phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục, luận án được kết cấu thành 4 chương, 8 tiết. luan an 7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. NHỮNG CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Quá trình khảo cứu các công trình khoa học liên quan đến đề tài luận án, có thể chia các công trình liên quan đến nền hành chính nhà nước, công tác CCHC nói chung và vấn đề CCHC ở tỉnh Đồng Tháp như sau: 1. Các công trình nghiên cứu về đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nƣớc, về xây dựng và hoàn thiện Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Từ khi ra đời, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được lịch sử cách mạng và xã hội thừa nhận như một tất yếu lịch sử.
Đảng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, trong quá trình lãnh đạo Đảng luôn luôn đổi mới tư duy và phương thức lãnh đạo đối với việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN. Vì vậy, đây là vấn đề luôn được các nhà lãnh đạo của Đảng, quản lý nhà nước và các nhà khoa học tổng kết, đúc rút kinh nghiệm và tìm tòi nghiên cứu để cho ra đời rất nhiều công trình khoa học, sách chuyên khảo phục vụ cho chuyên môn và là nguồn tư liệu quý giá cho thế hệ sau: Cuốn sách Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân [114] của Trần Hậu Thành (2005), tác giả đã làm rõ thêm về cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam và trên cơ sở khảo sát một số mô hình thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền trên thế giới, đề xuất một số phương hướng, nội dung cơ bản xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Trong nội dung cuốn sách tác giả cũng phân tích về sự đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước và xã hội, trong đó tác giả đã đề cập khá mới về phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Chính phủ và đối với UBND cấc cấp, bên cạnh đó cuốn sách đề cập khá sâu sắc về vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ công chức và đánh giá khá toàn diện về cán bộ công chức là luan an 8 một mấu chốt để phục vụ cho xây dựng chính quyền thông suốt từ trung ương tới địa phương. Có thể nói cuốn sách đã cung cấp được những chỉ dẫn về mặt lý luận về mặt lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và đánh giá được vai trò của đội ngũ cán bộ công chức, tuy cuốn sách không đề cập tới vấn đề cải cách hành chính, nhưng những chỉ dẫn về mặt chính quyền là một nguồn tư liệu tốt và đáng tin cậy.
Tác giả Lê Duy Truy (2006) với cuốn sách Chủ tịch Hồ Chí Minh với xây dựng nhà nước và công tác cán bộ [93], là nguồn tư liệu được tổng hợp trên cơ sở những quan điểm tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền, về công tác cán bộ. Trong đó, những bài viết, những quyết định của Người về quá trình lãnh đạo xây dựng nhà nước pháp quyền có giá trị về mặt lý luận và thực tiễn cho tới ngày hôm nay. Vấn đề nổi bật được tác giả chọn lọc là vấn đề chính quyền địa phương, với việc Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành những sắc lệnh, những chỉ thị trong xây dựng một nền hành chính ở địa phương thông suốt với Trung ương. Có thể thấy rằng cuốn sách đã là nguồn tư liệu có giá trị tư tưởng lý luận chỉ đạo sâu sắc của Hồ Chí Minh về công tác xây dựng nhà nước pháp quyền nói chung và quản lý nền hành chính địa phương nói riêng.
Tác giả Nguyễn Văn Thảo (2006), Xây dựng nhà nước pháp quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng [91], cuốn sách là tập hợp đầy đủ và rõ nét về quá trình lãnh đạo của Đảng về xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, cuốn sách tập trung khai thác từ lịch sử xây dựng nhà nước pháp quyền từ năm 1945 tời 2005, trong đó chú trọng trình bày quan điểm của Đảng lãnh đạo trong công cuộc đổi mới Nhà nước pháp quyền, trọng tâm là lãnh đạo đổi mới bộ máy lập pháp, hành pháp và tư pháp. Về lãnh đạo CCHC thì tập trung đi sâu vào các vấn đề cải cách và xây dựng thể chế hành chính là hạt nhân của xây dựng nhà nước pháp quyền, tập trung phân tích vấn đề phân cấp, phân quyền, phi tập trung hóa nền hành chính nước ta, xác định phân cấp cho chính quyền địa phương trong điều kiện mới. Cuốn sách đã có phân tích khá sâu về dịch vụ công và vai trò quản lý của nhà nước, khai thác những thành tựu của quá trình lãnh đạo công tác cải cách thủ tục hành chính, vấn đề đánh giá, đào tạo kỹ năng luan an 9 cho công chức hành chính, tổng kết và đề ra được một số giải pháp trong công tác CCHC. Phạm Ngọc Quang - Ngô Kim Ngân (2007) với cuốn sách Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân do dân vì dân [83], đã trình bày rõ quá trình đổi mới nhận thức của Đảng về vai trò lãnh đạo và ý thức lãnh đạo trong thời kỳ mới.
Trong đó, đã nêu bật tính cấp thiết đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng phải được tiến hành khẩn trương, kiên quyết, không cứng nhắc, máy móc trong sự phân định giữa sự lãnh đạo của Đảng với sự quản lý của Nhà nước, song phải phân định rõ chức năng lãnh đạo chính trị, phương thức lãnh đạo chính trị của Đảng với chức năng quản lý của Nhà nước pháp quyền. Cuốn sách Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công cuộc đổi mới [42] của Bùi Kim Đỉnh (2009), tác giả đã làm rõ thêm quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công cuộc đổi mới trên các lĩnh vực cơ bản của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội từ năm 1986 tới năm 2008, với những bước phát triển, những thành tựu, hạn chế và kinh nghiệm. Đồng thời cuốn sách đã hệ thống những thành quả nghiên cứu đã được công bố về những yếu tố tác động và quá trình hình thành đường lối đổi mới ở Việt Nam, sự lãnh đạo của Đảng trong công cuộc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, tự đổi mới, tự chỉnh đốn - nhìn từ góc độ lịch sử, đổi mới nhận thức con đường đi lên chủ nghĩa xã hôi ở Việt Nam và đổi mới hệ thống chính trị, bảo đảm tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN. Trong đó cuốn sách đã hệ thống lại quá trình lãnh đạo của Đảng về công tác CCHC của Chính phủ đã đạt được những thành tựu cũng như nêu lên được hạn chế yếu kém và rút ra một số bài học kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo công tác cải cách hành chính.
Đoàn Minh Huấn (2010) với cuốn sách Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo xây dựng củng cố nhà nước (1986-1996)[65], tác giả đã hệ thống quá trình đổi mới tư duy nhận thức của Đảng về Nhà nước, từ phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước ta, từ nguyên lý tổ chức và hoạt động, cơ chế vận hành, xây dựng các cơ sở KT-XH của Nhà nước, cũng như quá trình tổ chức chỉ đạo thực luan an 10 tiễn với tính phong phú, sinh động của nó. Đặc biệt, qua nghiên cứu lịch sử, cuốn sách bước đầu đã tổng kết những thành tựu, hạn chế và rút ra một số kinh nghiệm cần thiết cho hiện tại để góp phần phục vụ cho công tác cải cách bộ máy nhà nước nói chung và cải cách nền hành chính nói riêng. Nhà nước cách mạng Việt Nam (1945 – 2010) [77] của Nguyễn Trọng Phúc (2010), cuốn sách được bổ sung trên cơ sở cuốn sách Nhà nước cách mạng kiểu mới Việt Nam (1945-2005). Nội dung trình bày về con đường dẫn đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thiết lập Nhà nước cách mạng kiểu mới ở Việt Nam và các thời kỳ xây dựng và phát triển Nhà nước gắn liền với tiến trình cách mạng của Đảng và dân tộc, một số chuyên đề của cuốn sách bước đầu góp phần làm rõ một số vấn đề về xây dựng và bảo vệ Nhà nước trong tiến trình cách mạng.
Cuốn sách là tài liệu tham khảo bổ ích cho việc nghiên cứu lịch sử cách mạng Việt Nam nói chung, lịch sử Nhà nước cách mạng và những vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay. Ngoài những công trình cụ thể nêu trên, còn rất nhiều công trình nghiên cứu của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các nhà khoa học về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, về đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, như: Đổi mới để tiến lên của Nguyễn Văn Linh (1988) [69]; Mấy vấn đề về nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Trường Chinh, (1991) [15]; Đỗ Mười (1991) với cuốn sách Xây dựng nhà nước của nhân dân - thành tựu, kinh nghiệm và đổi mới [70]; Trần Ngọc Đường (1999), Bộ máy Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam [44]; Nguyễn Trọng Phúc và Hồ Xuân Quang (1998), Một số quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng nhà nước XHCN của dân, do dân, vì dân từ 1986 đến nay [78]; Nguyễn Đặng Dung (2004), Thể chế tư pháp trong nhà nước pháp quyền [19]; Bùi Xuân Đức (2007), Đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước trong giai đoạn hiện nay [41]; Phạm Thái Việt (2008), Vấn đề điều chỉnh chức năng và thể chế của nhà nước dưới tác động của toàn cầu hóa [171]; Tào Thị Quyên (2012), Cơ chế bảo vệ Hiến pháp trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam [85]. Các công trình trên, đã làm nổi bật quá luan an 11 trình hình thành và phát triển quan điểm của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, những đổi mới trong phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, kết quả từ sự lãnh đạo của Đảng đã được tổng kết, bước đầu rút ra một số kinh nghiệm và bài học lịch sử.