CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH TẠI CƠ QUAN THANH TRA 1. Khái quát về cơ quan thanh tra 1. Khái niệm thanh tra Theo nghĩa hiểu thông thường, thanh tra là: “kiểm soát xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp”. Với nghĩa này, thanh tra bao hàm việc kiểm soát, xem xét và phát hiện ngăn chặn những gì trái với quy định.
Thanh tra là hoạt động của một chủ thể có thẩm quyền: Người làm nhiệm vụ thanh tra, đoàn thanh tra và đặt trong phạm vi quyền hành của một chủ thể nhất định. Theo từng giai đoạn lịch sử, khái niệm về thanh tra cũng được nhận thức khác nhau. Đó là sự phản ánh về mô hình tổ chức các cơ quan nhà nước; về sự kiểm soát đối với hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước: “Thời kỳ phong kiến, ở các triều đại Lý, Trần, Lê có cơ quan “Ngự sử đài”, người đứng đầu là “Quan ngự sử” với chức năng gần giống như cơ quan thanh tra nhà nước hiện nay. Ngự sử đài có nhiệm vụ giúp vua trong việc theo dõi, xem xét các công việc hệ trọng của triều đình.
Quan ngự sử đời nhà Trần có quyền tiền trảm hậu tấu và là chức quan duy nhất có quyền can gián vua. Thời nhà Lê có hàm “Gián nghị đại phu” phong tặng cho bất cứ bề tôi nào dám nói thẳng, nói đúng sự thật, Gián nghị đại phu có quyền đề xuất ý kiến về những việc nhà vua nên làm và can gián nhà vua những việc không nên làm” [18; tr. Ngày nay, khái niệm thanh tra được để cập trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Theo Luật Thanh tra năm 2010, “thanh tra là hoạt động xem xét, đánh giá của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về việc chấp hành chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm phát hiện và xử lý những hành vi vi phạm pháp luật để xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý, phát hiện những sơ hở trong cơ chế, chính sách pháp luật để kiến nghị việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện” [15].
Thanh tra là một chức năng không thể thiếu của hoạt động quản lý, là một khâu của chu trìnhquản lý của Nhà nước. Theo Luật Thanh tra 2022, Thanh tra là “hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan thực hiện chức năng thanh tra đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Hoạt động thanh tra bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành” [16]. Nhìn chung, khái niệm thanh tra có thể được định nghĩa như sau: Thanh tra là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý nhà nước, là việc xem xét, đánh giá, xử lý của cơ quan nhà nước đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, 7 nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Hoạt động thanh tra được thực hiện bởi cơ quan thanh tra chuyên trách hoặc cơ quan có chức năng thanh tra theo một trình tự, thủ tục luật định, nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với Nhà nước các biện pháp khắc phục; phát huy nhân tố tích cực, góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực của hoạt động quản lý nhà nước, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân. Hoạt động thanh tra nhằm phát hiện hạn chế, bất cập trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền có giải pháp, biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Đặc điểm hoạt động thanh tra Một là, thanh tra gắn liền với quản lý nhà nước Thanh tra là một phạm trù lịch sử, thanh tra gắn liền với vai trò của Nhà nước trong kiểm soát nhà nước, kiểm soát xã hội. Chính bản chất của quá trình lao động xã hội đã đòi hỏi tất yếu phải có sự quản lý của Nhà nước để điều hoà những hoạt động đơn lẻ và thực hiện những chức năng chung.
“Thanh tra được xem là một bộ phận hữu cơ của cơ quan quản lý nhà nước, là phương tiện nhận thức của quá trình quản lý nhà nước, giữa quản lý nhà nước và thanh tra là không có khoảng cách. Bởi quản lý nhà nước, quản lý xã hội mà không có thanh tra, xem như không có quản lý” [14]. Hai là, thanh tra là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước Tính quyền lực nhà nước của hoạt động thanh tra có mối liên hệ chặt chẽ với tính quyền uy - phục tùng của quản lý nhà nước. Là một chức năng của quản lý nhà nước, thanh tra phải thể hiện như một tác động tích cực nhằm thực hiện quyền lực của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý.
Nói về quyền lực nhà nước trong quá trình thanh tra cũng có nghĩa là xác định về mặt pháp lý tính chất nhà nước của tổ chức thanh tra. Vì vậy, thanh tra phải được Nhà nước sử dụng như một công cụ có hiệu quả trong quá trình quản lý. Ba là, thanh tra có tính độc lập tương đối Đây là đặc điểm vốn có, xuất phát từ bản chất của thanh tra. Đặc điểm này phân biệt thanh tra với các loại hình cơ quan chức năng khác của bộ máy quản lý nhà nước.
Khác với hoạt động kiểm tra thường do bản thân các cơ quan, tổ chức tự thực hiện, hoạt động thanh tra thường được tiến hành bởi một cơ quan chuyên trách. Ngoài những nhiệm vụ như những cơ quan quản lý nhà nước khác, các cơ quan thanh tra có nhiệm vụ chủ yếu là xem xét, đánh giá một cách khách quan việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức và cá nhân. Cơ quan thanh tra 8 1. Khái niệm cơ quan thanh tra Cơ quan thanh tra là cơ quan được thành lập theo quy định của Luật Thanh tra và quy định khác của pháp luật có liên quan, thực hiện nhiệm vụ thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo quy định của pháp luật.
Chức năng của cơ quan thanh tra Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan thanh tra giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện quản lý nhà nước về công tác thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; tiến hành thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo quy định của pháp luật. Hệ thống cơ quan thanh tra Hệ thống cơ quan thanh tra được phân chia bao gồm: + Cơ quan thanh tra nhà nước (Thanh tra Chính phủ; Thanh tra bộ, cơ quan ngang bộ; Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Thanh tra sở; Thanh tra huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh). + Cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành (một số tổng cục, cục thuộc bộ, chi cục thuộc sở). Như vậy, xét dưới góc độ tổ chức, thanh tra chỉ có một hệ thống thanh tra nhà nước nói chung.
Bên cạnh hệ thống cơ quan thanh tra sẽ xuất hiện thêm cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành. Đó là các cơ quan thực hiện nhiệm vụ QLNN theo ngành, lĩnh vực (bao gồm tổng cục, cục thuộc bộ, chi cục thuộc sở). Cơ quan được giao thực hiện thanh tra chuyên ngành không thành lập cơ quan thanh tra độc lập mà hoạt động ở cơ quan thanh tra chuyên ngành này do người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành thực hiện (là công chức thực hiện nhiệm vụ thanh tra của cơ quan) theo quy định của Luật thanh tra và các quy định pháp luật liên quan. Quy định này sẽ hạn chế việc trùng lắp, chồng chéo trong công tác thanh tra, đồng thời tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động của lực lượng thanh tra chuyên ngành.
Điều 9, Luật Thanh tra quy định cơ quan thực hiện chức năng thanh tra gồm: Một là: Cơ quan thanh tra theo cấp hành chính bao gồm: - Thanh tra Chính phủ; - Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Thanh tra tỉnh); - Thanh tra quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Thanh tra huyện); - Cơ quan thanh tra tại đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do Quốc hội quy định. Hai là: Cơ quan thanh tra theo ngành, lĩnh vực bao gồm: - Thanh tra Bộ, cơ quan ngang Bộ (sau đây gọi chung là Thanh tra Bộ); 9 - Thanh tra Tổng cục, Cục thuộc Bộ và tương đương (sau đây gọi chung là Thanh tra Tổng cục, Cục); - Thanh tra sở. Ba là: Cơ quan thanh tra ở cơ quan thuộc Chính phủ. Bốn là: Cơ quan thanh tra trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cơ quan cơ yếu Chính phủ [16].
Năm là: Cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành. Cải cách hành chính tại cơ quan thanh tra 1. Khái niệm cải cách hành chính, cải cách hành chính tại cơ quan thanh tra 1. Khái niệm cải cách hành chính CCHC nhà nước là hoạt động của các cơ quan HCNN tác động đến các yếu tố cấu thành của nền hành chính nhằm làm thay đổi nền hành chính, giúp cho các cơ quan HCNN hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn, phục vụ nhân dân và xã hội tốt hơn.
CCHC nhà nước chính là hoạt động có ý thức và mục đích của con người nhằm hợp lý hóa, hay khắc phục các khiếm khuyết trong hoạt động hành chính nhà nước. Trên thực tế, chúng ta hay sử dụng thuật ngữ "cải cách hành chính" để chỉ "cải cách hành chính nhà nước" do hành chính thường được gắn chủ yếu với hoạt động của các cơ quan nhà nước, các thể chế chính trị [1 ; tr 2]. CCHC là quá trình thay đổi và điều chỉnh hệ thống quản lý, phương thức hoạt động và cơ cấu tổ chức của các cơ quan nhà nước nhằm làm tăng cường hiệu quả, hiệu lực quản lý và chất lượng các dịch vụ công.