Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về quản lý đầu tư XDCB từ NSNN - Bộ Quốc phòng. Phương pháp nghiên cứu Chương 3. Thực trạng quản lý đầu tư XDCB từ NSNN ở Binh chủng Công binh - BQP.
Định hướng và giải pháp tăng cường quản lý đầu tư XDCB từ NSNN ở Binh chủng Công binh - BQP. 4 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐẦU TƢ XDCB TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC - BỘ QUỐC PHÒNG 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Trong vài thập kỉ gần đây, đặc biệt những năm gần đây, các nhà khoa học trong suốt chặng đường xây dựng và phát triển kinh tế đất nước, đã có nhiều nghiên cứu về quản lý đầu tư XDCB từ ngân sách Nhà nước. Tiêu biểu có các công trình sau: Luận án tiến sỹ kinh tế: “Đầu tư phát triển các khu kinh tế - Quốc phòng ở Việt Nam hiện nay”, của tác giả Đỗ Mạnh Hùng, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, năm 2008.
Luận án hệ thống hóa và làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận về đầu tư phát triển khu kinh tế quốc phòng, xây dựng hệ thống tiêu thức đánh giá hiệu quả đầu tư phát triển khu kinh tế quốc phòng. Xác định hiệu quả theo các mục tiêu chính của đầu tư vào khu kinh tế quốc phòng, đó là hiệu quả xóa đói giảm nghèo và hiệu quả an ninh quốc phòng. Đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư vào khu kinh tế quốc phòng. Các giải pháp này được áp dụng cho hoạt động đầu tư vào khu kinh tế quốc phòng và được cụ thể hóa bằng các biện pháp cụ thể cho từng giai đoạn đầu tư: tiền đầu tư, đầu tư và vận hành các kết quả đầu tư.
Luận án tiến sỹ quân sự: “Kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế tạo tiềm lực hậu cần trên địa bàn Quân khu 3”, của tác giả Phạm Tiến Luật, Học viện Hậu cần, năm 2004. Luận án đã phân tích cơ sở lý luận và khảo sát thực trạng kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế tạo tiềm lực hậu cần trên địa bàn Quân khu 3. Đề xuất một số giải pháp kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế tạo tiềm lực hậu cần trên 5 z địa bàn Quân khu 3, nhằm chuẩn bị tốt hơn tiềm lực hậu cần cho quân khu. Dưới góc độ các bài báo khoa học có một số bài như: “Nâng cao hơn nữa chất lượng công tác tài chính, góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ quân sự, quốc phòng năm”, của Đại tướng Phùng Quang Thanh - Uỷ viên Bộ Chính trị - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tạp chí Tài chính quân đội, số 1(69) tháng 1/2008.
Một trong các nội dung quan trọng được đề cập đó là: Việc quản lý sử dụng nguồn thu, quản lý hiện vật, đất đai, công sản vẫn chưa được quan tâm đúng mức, một số đơn vị quản lý các hoạt động làm kinh tế, hoạt động liên doanh liên kết còn lỏng lẻo, gây thất thoát, lãng phí ngân sách, tài sản của nhà nước, quân đội. “Nâng cao chất lượng điều hành ngân sách, đáp ứng yêu cầu hoàn thành các nhiệm vụ của quân đội”, của Thượng tướng Nguyễn Văn Được - Uỷ viên Trung ương Đảng - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tạp chí Tài chính quân đội, số 5 (73) tháng 10/2008. Nội dung thứ nhất công tác quản lý, điều hành ngân sách năm 2008 được đề cập đó là: Cơ quan tài chính phát huy vai trò kiểm tra đôn đốc, tiếp tục chỉ đạo và thực hiện quản lý sử dụng nguồn thu tại các đơn vị. Các chỉ tiêu thu nộp phải được thực hiện kịp thời; việc xin cấp lại để sử dụng nhất thiết phải có nội dung, dự án cụ thể, được Thủ trưởng Bộ Quốc phòng phê duyệt mới thực hiện.
“Khai thác đa dạng các nguồn lực tài chính, xây dựng và đảm bảo dự toán ngân sách năm 2009 hiệu quả, tích cực”, của Thiếu tướng Phạm Quang Phiếu - Cục trưởng Cục Tài chính /Bộ Quốc phòng, Tạp chí Tài chính quân đội số 4 (72) tháng 8/2008. Trong đó có giải pháp khai thác, đa dạng hoá, tập trung cao, huy động tối đa các nguồn lực tài chính để đảm bảo cho nhiệm vụ quân sự, quốc phòng được giao. Bên cạnh các công trình trên, còn có các công trình tiêu biểu sau: - Trong cuốn “Quản lý tài chính trong lĩnh vực đầu tư xây dựng”của tác PGS.Thái Bá Cẩm, NXB Tài chính, năm 2003. Tác giả tập trung nghiên 6 z cứu các dự án lớn và rất lớn được đầu tư từ ngân sách nhà nước, chỉ tập trung phân tích các dự án được đầu tư từ trước năm 2000, đã nêu khá chi tiết về đặc trưng cơ bản của hoạt động đầu tư xây dựng ảnh hưởng đến lãng phí thất thoát, tiêu cực trong đầu tư xây dựng, đã nêu được đặc trưng quản lý chi phí xây dựng công trình dự án, đánh giá một cách tổng quát tình hình đầu tư của nước ta từ giai đoạn đầu đến năm 2000.
Cuốn sách đã nêu lên được một số nguyên nhân của sự thất thoát lãng phí vốn đầu tư xây dựng cơ bản thời kỳ 1991- 2000 đó là: Lãng phí đầu tư do không có quy hoạch hoặc chất lượng quy hoạch thấp, trong chủ trương đầu tư, phê duyệt thiết kế kỹ thuật thi công tổng dự toán, kế hoạch đầu tư, đấu thầu, trong giai đoạn chuẩn bị xây dựng, trong khâu quản lý dự án, quản lý đơn giá, định mức, quyết toán công trình các nguyên nhân được tác giả nêu từ thực trạng của công trình dự án đầu tư xây dựng từ trước năm 2000 bên cạnh đó cũng đề ra một số giải pháp chung như: Quy hoạch phát triển vùng của dự án, phân loại dự án, kiện toàn và nâng cao chất lượng khâu xác định đầu tư, kiện toàn quy chế về thẩm định quyền phê duyệt và uỷ quyền phê duyệt thiết kế kỹ thuật thi công, tổng dự toán đầu tư, lập lại kỷ cương nghiêm ngặt trình tự đầu tư xây dựng cơ bản, kiện toàn công tác quản lý bồi thường, giải phóng mặt bằng, kiện toàn và nâng cao chất lượng công tác giao nhận thầu, đặc biệt là kỷ luật đấu thầu, xây dựng và công khai quy trình kiểm soát thanh toán vốn đầu tư, kiện toàn công tác thẩm tra phê duyệt quyết toán vốn đầu tư hoàn thành. Nhược điểm tác giả chưa lượng hoá được giá trị thất thoát, bên cạnh đó đây là cuốn nghiên cứu trước khi luật xây dựng có ra đời, các chỉ tiêu lượng hoá chưa được áp dụng vào đánh giá dự án, chưa đánh giá hiệu quả của việc đầu tư chỉ tập trung vào những nguyên nhân tồn tại cần khắc phục của việc thực hiện dự án đầu tư trên bình diện cả nước. 7 z - Đi sâu vào giải pháp tài chính nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư từ ngân sách nhà nước có Luận án tiến sĩ kinh tế “Giải pháp tài chính nhằm nâng cao hiệu quả vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Nghệ An” năm 2003. Trong đề tài này tác giả Phan Thanh Mão đã trình bày và phân tích có hệ thống vấn đề lý luận về hiệu quả vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước, phân tích thực trạng vấn đề này ở tỉnh Nghệ An và phần chủ yếu của luận án là tập trung vào các biện pháp để nâng cao hiệu quả vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước.
- Đề tài cấp bộ “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư từ ngân sách nhà nước”năm 2005 của Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương. Đề tài đã đi sâu vào các giải pháp để nâng cao hiệu quả đầu tư từ ngân sách nhà nước và chia thành bốn nhóm chính: nhóm giải pháp tài chính; nhóm giải pháp về con người; nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách quản lý đầu tư từ ngân sách nhà nước; nhóm giải pháp khác. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này đã đưa ra các giải pháp rất chung cho toàn bộ hoạt động quản lý dự án đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước và nâng cao hiệu quả của nó, chưa thể hiện được những giải pháp nào sẽ được áp dụng tập trung cho từng địa phương riêng biệt. - Theo tác giả Nguyễn Công Nghiệp (2009), "Nâng cao hiệu quả quản lý vốn đầu tư từ NSNN ở Việt Nam", Đề tài khoa học cấp Nhà nước, Bộ Tài chính, Hà Nội.
Tác giả khẳng định để nâng cao hiệu quả quản lý vốn đầu tư từ NSNN ở Việt Nam thì cần phải chú ý đến những vấn đề sau, đó là: phải đảm bảo quy hoạch đầu tư, nhằm xác định lĩnh vực cần đầu tư, nhu cầu vốn đầu tư; Thực hiện nghiêm các bước trong quản lý dự án đầu tư: Lập dự án; Thẩm định dự án; Giám sát dự án; Nghiệm thu dự án hoàn thành; Thực hiện tốt khâu giám sát đầu tư. Phan Huy Đường, sách chuyên khảo “Chính sách xã hội - các vấn đề và sự lựa chọn theo hướng phát triển bền vững”, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2015: đã luận chứng đề xuất một số nguyên tắc, tiêu chí huy động nguồn lực tài chính trong đó có nguồn từ ngân sách nhà nước để giải quyết hiệu quả một số lĩnh vực nhằm phát triển bền vững. - Luận án Tiến sỹ của Nguyễn Phương Bắc với chủ đề “Định hướng và giải pháp đầu tư phát triển kinh tế tỉnh Bắc Ninh”, Đại học Kinh tế Quốc dân, năm 2002. Tác giả chủ yếu phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.