Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Chính sách công (mã số: 934.02) với đề tài "Chính sách dịch vụ công trực tuyến ở Việt Nam hiện nay" do nghiên cứu sinh Quách Thị Minh Phượng thực hiện tại Học viện Khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Đỗ Phú Hải, bảo vệ năm 2019.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Dịch vụ công trực tuyến (DVCTT) là dịch vụ hành chính công và các dịch vụ khác của cơ quan nhà nước được cung cấp cho các tổ chức, cá nhân trên môi trường mạng. Việc cung cấp DVCTT là nội dung trọng tâm trong tiến trình cải cách hành chính và xây dựng chính phủ điện tử nhằm nâng cao hiệu lực quản lý, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp. Tại Việt Nam, chủ trương của Đảng và Nhà nước đã được thể chế hóa qua nhiều văn bản, khởi đầu từ Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin (CNTT) phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tiếp đó là Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế.
Tuy nhiên, thực tiễn triển khai chính sách DVCTT của các bộ, ngành, địa phương bộc lộ nhiều bất cập: việc thực hiện chủ yếu dừng ở mức lập phương án; hồ sơ, thủ tục giấy tờ còn rườm rà, thiếu mẫu biểu điện tử; kinh phí hạn hẹp; thiếu hướng dẫn thuê dịch vụ CNTT; công tác tuyên truyền và nhận thức của các bên liên quan còn yếu. Về mặt lý luận, các nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận DVCTT dưới góc độ kỹ thuật CNTT hoặc xem như một bộ phận lồng ghép trong chính phủ điện tử, thiếu cách tiếp cận chỉnh thể dưới góc độ khoa học chính sách công theo chu trình chính sách (hoạch định, xây dựng, tổ chức thực hiện và đánh giá chính sách). Do đó, việc nghiên cứu hoàn thiện chính sách DVCTT là yêu cầu khách quan, cấp bách.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là xây dựng khung lý thuyết về chính sách dịch vụ công trực tuyến và thực hiện khảo sát thực tiễn chính sách DVCTT ở Việt Nam làm cơ sở khoa học để đề xuất các nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách dịch vụ công trực tuyến ở Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu gồm ba nội dung:
- Tập hợp, chắt lọc các vấn đề lý thuyết cơ bản về chính sách công, dịch vụ công, dịch vụ hành chính công và dịch vụ công trực tuyến trong mối quan hệ với chương trình cải cách hành chính; hình thành khung lý thuyết về chính sách DVCTT theo chu trình chính sách từ hoạch định, xây dựng, tổ chức thực hiện đến đánh giá chính sách.
- Thống kê, khảo sát số liệu thực tế về triển khai chính sách DVCTT, phân tích mặt đạt được và hạn chế trong từng khâu của chu trình chính sách tại Việt Nam, từ đó xác định rõ nguyên nhân của hạn chế.
- Phân tích quan điểm của Đảng và xác định quan điểm cá nhân để đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách DVCTT theo từng khâu của chu trình chính sách.
Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
Luận án xác định 03 câu hỏi nghiên cứu tương ứng với 03 giả thuyết khoa học:
- Câu hỏi 1: Những yếu tố nào ảnh hưởng đến chính sách dịch vụ công trực tuyến ở Việt Nam?
- Giả thuyết 1: Chính sách DVCTT là một chính sách công hướng đến thay đổi phương thức cung ứng dịch vụ công của Chính phủ thông qua môi trường mạng, chịu tác động của các yếu tố chung của chính sách công (nhận thức, năng lực hoạch định, mức độ hài lòng của người dân/doanh nghiệp, hạ tầng CNTT-TT, thực tiễn chính phủ điện tử và điều kiện kinh tế - xã hội).
- Câu hỏi 2: Đánh giá thực trạng chính sách dịch vụ công trực tuyến và tác động sớm của chính sách ở Việt Nam như thế nào?
- Giả thuyết 2: Chính sách DVCTT ở Việt Nam hiện nay có nhưng chưa toàn diện, chủ yếu thể hiện dưới dạng công cụ là các văn bản pháp luật rời rạc, nội dung nhấn mạnh ứng dụng CNTT trong quản lý nhà nước về chính phủ điện tử; mục tiêu, giải pháp còn chung chung và chưa giải quyết triệt để vấn đề dung hòa lợi ích nhóm.
- Câu hỏi 3: Giải pháp hoàn thiện chính sách dịch vụ công trực tuyến ở Việt Nam hiện nay là gì?
- Giả thuyết 3: Chính sách DVCTT được coi là hoàn thiện nếu đó là một hệ thống chính sách toàn diện, thống nhất, có lộ trình áp dụng rõ ràng, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, cán bộ công chức và đối tượng thụ hưởng (người dân, doanh nghiệp), đồng thời được đánh giá thường xuyên để không ngừng hoàn thiện.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Chính sách dịch vụ công trực tuyến ở Việt Nam, giới hạn ở phạm vi dịch vụ hành chính công. Các dịch vụ sự nghiệp công trực tuyến và dịch vụ công ích trực tuyến không thuộc đối tượng nghiên cứu của luận án.
- Phạm vi nội dung: Tiếp cận theo chu trình chính sách, tập trung trọng tâm vào giai đoạn hoạch định và xây dựng chính sách, gắn với cải cách thủ tục hành chính; việc khảo sát đánh giá thực tiễn chủ yếu căn cứ vào sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu trên phạm vi toàn quốc dựa trên các báo cáo cải cách hành chính, chỉ số chính phủ điện tử, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI); tiến hành điều tra xã hội học trực tiếp tại 02 địa bàn tiêu biểu là Thành phố Hồ Chí Minh và Thành phố Đà Nẵng, kết hợp dữ liệu thứ cấp của các vùng nông thôn, vùng khó khăn, hải đảo.
- Phạm vi thời gian: Từ khi ban hành Chương trình ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước (Chương trình IT 2000) đến năm 2018; trọng tâm là giai đoạn 2014 (thời điểm ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị) đến năm 2018.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án thực hiện tổng thuật chi tiết các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, phân loại theo các nhóm chủ đề chính:
Các hướng nghiên cứu đã có trong tài liệu
- Nghiên cứu chung về chính sách công và chu trình chính sách:
- Đỗ Phú Hải (2017) với cuốn Tổng quan về chính sách công (Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật) phân tích khái niệm, bản chất, nguyên tắc và chu trình chính sách công tại Việt Nam.
- Ngô Hoài Sơn (2016) với Đại cương về Chính sách công (Nxb. Lao động) cung cấp khung lý thuyết về cộng đồng chính sách, chương trình nghị sự, sự hình thành vấn đề từ thực tiễn và chuyển giao chính sách.
- Nguyễn Hữu Hải (2010) với Giáo trình hoạch định và phân tích chính sách công (Nxb. Khoa học và Kỹ thuật); Lê Chi Mai (2001) với Những vấn đề cơ bản về chính sách và quy trình chính sách (Nxb. ĐHQG TP.HCM); Đỗ Phú Hải (2013, 2014) với đề tài đánh giá chính sách công và bài viết về xây dựng chính sách công trên Tạp chí Lý luận chính trị.
- Văn Tất Thu (2016) với các bài viết về cơ sở lý luận xác định vấn đề chính sách và giải pháp chính sách phát triển nhân lực trên Tạp chí Quản lý nhà nước.
- Võ Khánh Vinh (2016) với loạt bài nghiên cứu về quy trình chính sách công, mô hình nghiên cứu hệ thống chính sách công và chính sách xây dựng pháp luật trên Tạp chí Nhân lực khoa học xã hội.
- Nghiên cứu về hoạch định, xây dựng chính sách DVCTT:
- Về nhận diện vấn đề chính sách: Nguyễn Chí Nhân (2002), Kim Hoa và Bình Minh (2007), Quang Minh (2009), Nguyễn Thanh Minh và Nguyễn Bội Ngọc (2011), Trần Ngọc Luân (2013), Minh Chung (2012), Trần Cao Tùng (2013), Hồng Minh (2015), Bế Trung Anh (2013), Trần Kim Kha (2012), Phan Thị Bích Thảo (2015), Thái Vân (2013), Nguyễn Thị Thu Hường (2017), Lê Thị Thanh Tâm và Nguyễn Văn Phương (2017), Nguyễn Thị Vân (2017), Trần Đoàn Hạnh (2017), Minh Thành (2017). Đề tài KHCN cấp nhà nước KC.18/06-10 do Nguyễn Minh Hồng làm chủ nhiệm (2011) chỉ rõ việc cung cấp DVCTT chủ yếu ở mức độ 1 và 2, hạn chế ở mức độ 3 và chưa có mức độ 4. Tài liệu quốc tế của Muhammad Muinul Islam và Mohammad Ehsan nghiên cứu về chuyển đổi mô hình quản trị điện tử.
- Về mục tiêu chính sách: Thủy Minh (2016), Hiền Quý (2017), đề tài cấp bộ do Trần Đình Lộc làm chủ nhiệm (2009), tài liệu bồi dưỡng chuyên viên chính của Bộ Nội vụ và Học viện Hành chính Quốc gia (2014), Nguyễn Đăng Hậu, Nguyễn Hoài Anh và Ao Thu Hoài (2010), tài liệu quốc tế của Irene C. Wakenshaw (2017) về số hóa thông tin.
- Về giải pháp chính sách: Nguyễn Thị Thu Cúc (2011), Phan Anh Hồng và Nguyễn Thị Mai (2012) về kinh nghiệm Singapore, Hoàng Thị Kim Chi (2016), tài liệu UN-APCICT của Richard Labelle (2009) về cơ chế tài chính ICT, báo cáo của Liên Hợp Quốc (2006) về mức độ sẵn sàng chính phủ điện tử.
- Về thể chế chính sách: Đánh giá Thông tư số 26/2009/TT-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông, các đề án eCoSys của Bộ Công Thương, mua sắm chính phủ của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hải quan điện tử và thuế điện tử của Bộ Tài chính, bài viết của Nguyễn Hiền (2012).
- Về yếu tố tác động: Quốc Thanh và Hồng Minh (2011), Phạm Long và Phan Diên Vỹ (2016), Trần Việt Cường (2013), nghiên cứu quốc tế của Manish Pokharel và Jong Sou Park (2006), María de Miguel Molina và Carlos Ripoll Soler (2006).
- Nghiên cứu về tổ chức thực hiện và đánh giá chính sách:
- Các nghiên cứu thực tiễn tại TP. Hồ Chí Minh (Thái Vân, 2013), Đà Nẵng (Nguyễn Hiền, 2012), Trà Vinh (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2011), Bình Định (Trần Kim Kha, 2012), Bình Dương (Lê Thị Thanh Tâm và Nguyễn Văn Phương, 2017), bài viết của Trần Ngọc Luân (2013) về bộ chỉ số đánh giá chính phủ điện tử.
Khoảng trống luận án giải quyết
Qua tổng quan tài liệu, luận án chỉ ra các hạn chế của nghiên cứu trước:
- Đa số công trình tiếp cận dưới góc độ kỹ thuật công nghệ hoặc quản lý hành chính đơn thuần; xem DVCTT là một giải pháp kỹ thuật bộ phận trong chính phủ điện tử chứ chưa nghiên cứu như một chính sách công độc lập, hoàn chỉnh.
- Các nghiên cứu thường xem xét DVCTT ở phạm vi hẹp (một ngành, một địa phương) hoặc tập trung chủ yếu vào chủ thể cung ứng (chính quyền), thiếu sự tích hợp đầy đủ vai trò của chủ thể thụ hưởng (người dân, doanh nghiệp).
- Thiếu khung lý thuyết toàn diện về chu trình chính sách DVCTT (hoạch định, thiết kế, thực thi, đánh giá) và thiếu các nghiên cứu đánh giá định lượng trên quy mô thực tiễn kết hợp phân tích thể chế chính thức và phi chính thức.
Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách xây dựng hệ thống lý luận hoàn chỉnh về chính sách dịch vụ hành chính công trực tuyến theo chu trình chính sách, đánh giá thực trạng trên bình diện quốc gia và đề xuất giải pháp đồng bộ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
- Lý thuyết nền tảng: Luận án vận dụng lý thuyết chính sách công tổng quan, lý thuyết phân tích chính sách và lý thuyết đánh giá chính sách công; khung phân tích chu trình chính sách gồm các giai đoạn: xác định vấn đề và hoạch định chính sách, thiết kế/xây dựng chính sách, tổ chức thực hiện chính sách và đánh giá chính sách.
- Phương pháp luận: Dựa trên phép biện chứng của chủ nghĩa duy vật lịch sử, đặt chính sách DVCTT trong mối quan hệ biện chứng với điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; đồng thời dựa trên các quan điểm, nghị quyết của Đảng về ứng dụng CNTT và cải cách hành chính. Luận án áp dụng phương pháp tiếp cận liên ngành kết hợp giữa khoa học chính sách công, kinh tế học, xã hội học, luật học và lịch sử.
Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:
- Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp: Khai thác các chủ trương, nghị quyết của Đảng (Chỉ thị 58-CT/TW, Nghị quyết 36-NQ/TW), văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước, các báo cáo đánh giá chỉ số chính phủ điện tử của Liên Hợp Quốc, chỉ số PCI, các báo cáo cải cách hành chính và tài liệu nghiên cứu trong, ngoài nước.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phân tích các yếu tố cấu thành chính sách (mục tiêu, chủ thể, thể chế, giải pháp, yếu tố tác động) để xây dựng hệ thống lý thuyết và luận giải các giải pháp.
- Phương pháp thống kê: Xử lý và trình bày số liệu thứ cấp và sơ cấp để phục vụ đánh giá thực trạng.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Thiết kế 02 mẫu phiếu khảo sát (Phụ lục III và IV) đối với người dân và doanh nghiệp tại 02 địa bàn: Thành phố Hồ Chí Minh và Thành phố Đà Nẵng. Tổng số mẫu là 400 phiếu (200 phiếu/tỉnh; gồm 150 phiếu người dân và 50 phiếu doanh nghiệp mỗi tỉnh).
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện phỏng vấn sâu 10 chuyên gia/lãnh đạo (Phụ lục V và VII) gồm lãnh đạo cơ quan quản lý CNTT-TT và lãnh đạo các cơ quan chuyên môn trực tiếp cung ứng dịch vụ hành chính công tại các bộ, sở, ban, ngành.
| Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp |
Đối tượng khảo sát |
Địa bàn thực hiện |
Quy mô mẫu |
| Điều tra bằng bảng hỏi (Mẫu phiếu 1) |
Người dân |
TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng |
300 phiếu (150 phiếu/địa bàn) |
| Điều tra bằng bảng hỏi (Mẫu phiếu 2) |
Doanh nghiệp |
TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng |
100 phiếu (50 phiếu/địa bàn) |
| Phỏng vấn sâu (Bảng hỏi chuyên gia) |
Lãnh đạo cơ quan quản lý CNTT-TT và cơ quan cung ứng dịch vụ |
Trung ương và địa phương |
10 phiếu |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án
Chương 1 hệ thống hóa và đánh giá toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo 4 nhóm nội dung: (1) Nghiên cứu chung về chính sách công; (2) Nghiên cứu về giai đoạn hoạch định, xây dựng chính sách DVCTT (bao gồm vấn đề, mục tiêu, giải pháp, chủ thể, thể chế và yếu tố tác động); (3) Nghiên cứu về tổ chức thực hiện chính sách; (4) Nghiên cứu về đánh giá chính sách DVCTT.
Chương 1 khẳng định khoảng trống tri thức: các nghiên cứu trước đây chủ yếu dừng ở góc độ công nghệ thông tin hoặc quản trị hành chính cục bộ, chưa xem xét chính sách DVCTT một cách hệ thống theo chu trình chính sách công; chưa phân tích thỏa đáng cơ chế dung hòa lợi ích giữa các nhóm chủ thể tham gia. Từ đó, chương xác định các nhiệm vụ khoa học mà luận án tập trung giải quyết.
Chương 2: Những vấn đề lý luận về chính sách dịch vụ công trực tuyến
Chương 2 xây dựng hệ thống cơ sở lý luận về chính sách dịch vụ công trực tuyến:
- Khái quát khái niệm: Làm rõ khái niệm chính sách công, dịch vụ công, dịch vụ hành chính công và dịch vụ công trực tuyến; phân định các mức độ cung ứng DVCTT (mức độ 1, 2, 3, 4 theo quy định quản lý).
- Chu trình và nội dung chính sách DVCTT: Phân tích các khâu trong chu trình chính sách gồm hoạch định (xác định vấn đề, xây dựng chương trình nghị sự), thiết kế chính sách (xác định mục tiêu, giải pháp, thể chế, chủ thể), tổ chức thực hiện và đánh giá chính sách DVCTT.
- Cấu trúc chủ thể và thể chế: Xác định chủ thể chính sách DVCTT gồm ba nhóm: chủ thể cung ứng (cơ quan nhà nước), chủ thể duy trì/kỹ thuật (đội ngũ chuyên gia, doanh nghiệp CNTT) và chủ thể thụ hưởng (người dân, tổ chức, doanh nghiệp). Luận án trình bày mô hình các cơ quan chuyên môn tổ chức hành chính của Việt Nam (Hình 2.1).
- Kinh nghiệm quốc tế: Khái quát chính sách cung ứng DVCTT tại một số quốc gia trên thế giới (như Singapore, Hàn Quốc, các nước châu Âu) và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam về tầm nhìn chiến lược, phát triển hạ tầng, đào tạo nhân lực, tạo lập môi trường pháp lý và lấy người dùng làm trung tâm.
Chương 3: Thực tiễn chính sách dịch vụ công trực tuyến ở Việt Nam
Chương 3 tập trung phân tích thực trạng chính sách DVCTT tại Việt Nam dựa trên nguồn dữ liệu thứ cấp toàn quốc và dữ liệu khảo sát thực tế tại TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng:
- Bối cảnh triển khai: Phân tích tác động của chương trình cải cách hành chính (Bảng 3.1: Danh mục các nhiệm vụ, đề án cải cách hành chính giai đoạn 2016-2020) và tiến trình xây dựng chính phủ điện tử đến chính sách DVCTT. Đánh giá thứ hạng chính phủ điện tử của Việt Nam theo Liên Hợp Quốc năm 2016 (Bảng 3.2).
- Thực trạng hoạch định và ban hành chính sách: Phân tích việc ban hành các văn bản pháp quy từ trung ương đến địa phương; chỉ ra việc thể chế hóa chính sách còn phân tán, thiếu một đạo luật hoặc nghị định khung bao quát toàn diện về DVCTT.
- Thực trạng tổ chức thực hiện: Thống kê số lượng hồ sơ giải quyết DVCTT mức độ 3, mức độ 4 tại một số địa phương (Bảng 3.3). Đánh giá xếp hạng chính phủ điện tử cấp Bộ, cơ quan ngang Bộ (Hình 3.2), cơ quan thuộc Chính phủ (Hình 3.3), cấp tỉnh (Hình 3.4) và mối tương quan với Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI năm 2018 (Hình 3.1).
- Thực trạng qua kết quả điều tra xã hội học:
- Đề xuất, kiến nghị của người dân và doanh nghiệp đối với cơ quan nhà nước (Hình 3.5, Hình 3.6).
- Đánh giá mức độ hài lòng về việc cập nhật thông tin phục vụ người dân và doanh nghiệp (Hình 3.7, Hình 3.8).
- Đánh giá mức độ hài lòng về thái độ phục vụ của cán bộ, công chức qua mạng (Hình 3.9, Hình 3.10).
- Đánh giá mức độ hài lòng về bảo mật thông tin và an toàn dữ liệu của người dân và doanh nghiệp (Hình 3.11, Hình 3.12).
- Đánh giá chung: Luận án tổng kết mặt đạt được (bước đầu tạo chuyển biến trong nhận thức, hình thành hạ tầng kỹ thuật và cổng dịch vụ công) và chỉ rõ các hạn chế căn bản: tỷ lệ hồ sơ trực tuyến phát sinh ở mức độ 3, 4 còn thấp; hệ thống chính sách chưa đồng bộ; thói quen dùng văn bản giấy và tiền mặt của người dân còn phổ biến; cán bộ công chức e ngại thay đổi phương thức làm việc; sự chênh lệch hạ tầng giữa các vùng miền.
| Danh mục bảng số liệu trong luận án |
Tên bảng trong văn bản |
Vị trí chương |
| Bảng 3.1 |
Danh mục các nhiệm vụ, đề án cải cách hành chính giai đoạn 2016-2020 |
Chương 3 |
| Bảng 3.2 |
Thứ hạng chính phủ điện tử của Việt Nam theo đánh giá của Liên Hợp quốc năm 2016 |
Chương 3 |
| Bảng 3.3 |
Thống kê số lượng hồ sơ giải quyết dịch vụ công trực tuyến ở mức độ 3, 4 tại một số địa phương |
Chương 3 (Trang 101) |
Chương 4: Quan điểm, giải pháp hoàn thiện chính sách dịch vụ công trực tuyến ở Việt Nam hiện nay
Chương 4 đề xuất định hướng và hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách DVCTT:
- Quan điểm hoàn thiện: Dựa trên chủ trương của Đảng về ứng dụng CNTT trong bối cảnh hội nhập quốc tế; coi người dân và doanh nghiệp là trung tâm phục vụ; đảm bảo tính toàn diện, thống nhất, khả thi và có lộ trình rõ ràng; gắn kết chặt chẽ chính sách DVCTT với cải cách thủ tục hành chính và tinh giản biên chế.
- Nhóm giải pháp hoàn thiện khâu hoạch định, xây dựng chính sách:
- Nâng cao nhận thức và năng lực của chủ thể xây dựng chính sách; xác định chính xác vấn đề và mục tiêu chính sách theo tiêu chí "bất cứ khi nào, bất cứ nơi đâu và ngay lập tức".
- Hoàn thiện thể chế pháp lý, ban hành quy định thống nhất về giá trị pháp lý của chứng từ điện tử, chữ ký số, quy trình liên thông và chia sẻ dữ liệu.
- Tăng cường đầu tư tài chính cho hoạt động nghiên cứu, thiết kế đề án chính sách và hạ tầng CNTT-TT.
- Thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nước, chuyên gia CNTT và đại diện cộng đồng doanh nghiệp, người dân.
- Xây dựng cơ chế chính sách hỗ trợ đối với các chủ thể chịu tác động tiêu cực hoặc gặp khó khăn khi chuyển đổi số.
- Nhóm giải pháp tăng cường tổ chức thực hiện chính sách:
- Đảm bảo nguồn lực tài chính và nhân lực CNTT chuyên trách; đào tạo lại và chuẩn hóa kỹ năng số cho đội ngũ cán bộ, công chức.
- Đổi mới cơ chế tài chính dịch vụ công: cho phép các cơ quan cung ứng tự chủ tài chính một phần, trích giữ lại tỷ lệ phí/lệ phí hợp lý để phân phối nội bộ và cải thiện thu nhập cho công chức giải quyết hồ sơ điện tử.
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, thành lập các tổ tư vấn hỗ trợ người dân và doanh nghiệp tại cơ sở (khu phố, thôn ấp); áp dụng chính sách giảm, miễn lệ phí khi thực hiện thủ tục qua mạng để khuyến khích người dùng.
- Nhóm giải pháp mở rộng và nâng cao hiệu quả đánh giá chính sách:
- Xây dựng bộ tiêu chí và chỉ số định lượng đánh giá thực chất kết quả cung ứng DVCTT gắn với mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp.
- Bố trí kinh phí và nguồn lực độc lập cho hoạt động đánh giá chính sách định kỳ; công khai kết quả đánh giá để giám sát trách nhiệm giải trình.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Luận án tiếp cận đề tài một cách có hệ thống dưới góc độ khoa học chính sách công, định hình khung lý thuyết về chính sách dịch vụ công trực tuyến (trọng tâm là dịch vụ hành chính công) theo chu trình chính sách gồm hoạch định, xây dựng, thực hiện và đánh giá.
- Làm rõ nội hàm, cấu trúc các nhóm chủ thể (cung ứng, duy trì kỹ thuật, thụ hưởng) và các yếu tố tác động bên trong, bên ngoài đến mức độ hoàn thiện của chính sách DVCTT trong bối cảnh cải cách hành chính và xây dựng chính phủ điện tử.
- Bổ sung cơ sở lý luận về xác định vấn đề chính sách, mục tiêu chính sách và cơ chế dung hòa lợi ích nhóm giữa Nhà nước, cán bộ công chức và xã hội trong quá trình chuyển đổi phương thức cung ứng dịch vụ công sang môi trường mạng.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Cung cấp bức tranh thực trạng về việc ban hành và thực thi chính sách DVCTT tại Việt Nam từ Chương trình IT 2000 đến năm 2018, đặc biệt là giai đoạn 2014–2018.
- Đo lường mức độ hài lòng và ghi nhận ý kiến phản hồi của người dân, doanh nghiệp thông qua điều tra xã hội học 400 mẫu tại TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, kết hợp phỏng vấn sâu 10 chuyên gia/lãnh đạo quản lý, chỉ ra các "điểm nghẽn" thực tế trong tiếp cận và xử lý hồ sơ trực tuyến.
- Đề xuất hệ thống các nhóm giải pháp khả thi, phân kỳ theo từng giai đoạn của chu trình chính sách, gắn với giải pháp cơ chế tài chính tự chủ cho cơ quan cung ứng và các chính sách ưu đãi chi phí nhằm thúc đẩy người dân tham gia môi trường mạng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu: Do nguồn lực và phạm vi xác định, luận án chỉ tập trung nghiên cứu đối với dịch vụ hành chính công trực tuyến, chưa mở rộng sang khu vực dịch vụ sự nghiệp công trực tuyến (y tế, giáo dục...) và dịch vụ công ích trực tuyến. Việc điều tra xã hội học trực tiếp mới được thực hiện tập trung tại 02 đô thị lớn là TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, dữ liệu tại các vùng nông thôn, miền núi, hải đảo chủ yếu dựa trên nguồn thống kê thứ cấp.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng nghiên cứu chính sách DVCTT sang các loại hình dịch vụ sự nghiệp công và công ích; mở rộng phạm vi khảo sát thực địa tại các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; nghiên cứu sâu hơn về tác động của các công nghệ mới (dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, thiết bị di động thông minh) đối với chu trình chính sách dịch vụ công trong giai đoạn chính phủ số.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ quan quản lý và nhà hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở khoa học và căn cứ thực tiễn để rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về chính phủ điện tử, xây dựng các đề án cung ứng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 đồng bộ, khả thi.
- Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên ngành Chính sách công, Quản lý công, Luật học: Là tài liệu chuyên khảo tham khảo về phương pháp tiếp cận chu trình chính sách áp dụng vào một lĩnh vực quản lý nhà nước cụ thể (CNTT và cải cách hành chính); cung cấp hệ thống tài liệu tổng quan và khung phân tích chính sách dịch vụ công.
- Các phần nội dung đáng tham khảo: Khung lý thuyết chu trình chính sách DVCTT tại Chương 2; bộ số liệu khảo sát mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp tại Chương 3; hệ thống giải pháp cơ chế tài chính và tổ chức thực thi tại Chương 4.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu ở loại hình dịch vụ công nào?
Luận án giới hạn đối tượng nghiên cứu ở dịch vụ hành chính công trực tuyến của các cơ quan nhà nước; không xem xét các dịch vụ sự nghiệp công trực tuyến và dịch vụ công ích trực tuyến.
2. Quy mô và địa bàn khảo sát xã hội học của luận án được tiến hành như thế nào?
Luận án thực hiện điều tra xã hội học với 400 phiếu khảo sát tại Thành phố Hồ Chí Minh và Thành phố Đà Nẵng (mỗi địa phương 200 phiếu, gồm 150 phiếu khảo sát người dân và 50 phiếu khảo sát doanh nghiệp), kết hợp phỏng vấn sâu 10 cán bộ lãnh đạo quản lý CNTT và cơ quan ứng dụng cung cấp dịch vụ hành chính công.
3. Những nguyên nhân căn bản nào khiến việc triển khai DVCTT tại Việt Nam giai đoạn 2014–2018 chưa đạt hiệu quả cao?
Theo luận án, nguyên nhân bao gồm: thiếu hệ thống chính sách đầy đủ, đồng bộ; sự quan tâm chỉ đạo của một số cấp chính quyền chưa thực chất; thủ tục hành chính còn rườm rà, thiếu mẫu biểu điện tử; kinh phí triển khai hạn hẹp; hạ tầng CNTT chưa đồng bộ; nhận thức, thói quen sử dụng giấy tờ và tiền mặt của người dân còn phổ biến; năng lực CNTT của một bộ phận cán bộ, công chức còn hạn chế.
4. Luận án đề xuất cơ chế gì để tạo động lực cho cán bộ, công chức trong việc xử lý dịch vụ công trực tuyến?
Luận án đề xuất đổi mới cơ chế quản lý tài chính dịch vụ công: cho phép các đơn vị cung ứng dịch vụ công trực tuyến có thu được chuyển sang cơ chế tự chủ một phần, được giữ lại tỷ lệ phí, lệ phí hợp lý để phân phối nội bộ và cải cách chế độ thu nhập, qua đó tạo động lực và sự ủng hộ của cán bộ, công chức khi thực hiện tinh giản biên chế và hiện đại hóa quy trình công vụ.
Kết luận
Luận án "Chính sách dịch vụ công trực tuyến ở Việt Nam hiện nay" của tác giả Quách Thị Minh Phượng là công trình khoa học nghiên cứu có hệ thống về chính sách dịch vụ hành chính công trực tuyến dưới lăng kính khoa học chính sách công. Luận án đã làm rõ cơ sở lý luận theo chu trình chính sách, đánh giá toàn diện thực trạng triển khai tại Việt Nam giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2018 qua các dữ liệu thống kê quốc gia và điều tra thực địa tại TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng. Trên cơ sở đó, tác giả luận giải hệ thống giải pháp đồng bộ từ khâu hoạch định, thiết kế, tổ chức thực hiện đến đánh giá chính sách, góp phần thúc đẩy tiến trình cải cách hành chính và xây dựng chính phủ điện tử tại Việt Nam.