Cải Cách Ruộng Đất Tại Kiến An (1955-1957)

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ussh cải cách ruộng đất tại kiến an 1955 1957, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn thiện trong lĩnh vực .

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2010

123
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT Ở KIẾN AN (1955-1956)

1.1. Một số nét về địa lý, lịch sử, con ngƣời Kiến An

1.2. Tình hình chiếm hữu và sử dụng ruộng đất ở Kiến An trƣớc cải cách ruộng đất

1.3. Chủ trƣơng cải cách ruộng đất của Đảng, Chính phủ

1.4. Quá trình thực hiện cải cách ruộng đất

2. CHƯƠNG 2: THỰC HIỆN CÔNG TÁC SỬA SAI, HOÀN THÀNH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT (1956-1957)

2.1. Những sai lầm trong cải cách ruộng đất ở Kiến An

2.2. Chủ trƣơng và biện pháp sửa sai

2.3. Quá trình thực hiện và kết quả công tác sửa sai

2.4. Một số nhận xét và kinh nghiệm lịch sử

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về cải cách ruộng đất tại Kiến An 1955 1957

Cải cách ruộng đất tại Kiến An diễn ra trong bối cảnh lịch sử đặc biệt của Việt Nam. Từ năm 1955 đến 1957, chính quyền đã thực hiện nhiều chính sách nhằm xóa bỏ chế độ chiếm hữu ruộng đất của địa chủ, mang lại quyền lợi cho nông dân. Cuộc cải cách này không chỉ là một bước tiến trong việc giải quyết vấn đề ruộng đất mà còn là một phần quan trọng trong công cuộc xây dựng xã hội mới. Tuy nhiên, quá trình thực hiện cũng gặp nhiều khó khăn và thách thức.

1.1. Lịch sử và bối cảnh xã hội Kiến An trước cải cách

Trước cải cách, Kiến An là một tỉnh nông nghiệp với phần lớn dân số làm nông. Địa chủ chiếm hữu phần lớn ruộng đất, trong khi nông dân phải chịu nhiều áp lực từ sưu thuế và tô tức. Tình hình này đã tạo ra một bối cảnh cần thiết cho cuộc cải cách ruộng đất.

1.2. Mục tiêu và ý nghĩa của cải cách ruộng đất

Mục tiêu chính của cải cách ruộng đất là xóa bỏ chế độ chiếm hữu của địa chủ, phân phối ruộng đất cho nông dân. Điều này không chỉ giúp cải thiện đời sống của nông dân mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương.

II. Những thách thức trong quá trình cải cách ruộng đất tại Kiến An

Mặc dù có nhiều thành tựu, nhưng cải cách ruộng đất tại Kiến An cũng gặp phải không ít thách thức. Các vấn đề như sự kháng cự từ địa chủ, sự thiếu hụt nguồn lực và sự phân hóa trong xã hội đã gây khó khăn cho quá trình thực hiện. Những thách thức này đã ảnh hưởng đến hiệu quả của chính sách cải cách.

2.1. Kháng cự từ địa chủ và các thế lực phản động

Địa chủ và các thế lực phản động đã tìm cách chống lại cải cách, gây ra nhiều khó khăn cho chính quyền. Họ sử dụng nhiều biện pháp để duy trì quyền lực và ảnh hưởng của mình trong xã hội.

2.2. Thiếu hụt nguồn lực và sự phân hóa xã hội

Việc thiếu hụt nguồn lực trong quá trình thực hiện cải cách đã dẫn đến nhiều khó khăn. Sự phân hóa trong xã hội cũng tạo ra những mâu thuẫn, ảnh hưởng đến sự đồng thuận trong cộng đồng.

III. Phương pháp thực hiện cải cách ruộng đất tại Kiến An

Để thực hiện cải cách ruộng đất, chính quyền đã áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Các biện pháp này bao gồm việc tuyên truyền, vận động quần chúng và tổ chức các cuộc họp để giải thích về lợi ích của cải cách. Sự tham gia của nông dân trong quá trình này là rất quan trọng.

3.1. Tuyên truyền và vận động quần chúng

Chính quyền đã tổ chức nhiều hoạt động tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của nông dân về quyền lợi của họ. Việc này giúp tạo ra sự đồng thuận và ủng hộ từ phía quần chúng.

3.2. Tổ chức thực hiện và giám sát

Quá trình thực hiện cải cách được giám sát chặt chẽ để đảm bảo tính công bằng và minh bạch. Các tổ chức địa phương đã đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện và giám sát các chính sách.

IV. Thành tựu và kết quả của cải cách ruộng đất tại Kiến An

Cải cách ruộng đất tại Kiến An đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Nhiều nông dân đã được cấp ruộng đất, cải thiện đời sống và nâng cao vị thế trong xã hội. Tuy nhiên, những thành tựu này cũng đi kèm với những sai lầm cần được rút kinh nghiệm.

4.1. Cấp ruộng đất cho nông dân

Nhiều nông dân đã được cấp ruộng đất, giúp họ có cơ hội phát triển sản xuất và cải thiện đời sống. Điều này đã tạo ra một sự thay đổi tích cực trong xã hội.

4.2. Những sai lầm trong quá trình thực hiện

Mặc dù có nhiều thành tựu, nhưng quá trình cải cách cũng gặp phải những sai lầm nghiêm trọng. Những sai lầm này đã ảnh hưởng đến hiệu quả của chính sách và cần được rút kinh nghiệm cho các cuộc cải cách sau này.

V. Kết luận và bài học từ cải cách ruộng đất tại Kiến An

Cải cách ruộng đất tại Kiến An đã để lại nhiều bài học quý giá cho các cuộc cải cách sau này. Việc nhận diện và khắc phục những sai lầm trong quá trình thực hiện là rất cần thiết để đảm bảo thành công cho các chính sách trong tương lai.

5.1. Bài học về sự đồng thuận trong xã hội

Sự đồng thuận và ủng hộ từ phía quần chúng là yếu tố quyết định cho sự thành công của cải cách. Việc tạo ra sự đồng thuận trong xã hội là rất quan trọng.

5.2. Cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng trước khi thực hiện

Việc chuẩn bị kỹ lưỡng về nguồn lực và chính sách là rất cần thiết để đảm bảo quá trình cải cách diễn ra suôn sẻ và hiệu quả.

22/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Quá trình thực hiện cải cách ruộng đất ở Kiến An (1955-1956). Thực hiện công tác sửa sai, hoàn thành cải cách ruộng đất (1956-1957). 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1.

QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT Ở KIẾN AN (1955-1956) 1. Một số nét về địa lý, lịch sử và con ngƣời Kiến An Địa danh Kiến An bắt đầu có từ năm 1906. Trƣớc đây, năm Minh Mạng thứ 12 (1832), địa bàn Kiến An thuộc phủ Kiến Thuỵ, xứ Hải Dƣơng.1887, Pháp cho lập nha Hải Phòng trên cơ sở tách ra từ tỉnh Hải Dƣơng, bao gồm các huyện: Nghi Dƣơng, An Lão, An Dƣơng (Phủ Kiến Thụy), 2 tổng của huyện Kim Thành cùng 4 xã của huyện Thủy Nguyên.1887, phủ thống sứ Bắc kỳ đặt tỉnh Hải Phòng. Năm 1888, lập thành phố Hải Phòng, tỉnh lỵ Hải Phòng.1898, thành phố Hải Phòng tách ra khỏi tỉnh Hải Phòng, chuyển tỉnh lỵ Hải Phòng sang làng Phù Liễn, và đổi tên thành tỉnh Phù Liễn (5.1906 chuyển thành tỉnh Kiến An.

Từ đó, Hải Phòng là thành phố thuộc địa do ngƣời Pháp trực tiếp cai trị (Tòa Đốc lý), Kiến An là tỉnh bảo hộ vẫn duy trì bộ máy vua quan phong kiến cai trị bên cạnh Tòa Công sứ do ngƣời Pháp nắm quyền. Trong kháng chiến chống Pháp, xuất phát từ thực tiễn đấu tranh của thành phố Hải Phòng cần có sự hỗ trợ và phối hợp chiến đấu với tỉnh Kiến An, ngày 26.1946, đƣợc sự chấp thuận của Trung ƣơng Đảng và Chính phủ, Hải Phòng và Kiến An thực hiện việc hợp nhất thành liên tỉnh Hải Phòng – Kiến An. Đầu năm 1949, Liên tỉnh Hải Phòng – Kiến An lại tách ra thành tỉnh Kiến An và thành phố Hải Phòng. Trong các năm 1952-1953, sau trận càn “Con sứa” (Méduse), tháng 4.1951, Pháp lập tỉnh Vĩnh Ninh (gồm Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, Tứ Kỳ, Ninh Giang, Thuỵ Anh) nhằm tạo vành đai cố thủ cho thành phố Hải Phòng.

Nhƣng chính quyền kháng chiến của ta vẫn giữ nguyên đơn vị hành chính cũ. Kiến An khi đó thuộc Liên khu 3 và có 5 huyện: Tiên Lãng, Hải An, An Lão, An Dƣơng, Kiến Thụy (gồm 89 xã). 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong đó chỉ còn vùng Tiên Lãng là địch không lấn chiếm đƣợc trọn vẹn, các làng xã khác hầu nhƣ thuộc vùng tề, chịu nhiều càn quét.1952, huyện Vĩnh Bảo đƣợc tách ra từ tỉnh Hải Dƣơng và nhập vào Kiến An. Sau hoà bình, ngày 26.1955, huyện Hải An của Kiến An sáp nhập vào thành phố Hải Phòng.

Nhƣ vậy cho đến năm 1955, địa bàn của Kiến An bao gồm 5 huyện: Tiên Lãng, Vĩnh Bảo, An Lão, An Dƣơng, Kiến Thụy (gồm 84 xã).1963, thành phố Hải Phòng và tỉnh Kiến An đƣợc sáp nhập lấy tên gọi là “Thành phố Hải Phòng”, thị xã Kiến An đƣợc giữ nguyên tên và hiện nay là quận Kiến An. Kiến An là một tỉnh nhỏ miền duyên hải với diện tích 900 km2; phía Bắc và Đông Bắc giáp Quảng Yên, phía Tây và Tây Nam giáp Hải Dƣơng, phía Nam giáp Thái Bình, phía Đông giáp biển. Tỉnh lỵ Kiến An cách Thành phố Hà Nội 92 km2 về phía Đông. Kiến An là vùng đồng bằng ven biển, ruộng đất tốt, diện tích ruộng đất toàn tỉnh khoảng 124.

Dân số Kiến An vào thời điểm cải cách ruộng đất là 86.295 hộ với khoảng 368. Phần lớn dân số Kiến An là nông dân, nguồn sống chính là dựa vào ruộng đất, một số nơi có nghề khác nhƣ đánh cá ở Đồ Sơn, nghề làm muối ở Tiêu Ban (Kiến Thụy), lẻ tẻ có những nơi nông dân làm thêm nghề phụ nhƣ dệt vải, làm đồ gốm… Kiến An là nơi gần thành phố Hải Phòng, địa bàn quan trọng nên trƣớc cách mạng và trong thời kỳ kháng chiến đế quốc tập trung lực lƣợng ở đây. Cơ sở Việt Nam quốc dân Đảng cũng có ở một số nơi nhƣ Vĩnh Bảo, Kiến Thụy. Các huyện lẻ tẻ đều có giáo dân, nhiều nhất là ở hai huyện Tiên Lãng, Vĩnh Bảo.

Kiến An là 1 tỉnh có truyền thống cách mạng anh dũng, có cơ sở Đảng, cơ sở cách mạng ngay từ thời kỳ tiền khởi nghĩa. Trƣớc Cách mạng Tháng Tám, nhân dân Kiến An dƣới sự lãnh đạo của Đảng đã tham gia nhiều cuộc 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đấu tranh chống đế quốc nhƣ phong trào đánh Nhật ở Tân Trào (Kiến Thụy), phong trào chống thuế, phá kho thóc Nhật chia cho dân nghèo. Sau Cách mạng, Kiến An là một trong những nơi đầu tiên tiến hành cuộc kháng chiến chống đế quốc Pháp xâm lƣợc ở Bắc bộ. Ba huyện An Lão, An Dƣơng, Kiến Thụy bị địch chiếm sâu.

Các huyện Tiên Lãng, Vĩnh Bảo đến năm 1950 cũng bị chiếm, sau trở thành khu du kích của ta. Trong thời gian kháng chiến, nhân dân Kiến An đã chiến đấu rất kiên cƣờng, đánh bại các trận càn quét lớn nhỏ của địch nhƣ: trận tiêu diệt địch ở Hòn Dáu - Đồ Sơn, trận phá 5 máy bay ở Đồ Sơn, trận đột kích đánh vào thị xã Kiến An, trận chống càn Claudese ở Tiên Lãng… Đặc biệt trong phối hợp với chiến trƣờng Điện Biên Phủ, quân dân Kiến An đã đột nhập phi trƣờng Cát Bi - Hải Phòng, phá hủy hoàn toàn 62 máy bay, tiêu diệt sinh lực địch, góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ. Sau thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ 1954, theo quy định của hiệp định Giơ-ne-vơ, khu tập kết 300 ngày của thực dân Pháp bao gồm: Thành phố Hải Phòng và 4 tỉnh Kiến An, Hải Dƣơng, Quảng Yên, Hòn Gai. Ở Kiến An, lực lƣợng địch tập kết tại thị xã Kiến An, Đồ Sơn và các huyện An Lão, An Dƣơng, Kiến Thụy.

Với hệ thống cảng biển, sân bay (Cát Bi, Kiến An, Đồ Sơn), Hải Phòng – Kiến An trở thành vị trí chiến lƣợc quan trọng nhất trong khu tập kết 300 ngày. Tại đây, các cơ quan quân, dân, chính và binh lính Pháp dồn về chờ xuống tàu vào Nam. Dân số Kiến An tăng vọt do giáo dân từ các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình và các huyện Tiên Lãng, Vĩnh Bảo bị địch dụ dỗ cƣỡng ép vào Nam. Tình hình Kiến An cũng trở nên phức tạp do địa bàn có nhiều đầu mối mật thám, gián điệp, tay sai do địch cài lại.

Các thế lực phản động đang nuôi âm mƣu phá hoại lâu dài sự nghiệp xây dựng miền Bắc. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tình hình trên đặt ra cho Đảng bộ Kiến An nhiệm vụ cấp thiết trƣớc mắt là hàn gắn vết thƣơng chiến tranh, khôi phục kinh tế, ổn định đời sống nhân dân, trên cơ sở đó thực hiện nhiệm vụ còn lại của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân – mang lại quyền sở hữu ruộng đất cho nông dân lao động. Kiến An là một tỉnh nông nghiệp, với trên 90% dân số làm nghề nông. Trƣớc cải cách, ruộng đất tập trung trong tay địa chủ, thực d ân Pháp và nhà chung, nhất là nơi gần bờ biển, có nhiều ruộng sa bồi t hì địa chủ dựa vào thế lực đế quốc để khai khẩn.

Nông dân Kiến An thƣờng không có ruộng đất hoặc thiếu ruộng, lại bị đế quốc, địa chủ phong kiến áp bức bóc lột thậm tệ về sƣu thuế, tô tức, nên đời sống của nông dân vô cùng khổ cực. Sau cách mạng, chính quyền dân chủ nhân dân đƣợc thành lập, một số tên địa chủ cƣờng hào gian ác, tay sai của đế quốc đã bị ta trừ khử. Từ năm 1949, Đảng bộ Kiến An đã phát động quần chúng nhân dân hƣởng ứng chính sách giảm tô của Đảng và Chính phủ. Tuy nhiên việc thực hiện chính sách ruộng đất cũng gặp nhiều khó khăn do đặc điểm của Kiến An là vùng địch chiếm đóng.

Chủ yếu chúng ta mới thực hiện đƣợc ở những vùng du kích dƣới hình thức vận động hiến điền, trƣng vay cứu đói, và từ năm 1953 trở đi mới phát động phong trào đấu tranh giảm tô, giảm tức, rút ruộng công, ruộng đồn điền trong tay địa chủ chia cho nông dân thiếu ruộng. Trải qua thời kỳ kháng chiến, đời sống nông dân đƣợc cải thiện một phần, giai cấp địa chủ cũng phân hóa rõ rệt, một số tên địa chủ có tội ác lớn cũng đã theo Pháp vào Nam. Trong bối cảnh đó, Kiến An đã phát động quần chúng tiến hành cải cách ruộng đất ngay mà không qua phát động giảm tô. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Tình hình chiếm hữu và sử dụng ruộng đất ở Kiến An trƣớc cải cách ruộng đất Từ sau cách mạng Tháng Tám đến trƣớc cải cách ruộng đất, tình hình chiếm hữu và sử dụng ruộng đất của các giai cấp ở Kiến An có nhiều biến chuyển. Giai cấp địa chủ Theo số liệu 12 xã điều tra, tình hình địa chủ Kiến An có sự chuyển biến nhƣ sau: Bảng 1. Biến chuyển thành phần địa chủ ở 12 xã Kiến An qua các thời kỳ [3, 7] Hộ Nhân khẩu Năm Số hộ Tỷ lệ Số NK Tỷ lệ 1945 316 3% 1.776 4% Trƣớc CCRĐ 237 2% 977 2.2% Về thành phần, địa chủ Kiến An có xu hƣớng giảm mạnh từ sau cách mạng tháng Tám đến trƣớc cải cách ruộng đất. Năm 1945, số hộ địa chủ là 316 hộ, chiếm tỷ lệ 3% hộ, và 1.776 nhân khẩu, chiếm 4.

Đến trƣớc cải cách ruộng đất, số hộ địa chủ giảm 79 hộ, còn 237 hộ, chiếm 2% tổng số hộ, gồm 1.172 nhân khẩu, chiếm tỷ lệ 2.2% dân số toàn tỉnh. Mức độ giảm không giống nhau giữa các vùng. Vùng du kích giảm mạnh hơn vùng tạm chiếm (xã Quang Phục – Tiên Lãng giảm 13 hộ, tỷ lệ giảm 48%), vùng tạm chiếm giảm ít hơn (tính riêng 8 xã vùng tạm chiếm ở ba huyện giảm 15 hộ, tỷ lệ giảm 21%). Tỷ lệ địa chủ giữa các xã không đều nhau, có xã địa chủ chiếm tới 4% dân số (nhƣ xã Tân Hƣng - huyện Vĩnh Bảo, xã An Hƣng - huyện An 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Dƣơng); trong khi đó, có xã chỉ chiếm dƣới 1% (xã Tân Trào - huyện Kiến Thuỵ).

Ngoài 12 xã trên, trong tỉnh còn có 1 xã của huyện Tiên Lãng và 2 xã miền biển Đồ Sơn không còn địa chủ nào. Tình hình chiếm hữu và sử dụng ruộng đất của địa chủ cũng có nhiều biến chuyển kể từ sau cách mạng Tháng Tám đến trƣớc cải cách ruộng đất. Năm 1945, tính trong toàn tỉnh, địa chủ chiếm khoảng 31.049 mẫu, chiếm tỷ lệ 24.8% tổng diện tích ruộng đất của địa phƣơng [3,18]. Đi sâu 12 xã điều tra, năm 1945, địa chủ chiếm 6.094 mẫu 9 sào, chiếm tỷ lệ 34% ruộng đất của các xã.

Bình quân mỗi nhân khẩu là 3 mẫu 4 sào.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ