Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Phát triển Chính phủ điện tử ở một số nước - Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam" được thực hiện bởi sinh viên Trần Thị Liên (Lớp Anh 5 K38B, Khoa Kinh tế Ngoại thương, Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội) dưới sự hướng dẫn của Thầy Nguyễn Quang Hiệp vào tháng 11 năm 2003.

Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và sự bùng nổ của mạng Internet cùng thương mại điện tử vào đầu thập niên 2000, vai trò quản lý và điều hành của nhà nước đòi hỏi sự đổi mới căn bản. Phương thức quản lý truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế: bộ máy hành chính cồng kềnh với hàng chục bộ ngành hoạt động phân tán, thủ tục giấy tờ rườm rà, tốn kém thời gian và ngân sách, đồng thời dễ phát sinh tình trạng quan liêu, tiêu cực.

Các nước phát triển trên thế giới đã sớm triển khai chiến lược xây dựng Chính phủ điện tử (E-government) nhằm tái thiết bộ máy hành chính, nâng cao chất lượng dịch vụ công và tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia. Ngược lại, tại Việt Nam năm 2003, thuật ngữ "Chính phủ điện tử" vẫn còn tương đối mới mẻ, chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu trong nước, và các cơ quan nhà nước mới chỉ bắt đầu triển khai các đề án tin học hóa quản lý hành chính. Nhằm giải quyết sự thiếu hụt tài liệu nghiên cứu và cung cấp cơ sở khoa học cho tiến trình hoạch định chính sách, tác giả lựa chọn nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế để rút ra bài học cho Việt Nam.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Văn bản xác định các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số và phân định theo tiến trình sau:

  1. Hệ thống hóa các khái niệm cơ bản, nguồn gốc ra đời, các mô hình tương tác dịch vụ và lợi ích cốt lõi của Chính phủ điện tử đối với quản lý hành chính công.
  2. Phân tích thực trạng và chiến lược phát triển Chính phủ điện tử trên phạm vi toàn cầu, tập trung nghiên cứu sâu kinh nghiệm của ba quốc gia tiêu biểu: Mỹ, Australia và Singapore.
  3. Rút ra các bài học kinh nghiệm, nhận diện các cơ hội và thách thức khi triển khai Chính phủ điện tử ở các nước đi sau.
  4. Khảo sát, đánh giá thực trạng các tiền đề tại Việt Nam (hạ tầng công nghệ thông tin - viễn thông, nhân lực, nhận thức người dân, an toàn thông tin, hệ thống thanh toán).
  5. Đề xuất định hướng chiến lược và các nhóm giải pháp khả thi nhằm từng bước xây dựng Chính phủ điện tử phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Cơ sở lý luận về Chính phủ điện tử, mô hình cung cấp dịch vụ công trực tuyến, chiến lược và thực tiễn phát triển Chính phủ điện tử tại một số quốc gia.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát kinh nghiệm thực tế tại Mỹ, Australia, Singapore; phân tích hiện trạng các tiền đề và ứng dụng bước đầu tại Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung vào giai đoạn khởi phát và tăng tốc của Chính phủ điện tử quốc tế từ cuối thập niên 1990 đến năm 2003 (thời điểm hoàn thành khóa luận).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và khái niệm

Khóa luận sử dụng khung phân tích lý luận về quản trị công hiện đại gắn liền với ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT):

  • Khái niệm Chính phủ điện tử: Tác giả trích dẫn định nghĩa của Sally Katzen (Phó Giám đốc Cơ quan Quản lý và Ngân sách Hoa Kỳ - OMB), theo đó Chính phủ điện tử là việc công dân và doanh nghiệp có thể truy cập thông tin và sử dụng dịch vụ của Chính phủ 24/7 thông qua Internet và các công nghệ tiên tiến nhằm đảm bảo tính nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm. Khóa luận cũng trích dẫn quan điểm của Tổng thống Mỹ George W. Bush về việc ứng dụng Internet để phân quyền cho công dân và tái thiết bộ máy hành chính liên bang.
  • Phân biệt Chính phủ điện tử và Nền dân chủ điện tử (E-democracy): Dựa trên nghiên cứu của Rogers W'O Okot-Uma ("E-democracy: Re-inventing Good Governance"), khóa luận phân biệt rõ: Chính phủ điện tử tập trung vào chức năng cung cấp dịch vụ công trực tuyến, trong khi Nền dân chủ điện tử tập trung vào quy trình, cơ cấu tham gia của cử tri và công dân vào việc ra quyết định chính sách và điều hành xã hội.
  • Mô hình 3 giai đoạn phát triển:
    1. Giai đoạn mở rộng khả năng tiếp cận thông tin công thông qua việc phổ biến trực tuyến văn bản pháp luật, quy định, điều lệ.
    2. Giai đoạn tăng cường sự tương tác và tham gia của người dân qua các diễn đàn đối thoại chính sách.
    3. Giai đoạn cung cấp rộng rãi dịch vụ công và giao dịch hành chính trực tuyến 24/7.
  • Các mô hình quan hệ dịch vụ chính:
    • G2G (Government to Government): Trao đổi dữ liệu và phối hợp nghiệp vụ giữa các cơ quan chính quyền.
    • G2B (Government to Business): Cung cấp thông tin pháp lý, đấu thầu công và thủ tục kinh doanh cho doanh nghiệp.
    • G2C (Government to Citizen): Phục vụ các nhu cầu hành chính cá nhân (thuế, đăng ký xe, cấp hộ tịch, bảo trợ xã hội).
    • G2E (Government to Employee): Quản lý tiền lương và nhân sự trong nội bộ chính phủ.
  • Lý thuyết kiểm soát tham nhũng qua công nghệ: Ứng dụng khung nghiên cứu của Giáo sư Subhash Bhatnagar (Viện Quản trị Ấn Độ) về mối quan hệ giữa tính minh bạch của thông tin điện tử và việc giảm thiểu hành vi nhũng nhiễu hành chính.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp tham khảo và tổng hợp tài liệu: Thu thập, đối chiếu các báo cáo nghiên cứu quốc tế, số liệu thống kê từ các cơ quan chính phủ và các tổ chức độc lập.
  • Phương pháp suy luận logic: Phân tích nguyên nhân - kết quả giữa cải cách hành chính và ứng dụng công nghệ thông tin.
  • Phương pháp so sánh: Đối chiếu chiến lược, lộ trình và kết quả triển khai Chính phủ điện tử giữa các quốc gia công nghiệp phát triển (Mỹ, Australia) và quốc gia công nghiệp mới (Singapore), từ đó so sánh với các điều kiện thực tế tại Việt Nam.

Nguồn dữ liệu

  • Báo cáo toàn cầu Global E-government Full Report (2003) của Darrell M. West (Đại học Brown, Hoa Kỳ), khảo sát 2.166 trang web tại 198 quốc gia.
  • Dữ liệu khảo sát xã hội học của Peter Hart và Robert Teeter (tháng 8/2000 và tháng 1/2001) do Hội đồng Đổi mới Chính phủ Hoa Kỳ (Council for Excellence in Government - CEG) bảo trợ.
  • Báo cáo của Central Internet Unit (2000) về mục tiêu Chính phủ điện tử của nhóm các nước G7.
  • Tài liệu chính thức từ Cơ quan Quản lý và Ngân sách Hoa Kỳ (OMB), Văn phòng Kinh tế Thông tin Quốc gia Australia (NOIE) và Ủy ban Chiến lược Quản lý Thông tin Australia (IMSC).

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Tổng quan về Chính phủ điện tử

Chương I phân tích nguồn gốc hình thành, định nghĩa, các mô hình tương tác và tác động toàn diện của Chính phủ điện tử đối với nền hành chính:

  • Nguyên nhân ra đời: Tác giả phân tích 4 lý do chính thúc đẩy chuyển đổi sang Chính phủ điện tử:
    1. Tiết kiệm chi phí hành chính: Dẫn chứng tại bang Arizona (Mỹ), việc cung cấp dịch vụ đăng ký xe trực tuyến qua cổng web do IBM phát triển từ năm 1996 đã giúp giảm chi phí mỗi giao dịch từ 6,6 USD xuống 1,6 USD, rút ngắn thời gian xử lý xuống còn 2 phút và tiết kiệm cho Sở Giao thông 1,7 triệu USD/năm.
    2. Áp lực cạnh tranh từ khu vực tư nhân: Người dân và doanh nghiệp sau khi trải nghiệm các dịch vụ thương mại điện tử chất lượng cao sẽ đặt ra kỳ vọng tương tự đối với các dịch vụ công của nhà nước.
    3. Tiến bộ công nghệ thông tin và viễn thông: Tạo công cụ kỹ thuật để tinh gọn đầu mối cơ quan tiếp nhận hồ sơ.
    4. Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia: Hạ tầng kỹ thuật số trở thành động lực phát triển kinh tế thế kỷ 21, bổ sung cho hạ tầng vật chất truyền thống.
  • Hai nhân tố thúc đẩy: Toàn cầu hóa (đòi hỏi xử lý các vấn đề xuyên biên giới và hỗ trợ doanh nghiệp cạnh tranh quốc tế) và Thị trường hóa (buộc các cơ quan nhà nước phải đổi mới quy trình theo hướng hiệu quả).
  • Mục tiêu của các nước phát triển: Chương I tổng hợp các cam kết thời gian của các quốc gia G7 và một số nước khác:
Quốc gia Mục tiêu triển khai Chính phủ điện tử
Úc Đến năm 2001, tất cả dịch vụ chính phủ được thực hiện trên mạng
Canada Đến năm 2004, tất cả dịch vụ chính phủ quan trọng được cung cấp trực tuyến
Phần Lan Tới năm 2000, đa số các biểu mẫu được điện tử hóa
Pháp Năm 2000, chính quyền các cấp phổ cập truy cập dịch vụ và thông tin qua mạng
Đức / Ý Đặt ra các mục tiêu triển khai theo từng cấp bộ
Ailen Cung cấp hầu hết các dịch vụ công trên mạng vào cuối năm 2001
Nhật Bản Thủ tục đăng ký, cấp phép đưa lên Internet vào năm tài chính 2003
Singapore Thực hiện các dịch vụ thanh toán điện tử vào năm 2001
Vương quốc Anh 100% dịch vụ công được thực hiện bằng phương thức điện tử vào năm 2005
Mỹ Phổ cập truy cập dịch vụ và thông tin chính phủ qua mạng vào năm 2003
  • Phân biệt Chính phủ điện tử và Chính phủ truyền thống: Khóa luận nhấn mạnh Chính phủ điện tử không đơn thuần là "điện toán hóa" các văn phòng mà là thay đổi phương thức phục vụ sang 24/7/365, không bị giới hạn bởi không gian và tự động hóa các quy trình xử lý.
  • Giá trị minh bạch và chống tham nhũng: Dẫn chứng qua bảng số liệu của GS. Subhash Bhatnagar: dự án đất đai trực tuyến Bhoomi (Karnataka, Ấn Độ), hệ thống đấu thầu điện tử (E-procurement) tại Chile và Philippines, hệ thống quy trình cấp phép trực tuyến OPEN tại Seoul (Hàn Quốc), và hệ thống thu phí tự động tại tỉnh Gujarat (Ấn Độ) giúp tăng doanh thu phí cầu đường gấp 3 lần sau 1 năm nhờ loại trừ tiêu cực.

Chương II: Phát triển Chính phủ điện tử ở một số nước và bài học kinh nghiệm với Việt Nam

Chương II tổng hợp bức tranh toàn cầu năm 2003 và phân tích sâu các mô hình điển hình:

  • Thực trạng toàn cầu (theo nghiên cứu của Darrell M. West, 9/2003):
    • Khảo sát 2.166 website tại 198 quốc gia cho thấy: 16% website đã cung cấp dịch vụ trực tuyến (tăng từ mức 12% năm 2002); 89% cung cấp ấn phẩm; 73% cho phép liên kết CSDL; 75% sử dụng tiếng Anh; 51% là website đa ngôn ngữ.
    • Về mức độ giao dịch: 9% website cung cấp 1 dịch vụ, 3% cung cấp 2 dịch vụ, 4% cung cấp từ 3 dịch vụ trở lên, và 84% chưa cung cấp dịch vụ tương tác. Chỉ có 2% website chấp nhận thanh toán bằng thẻ tín dụng và 0,1% chấp nhận chữ ký số.
    • Bảng tỷ lệ website chính phủ cung cấp dịch vụ trực tuyến theo khu vực (2001 - 2003):
Khu vực Năm 2001 (%) Năm 2002 (%) Năm 2003 (%)
Bắc Mỹ 28 41 45
Châu Á 12 26 26
Trung Đông 10 15 24
Tây Âu 9 10 17
Quốc đảo Thái Bình Dương 19 14 17
Nam Mỹ 3 7 14
Trung Mỹ 4 4 9
Đông Âu -- 2 6
Châu Phi 2 2 5
Nga và Trung Á 2 1 1
  • Mức độ bảo vệ thông tin cá nhân: Tỷ lệ trang web chính phủ có chính sách bảo mật thông tin cá nhân cao phân hóa lớn giữa các nước: Singapore đạt 90%, Canada 65%, Mỹ 62%, Úc 39%, Anh 30%, New Zealand 21%, Nhật Bản 15%, Đài Loan 12%.

  • Điểm chỉ số phát triển Chính phủ điện tử: Singapore dẫn đầu với 46,3 điểm, tiếp theo là Thổ Nhĩ Kỳ (38,7), Vatican (36,8), Cộng hòa Séc (33,x). Bốn quốc gia dẫn đầu thế giới gồm Singapore, Mỹ, Canada và Australia.

  • Kinh nghiệm phát triển tại Mỹ:

    • Bối cảnh: Bộ máy hành chính liên bang gồm 14 bộ với khoảng 3 triệu công chức. Sáng kiến phát triển bắt đầu mạnh mẽ từ tháng 11/1999 qua dự án của tổ chức phi chính phủ CEG. Ngày 18/7/2001, Giám đốc OMB Mitchell E. Daniels thành lập Nhóm thực hiện Chính phủ điện tử.
    • Chiến lược: Đặt trọng tâm vào nguyên tắc phục vụ người dân, tiêu chuẩn hóa việc truy cập thông tin và dịch vụ công qua nguyên tắc "3 lần nhấp chuột" (3 clicks).
    • Thực trạng sử dụng: 63% người dân Mỹ sử dụng Internet (31% dùng cho công việc, 35% dùng thường xuyên). 66% người dùng mạng đã từng truy cập ít nhất một website chính phủ. Tỷ lệ các tính năng trên website chính phủ Mỹ gồm: Cung cấp tài liệu (83%), Thông tin (72%), Dịch vụ (66%), Bình luận về hoạt động chính phủ (64%), Cung cấp máy móc/thiết bị (58%), Tải phần mềm (37%).
    • Các hệ thống tiêu biểu: Cổng thông tin FirstGov.gov (kết nối 22.000 website với 186 triệu trang thông tin, tăng lượng truy cập từ 5 triệu lượt năm 2001 lên 28 triệu lượt năm 2002); IRS Free Filing (cho phép 78 triệu người nộp tờ khai thuế miễn phí); Regulations.gov (tiết kiệm 94 triệu USD trong quy trình xây dựng văn bản luật); E-Payroll (hợp nhất từ 22 cơ quan quản lý lương xuống còn 2 cơ quan là DoD/GSA và USDA/DOI, dự kiến tiết kiệm 1,2 tỷ USD trong 10 năm); GoLearn.gov, BusinessLaw.gov, USA.gov, Recreation.gov, GovBenefits.gov.
  • Kinh nghiệm phát triển tại Australia:

    • Lộ trình: Năm 1997, Thủ tướng John Howard công bố kế hoạch hiện đại hóa kinh tế với mục tiêu đưa toàn bộ dịch vụ chính phủ lên mạng vào tháng 9/2001; đến tháng 2/2002, Australia chính thức công bố hoàn thành mục tiêu này.
    • Quản trị thực hiện: Giao cho Ủy ban Chiến lược Quản lý Thông tin (IMSC) cùng Ủy ban Giám đốc Thông tin (CIO) điều phối.
    • Chiến lược tháng 11/2002: Đặt ra 5 trụ cột chính gồm: Nâng cao hiệu quả đầu tư công; Đảm bảo sự thuận tiện tối đa cho người dùng; Thiết kế dịch vụ theo nhu cầu của công dân/doanh nghiệp thay vì cơ cấu bộ máy; Tích hợp, nhóm các dịch vụ liên quan vào một giao dịch duy nhất; và Tăng cường sự tham gia của công dân nhằm củng cố lòng tin vào chính phủ.
  • Kinh nghiệm Singapore và bài học chung: Phân tích mô hình quản lý tập trung và chiến lược đầu tư bài bản của Singapore; tổng kết nhóm cơ hội (tăng tốc độ xử lý, giảm chi phí, nâng cao tính giải trình) và thách thức (bảo mật dữ liệu, nguy cơ khoảng cách số, chuyển đổi thói quen của đội ngũ công chức).

Chương III: Định hướng và giải pháp phát triển Chính phủ điện tử ở Việt Nam

  • Đánh giá các tiền đề tại Việt Nam (năm 2003):
    • Hạ tầng CNTT - viễn thông: Dung lượng đường truyền và mạng lưới viễn thông còn hạn chế, mật độ máy tính và thuê bao Internet trên đầu người còn rất thấp.
    • Nguồn nhân lực: Thiếu hụt đội ngũ chuyên gia công nghệ thông tin chất lượng cao trong các cơ quan quản lý nhà nước; kỹ năng ứng dụng máy tính của phần lớn cán bộ, công chức còn ở mức cơ bản.
    • Nhận thức xã hội: Đa số người dân chưa tiếp cận Internet, chưa hiểu rõ khái niệm và lợi ích của dịch vụ công trực tuyến.
    • Vấn đề bảo mật và pháp lý: Chưa hoàn thiện khung khổ pháp luật về giao dịch điện tử, chữ ký số; hệ thống bảo đảm an toàn thông tin mạng còn sơ khai.
    • Hệ thống thanh toán điện tử: Chưa có hạ tầng thanh toán số liên ngân hàng hoàn chỉnh cho dịch vụ công; phương thức thanh toán tiền mặt vẫn chiếm ưu thế tuyệt đối.
  • Ứng dụng bước đầu: Đánh giá kết quả triển khai Đề án 112 về tin học hóa quản lý hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2005; việc xây dựng trang tin điện tử của một số bộ, ngành, địa phương để công khai thủ tục hành chính, biểu mẫu và văn bản quy phạm pháp luật.
  • Định hướng và nhóm khuyến nghị giải pháp:
    • Xác định định hướng ứng dụng CNTT từng bước, lấy việc phục vụ người dân và doanh nghiệp làm trọng tâm.
    • Hoàn thiện môi trường thể chế và khung pháp lý cho thương mại điện tử, giao dịch điện tử và bảo mật dữ liệu.
    • Từng bước nâng cấp hạ tầng mạng diện rộng của Chính phủ, kết nối liên thông các bộ ngành và địa phương.
    • Đẩy mạnh đào tạo kỹ năng công nghệ thông tin cho cán bộ hành chính và tuyên truyền nâng cao nhận thức cho công chúng.
    • Xây dựng lộ trình triển khai dịch vụ công theo từng cấp độ, bắt đầu từ cung cấp thông tin, biểu mẫu một cửa đến cung cấp các dịch vụ tương tác hoàn chỉnh.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

Khóa luận đã trích xuất và hệ thống hóa nhiều số liệu định lượng về thực trạng triển khai Chính phủ điện tử toàn cầu tại thời điểm năm 2003:

  • Cung cấp bức tranh tổng thể về mức độ sẵn sàng: 84% website chính phủ trên thế giới tại thời điểm 2003 mới dừng lại ở việc cung cấp thông tin một chiều; chỉ 16% có cung cấp dịch vụ trực tuyến; việc ứng dụng công cụ thanh toán (thẻ tín dụng 2%) và chữ ký số (0,1%) còn rất hạn chế.
  • Định lượng hiệu quả tài chính và tổ chức từ các điển hình quốc tế: dự án dịch vụ giao thông Arizona tiết kiệm 1,7 triệu USD/năm; cổng Regulations.gov của Mỹ ước tính tiết kiệm 94 triệu USD; chương trình E-Payroll giảm 20 đầu mối quản lý lương, dự kiến tiết kiệm 1,2 tỷ USD trong vòng 10 năm; cổng FirstGov.gov tăng quy mô từ 5 triệu lên 28 triệu lượt truy cập chỉ sau 1 năm áp dụng chuẩn "3 lần nhấp chuột".
  • Hệ thống hóa mức độ ưu tiên bảo vệ thông tin cá nhân của các quốc gia, trong đó Singapore đạt tỷ lệ cao nhất (90%), tạo lập bài học về mối quan hệ giữa lòng tin công chúng và tỷ lệ ứng dụng dịch vụ công.

Giải pháp và kiến nghị đề xuất

Tác giả đề xuất phương hướng phát triển Chính phủ điện tử tại Việt Nam theo lộ trình phân kỳ:

  • Giai đoạn trước mắt cần tập trung số hóa và phổ biến công khai các văn bản pháp luật, biểu mẫu hành chính, chính sách thuế và xuất nhập khẩu trên Internet.
  • Đầu tư đồng bộ vào hạ tầng viễn thông và đào tạo nhân lực CNTT trong khu vực công.
  • Ban hành các văn bản pháp lý làm nền tảng cho giao dịch điện tử và chữ ký số, đồng thời xây dựng tiêu chuẩn bảo mật dữ liệu công dân trước khi mở rộng cung cấp dịch vụ thanh toán trực tuyến.

Đóng góp tự nêu của tác giả

Khóa luận là một trong những công trình nghiên cứu sớm tại Khoa Kinh tế Ngoại thương (Đại học Ngoại thương) tiếp cận một cách có hệ thống về đề tài Chính phủ điện tử vào năm 2003. Công trình đã tổng hợp các báo cáo quốc tế mới nhất thời điểm đó và bước đầu đề xuất các khuyến nghị gắn với điều kiện thực tế của nền hành chính Việt Nam.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Tác giả thẳng thắn chỉ rõ giới hạn về mặt thời gian, trình độ nghiên cứu và nguồn tài liệu tham khảo trong nước về Chính phủ điện tử tại thời điểm năm 2003 còn rất khan hiếm. Các số liệu đánh giá về Việt Nam chủ yếu dựa trên các quan sát sơ bộ về hạ tầng và các đề án bước đầu.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Nghiên cứu sâu hơn về hiệu quả thực tế của các đề án tin học hóa quản lý hành chính nhà nước tại Việt Nam; phân tích chi tiết cơ chế triển khai các dịch vụ công cấp độ cao khi hệ thống pháp lý về giao dịch điện tử và hạ tầng thanh toán ngân hàng tại Việt Nam được hoàn thiện trong các giai đoạn tiếp theo.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Sinh viên, học viên cao học các ngành Kinh tế quốc tế, Quản lý công, Quản trị văn phòng, Hệ thống thông tin quản lý và Luật kinh tế; các nhà nghiên cứu muốn tìm hiểu về lịch sử tiến trình chuyển đổi số và tin học hóa hành chính tại Việt Nam đầu những năm 2000.
  • Nội dung giá trị:
    • Chương I: Khung lý thuyết tổng quát, các mô hình G2G, G2B, G2C và luận điểm phân biệt giữa Chính phủ điện tử và Dân chủ điện tử.
    • Chương II: Nguồn tư liệu tổng hợp chi tiết về số liệu khảo sát quốc tế năm 2003 của Đại học Brown, các báo cáo thăm dò dư luận của Hart-Teeter và các dự án cụ thể của Chính phủ Mỹ và Australia.
    • Chương III: Cung cấp tư liệu lịch sử về nhận thức, hiện trạng hạ tầng CNTT và những trăn trở về giải pháp xây dựng Chính phủ điện tử tại Việt Nam ở thời điểm năm 2003.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận phân biệt sự khác nhau giữa "Chính phủ điện tử" và "Nền dân chủ điện tử" như thế nào?

Theo tác giả (dựa trên luận điểm của Rogers W'O Okot-Uma), Chính phủ điện tử (E-government) và Nền dân chủ điện tử (E-democracy) không loại trừ nhau nhưng khác nhau về trọng tâm:

  • Chính phủ điện tử: Tập trung vào phương thức cung cấp dịch vụ công và thông tin điện tử tới công chúng một cách thuận tiện, nhanh chóng và tiết kiệm chi phí.
  • Nền dân chủ điện tử: Tập trung vào cơ cấu và quá trình điều hành xã hội, tạo điều kiện cho cử tri và các tổ chức tham gia trực tiếp vào quá trình ra quyết định và hoạch định chính sách của chính phủ thông qua mạng điện tử.

2. Dự án hệ thống trả lương điện tử (E-Payroll) của Chính phủ Mỹ đem lại hiệu quả cụ thể nào?

Dự án E-Payroll có mục tiêu tái cấu trúc và hợp nhất các đầu mối quản lý tiền lương cho nhân viên chính phủ từ 22 cơ quan xuống chỉ còn 2 cơ quan chịu trách nhiệm chính là DoD/GSA và USDA/DOI. Theo tính toán được nêu trong khóa luận, hệ thống này giúp Chính phủ Mỹ tiết kiệm được khoảng 1,2 tỷ USD trong vòng 10 năm.

3. Theo báo cáo năm 2003 của Đại học Brown được trích dẫn, quốc gia nào dẫn đầu về chỉ số Chính phủ điện tử và tỷ lệ bảo mật thông tin cá nhân?

Theo báo cáo của Darrell M. West (Đại học Brown, tháng 9/2003):

  • Quốc gia có tỷ lệ trang web đạt mức độ an toàn thông tin cá nhân cao nhất là Singapore với 90% (theo sau là Canada 65%, Mỹ 62%).
  • Quốc gia đứng đầu về chỉ số phát triển Chính phủ điện tử tổng thể là Singapore với 46,3 điểm (trên thang điểm 100).

4. Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử của Australia được khởi động và công bố hoàn thành vào thời điểm nào?

Năm 1997, Thủ tướng Australia John Howard công bố kế hoạch đặt mục tiêu đến tháng 9/2001 tất cả các dịch vụ chính phủ phải được đưa lên mạng Internet. Đến tháng 2/2002, Thủ tướng Australia chính thức tuyên bố nước này đã hoàn thành mục tiêu đề ra, tạo nền móng chuyển sang giai đoạn phát triển chiến lược Chính phủ điện tử toàn diện hơn (ban hành tháng 11/2002).

5. Việc triển khai dịch vụ đăng ký xe qua mạng tại bang Arizona (Mỹ) mang lại những lợi ích định lượng gì?

Từ năm 1996, thành phố Phoenix (bang Arizona) triển khai dịch vụ đăng ký lại xe qua website do IBM vận hành 24/7. Kết quả mang lại:

  • Thời gian thực hiện mỗi giao dịch rút ngắn xuống trung bình còn 2 phút.
  • Chi phí cho một giao dịch trên mạng chỉ tốn 1,6 USD (so với 6,6 USD khi thực hiện trực tiếp tại Sở Giao thông).
  • Sở Giao thông tiết kiệm được 1,7 triệu USD mỗi năm, đồng thời giải quyết triệt để tình trạng người dân chen lấn, xếp hàng gây mất trật tự trước trụ sở.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Trần Thị Liên là công trình nghiên cứu hệ thống hóa cơ sở lý luận về Chính phủ điện tử và các phương thức cung cấp dịch vụ công trực tuyến. Thông qua việc phân tích dữ liệu khảo sát toàn cầu năm 2003 cùng các bài học thực tiễn từ Mỹ, Australia và Singapore, tác giả đã làm rõ bức tranh chuyển đổi số trong khu vực công vào đầu thế kỷ 21. Trên cơ sở đối chiếu với hiện trạng hạ tầng và nhận thức tại Việt Nam năm 2003, khóa luận đã đề xuất các nhóm giải pháp nền tảng về thể chế, hạ tầng mạng và đào tạo nhân lực nhằm định hướng xây dựng Chính phủ điện tử phù hợp với điều kiện đất nước.