và trình độ người lao động. Mục tiêu về môi trường có thể là xử lý nước thải, chất thải và khí thải, giảm việc sản xuất VLX nung gây mất đất nông nghiệp. Quá trình hình thành chính sách phát triển VLX không nung ở Việt Nam Quá trình xây dựng và hoàn thiện luật pháp, chính sách về VLX không nung đã trải qua 4 giai đoạn.
- Giai đoạn I từ năm 2000 đến năm 2005: Đây chính là giai đoạn đầu của việc xây dựng và triển khai một số cơ chế, chính sách phát triển VLX không nung, với việc ra đời Quyết định số 115/2001/QĐ-TTg ngày 01/8/2001 về phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp vật liệu xây dựng Việt Nam. Trong Quyết định chỉ rõ việc lộ trình xóa bỏ sản xuất gạch nung và dần thay thế VLX không nung trong công trình xây dựng. -Giai đoạn II từ năm 2005 đến năm 2009: Quyết định số 121/2008/QĐ-TTg ngày 29/8/2008 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp vật liệu xây dựng Việt Nam đến năm 2020.Tiếp tục nhấn mạnh việc cần thiết phải sử dụng 12 VLX không nung, chấm dứt sản xuất gạch nung thủ công vào năm 2010 trên cả nước. -Giai đoạn III từ năm 2010 đến nay: Trong một thập kỷ vừa qua, Chính phủ đã ban hành một loạt văn bản nhằm thúc đẩy hơn nữa việc phát triển vật liệu xây không nung nhằm thực hiện Chiến lược tăng trưởng xanh của Việt Nam.