MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn để tài Giáo dục và con người được đặt trong chủ trình “Giáo dục - Khoa học. công nghệ ~ Sản xuất" (Nguyễn Đăng Tiến, 2001). Giáo dục là yếu tố quan trọng giúp làm giàu nguồn lực con người Đó là quá trình lâm tăng những phẩm. chất, những năng lực của con người đổi với tăng trưởng kinh tế, đây là quá trình làm tăng chất lượng con người.
Trong suốt quá trình hiện đại hóa, giáo dục luôn được coi là một yếu tố quyết định trong việc làm tăng chất lượng con người. như một nguồn lực tạo nên sự tảng trường kinh tế của xã hội. giáo dục luôn luôn được cải cách về nôi dung và phương pháp đánh giá trong giáo dục, theo những đòi hỏi mới của sự phát triển kình tế - xã hội. Muốn có được những con người phù hợp với yêu cẩu xã hội, trong công tác đào tạo và hướng nghiệp, chúng ta cắn phải có những dụng cụ đánh giá Trắc nghiệm với tư cách là một phương pháp tìm hiểu và đánh giá con người nói chung, học sinh nói riêng đã và đang khẳng định giá trị hiêu quả trong sự nghiệp trồng người.
Hiện nay, nhiều nhà tâm lý học và giáo dục học trên thế giới và nước ta đang soạn thảo và thử nghiệm nhiều loại trắc nghiệm trí tuệ khác nhau. Bên cạnh đó là cải biên và định chuẩn các trắc nghiệm có hiệu quả ở các nước phát triển cho phù hợp với từng điều kiện xã hội cụ thể, “Trắc nghiệm trí giác không gian là một trong năm trấc nghiệm trong bộ trắc nghiệm trí tuệ của Hans Eysenck ở lửa tuổi 10 — 15 được biến soạn và đưa ra sử dụng rộng rãi từ năm 1995 ở Anh đã giúp các nhà giáo dục và các bậc phụ huynh học sinh có cơ sở khoa học để lựa chọn và đánh giá khả năng trí giác không gian của học sinh trong học tập và định hướng nghề nghiệp. Để có thể sử dụng trắc nghiêm này trong nhu cẩu tư vấn cho học sinh ở TP. Hỗ Chí Minh nói riêng và Việt Nam nói chung, cải biên và định chuẩn trấc nghiệm này cho phù hợp với sự phát triển trí tuệ của học sinh ở lứa tuổi 10 - 15, phù hợp với nến văn hóa, và điểu kiện nhà trường, xã hội Việt Nam hiện nay là một việc làm thiết thực và có ý nghĩa cao về mặt khoa học.
Vì các lý do trên, nhóm nghiên cứu thực hiện để tài: Cải biến, định chuẩn trắc nghiệm trí giác không gian ca Hans Eysenck cho học sinh từ 10 đến l5 tuổi tại TPHCM, 1.2 Mục đích nghiên cứu của để tài I. Cải biên và định chuẩn trắc nghiệm trì giác không gian của Hans Eysenck dành cho học sinh từ 10 đến 15 tuổi.Từ đó tìm các thông số kỹ thuật cẩn thiết như: độ khó. độ lệch tiêu chuẩn. hệ sổ tin cây của trắc nghiệm, và thành lập một bảng định chuẩn của trắc nghiệm cho học sinh từ 10 đến 15 tuổi.
Tìm hiểu sự khác biệt về kha nang tri giác không gian giữa học sinh. các khối lớp 5,6,7,8,9; giữa học sinh nam và nữ; giữa các trường công lập và bán công thông qua trắc nghiệm này.3 Nhiệm vụ nghiên cứu Từ mục đích, ta có thể đưa ra những nhiệm vụ nghiên cứu như sau: L) Cải biên lại trắc nghiệm trí giác không gian của Hans Eysenck xem có phù hợp bay không với hoàn cảnh văn hóa, xã hội của Việt Nam và phù hợp. trình đô trí giác không gian của học sinh Việt Nam. 2) Tìm ra những thông số kỹ thuật cắn thiết cho trắc nghiệm trị giác không gian : độ khó, độ phân cách, hệ xố tin cậy và đô lệch chuẩn của bài trắc nghiệm.
3) Tìm hiểu độ khó của 80 cầu trắc nghiệm trong hai bài trắc nghiệm trì giác. không gian dành cho lứa tuổi 10 đến 12 tuổi và từ 13 đến 15 tuổi. 4) Tìm hiểu sự khác biệt về khả năng trí giác không gian giữa học sinh lớp 5 với lớp 6, giữa học sinh lớp 7, 8 và 9. 5) Tìm hiểu sự khác biệt về khả năng trí giác không gian giữa học sinh nam.
và học sinh nữ. 6) Tìm hiểu sự khác biệt về khả năng trí giác không gian giữa học sinh trường. công lập và bán công. 7) Thành lập một bảng định chuẩn trắc nghiệm tri giác không gian cho học xinh từ lớp 5 đến lớp 9 dựa trên toàn mẫu, theo các thông số giới tính và cấp học, loại trường.
1,4 Giả thuyết nghiên cứu \. Bài trắc nghiệm tri giác không gian đã được cải biên và định chuẩn. đảm bảo những thông số kỹ thuật của một trắc nghiệm khi áp dụng cho học sinh. lứa tuổi từ 10-— L5.
Có sự khác biệtý nghĩa về khả năng tri giác không gian giữa học sinh lớp 5 với lớp 6, giữa học sinh lớp 7, 8 và 9. Có sự khác biệt ý nghĩa về khả năng trí giác không gian giữa học sinh nam và học sinh nữ. Có sự khác biệt ý nghĩa về khả năng tri giác không gian giữa học xinh trường công lập và bán công, 1.5 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu Đổi tương nghiên cứu: các yếu tố ấu thành khả năng trì giác không gian theo trắc nghiệm trì giác không gian của Hans Eysenck đã được địch thuật, cải biển. Khách thể nghiên cứu: Hà + 320 học sinh các lớp 5.6,7,8,9 của trường tiểu học Khai Minh, quản!, TP.
Hỗ Chí Minh và trường phổ thông trung học cơ sở (PTTHCS) Cẩu Kiệu, quận Phú Nhuận, TP. Hổ Chí Minh tham gia vào giai đoạn cải biên trắc nghiệm. 506 học sinh các lớp 5.6,7,Ñ,9 của trường tiểu học Trương Định, quận 10, TP. Hồ Chí Minh, trường PTTHCS Cách Mạng Tháng Tám quận 10, TP.
Hổ Chí Minh, và trường PTTHCS Đồng Khởi, quận Tân Bình, TP, Hỗ Chí Minh tham gia vào giai đoạn định chuẩn trắc nghiệm.6 Giới hạn nghiên cứu của để tài Khách thể nghiên cứu của để tài chỉ giới han ở học sinh lứa tuổi t 10 đến 15 tuổi ở một số trường Tiểu học và Phổ thông trung học cơ sở tại nội thành TP. Hồ Chí Minh, 1.7 Phương pháp nghiên cứu Những phương phấp chính được sử đụng trong nghiên cứu là a) Phương pháp tham khảo tài liệu : đọc những tài liệu trong nước và ngoài nước có liên quan đến trắc nghiêm trí giác không gian nói riêng và trắc nghiệm trí tuệ nói chung. b) Phương pháp chuyên gia: xin ý kiển các chuyên gia về trắc nghiệm và thống kê về cách chấm điểm trắc nghiệm và cách xử lý số liệu thống kẽ. ©) Phương pháp toán thống kẻ: (nh hệ xố tin cậy theo công thức của Kuder Richardson, tinh 46 phân cách, độ khó.
kiểm nghiém Bartlett, kiểm nghiệm T, .8 Quá trình nghiên cứu 1.1 Giai đoạn l: cải biên trắc nghiệm gồm: = Dich sang tiếng Việt từ mẫu trắc nghiệm gốc của Hans Eysenck (1996) bằng tiếng Anh và chon tữ ngữ cho phù hợp với học sinh Việt Nam. ~ Thử nghiệm bài trắc nghiệm này ở 220 học sinh các lớp 5,6,7,8.9 để xác định một số thông sổ. kỹ thuật cấn thiết của bài trắc nghiệm, làm cơ sở cho công việc định chuẩnở giai đoạn 2. Giai đoan 2: định chuẩn trắc nghiệm.
~ Tiến hành trắc nghiệm 506 học sinh lớp 5,6,7,8,9 với 2 bài trắc nghiệm đã cải biên ở giai đoạn l. ~ Đưa ra bằng định chuẩn của trắc nghiệm này ở các độ tuổi từ 10 đến 15 tuổi. PHẦN THỨ HAI : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỂ THỨC NGHIÊN CỨU 2.1 Lịch sử vấn để nghiên cứu Khả năng trì giác không gian là một trong những thành phần tạo nên khả năng trí tuệ ở con người, Trí tuệ là một trong những tài sản qui giá nhất của trẻ, là một trong những vấn để mà các nhà khoa học, tâm lý học muốn khám phá, do lường để có thể đánh giá nó môi cách chính xác. Đây là một việc làm khó Khăn và ít có ý kiến thống nhất do biểu hiện của trí tuệ rất đa dạng và phong phú.
Theo thời gìan, ta có thể điểm qua quá trình nghiên cứu đánh giá trí tuệ cửa trẻ em nói chung và tri giác không gian của trẻ em nói riêng như sau: Trong những năm đấu của thế kỷ 19, nghiền cứu và các báo cáo của các bức sĩ và nhà giáo dục Pháp (Iurd, Esquirol, và Sequin, và những người khác) đưu đến sự phân biệt giữa sự chậm phát triển trí tuệ và bệnh tâm thần và đưa ra các phương pháp để cải tiến giáo dục và huấn luyện các trẻ chảm phát triển trí tuệ. Sự quan tâm của các nhà toán học, vật lý. sinh vật học ở thế kỹ 19 được thể hiện dưới sự khác biệt cá nhân trong nhận thức và đáp ứng, đã giúp cung cấp điểu kiện thuận lợi cho các nghiên cứu sau này về khả năng trí tuệ. Me Keen Cattell (1890), Francis Galton (1883/1928) là những nhà tâm.
lý học đấu tiên xây dựng những trắc nghiệm trí tug cho tré em, Francis Galton tập trung vào nghiên cứu sự khác biệt về trí thông minh giữa các cá nhân khác nhau. Gahton sự khác biệt đó là do di truyền. Đặc biết Galton đã sử dụng thống kê để chỉ ra mối quan hệ hoặc tương quan giữa các biển số. Phương pháp thống kê của Gallon được Karl Pearson phát triển.
Tuy nhiên, các cố gắng của Galton, Cattell. và những người khác để tạo ra các trắc nghiệm trí tuệ nhanh nhạy, hữu ích đã không thành công Trắc nghiệm trí tuẻ hiện đại thành công đấu tiên là do Alfred Binet va 'Theophile Simon soạn thảo nắm 905, đã đưa ra được mỗi phương pháp thực tế. để c định các cá nhân chậm phát triển và tiên đoán sự thành công hay thất hai trong việc học tập ở trưởng. Hai lấn cải biên thang do lường trí tuệ của Binet-Simon được ấn hành năm 1908 và năm 1911.
Binet và Simon mô tả dạng của thang đo lường cho phép đánh giá trí tuệ, cụ thể họ đã nêu sự khác biệt giữa ba phương pháp: Yhọc (medical) tập trung vào chức nãng sinh lý và bệnh lý học; sư phạm học (pedagogical) xác định trí tuệ dựa trên cơ sở của kiểm tra. kiến thức; và tâm lý học (psychological) tiến hành những quan sắt trực tiếp của trí tuệ. Binet và Simon (1911/1915) nêu rõ mục đích của trắc nghiệm trí tuệ là đánh giá sự thực hiện tối ưu ở trẻ, có nghĩa là đánh giá khả năng của trẻ. Binet và Simon đã nỗ lực đưa ra một thang đo lường của sự khác biệt giữa các cá nhãn về khả năng trí tuế, và trấc nghiệm của họ cũng là một thang đo lường dựu trên lứa tuổi.
đưa ra sự tương đương về tuổi trí tuệ cho trẻ thực hiện trấc nghiệm đó.