Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN 1.Các khái niệm liên quan - Nghệ thuật Nghệ thuật là thuật ngữ được nhiều nhà nghiên cứu chú ý đến và mỗi nhà nghiên cứu nhận định theo những cách khác nhau. Từ góc độ triết học, dẫn theo tác giả Nguyễn Mai Hương thì chủ nghĩa duy tâm chủ quan mà đại diện là nhà triết học người Đức Cantơ (1724 – 1804) giải thích rằng: “nghệ thuật có nguồn gốc từ các trò chơi tưởng tượng của con người. Nghệ thuật là sản phẩm của các trò chơi cá nhân. Nó không liên quan gì đến đời sống xã hội” [20].
Như vậy, theo Cantơ, nghệ thuật là sáng tạo cá nhân của con người, và nó được xem như các dạng “trò chơi” để đáp ứng nhu cầu giải trí của con người. Khác với quan niệm của Cantơ, các nhà duy vật từ thời cổ đại đến hiện đại đều nhận định: “Nghệ thuật là sản phẩm của con người do hoạt động lao động mà có. Nghệ thuật là hình thức bắt chước hoặc tái hiện cuộc sống của con người” [20]. Qua đó, các nhà triết học duy vật cho rằng nghệ thuật có nguồn gốc từ hiện thực khách quan, và người nghệ sỹ giỏi là người có khả năng bắt chước giống như trong tự nhiên.
Trong khi đó, những nhà triết học duy vật biện chứng thì nhìn nhận nghệ thuật là một hình thái ý thức phản ánh sinh hoạt và đấu tranh xã hội. Nghệ thuật không phải là trò chơi du hí tự do, không phải là các hành vi của thánh thần, càng không phải là biểu hiện của ý niệm tuyệt đối, mà là một hoạt động có ý thức do chính cuộc sống lao động của con người tạo ra. 17 Ở một góc độ tiếp cận khác, tác giả Nguyễn Như Ý cho rằng: “nghệ thuật (danh từ): 1. Phương thức phản ánh hiện thực và truyền đạt tư tưởng tình cảm bằng hình tượng: nghệ thuật tạo hình.
Phương pháp tiến hành phân tích sáng tạo: nghệ thuật tổ chức” [35, tr. Như vậy, theo Nguyễn Như Ý, nghệ thuật có thể hiểu theo hai góc độ khác nhau. Thứ nhất xem nghệ thuật là một dạng, một phương thức biểu đạt cảm xúc, tinh thần thông qua hình tượng để phản ánh thực tại cuộc sống. Đó là nền tảng để con người sản sinh ra các loại hình nghệ thuật như điêu khắc, trang trí, sân khấu, điện ảnh,… Thứ hai là xem nghệ thuật dưới dạng một hoạt động phân tích có nhiều tính sáng tạo của con người trong một lĩnh vực cụ thể nào đó.
“Nghệ thuật tổ chức” mà Nguyễn Như Ý lấy làm ví dụ là muốn nhấn mạnh tính sáng tạo của con người trong quá trình tổ chức thực hiện công việc, tính sáng tạo trong việc điều hành nhóm xã hội. Cũng tương đồng với quan điểm của Nguyễn Như Ý, nhưng các tác giả trong cuốn Từ điển Tiếng Việt chi tiết hóa hơn về nội hàm của thuật ngữ “Nghệ thuật” như sau: “Nghệ thuật (dt). Công việc làm có đường lối, phương pháp, để tỏ ý thức, tình cảm hay lý tưởng của mình trên ba chỗ nhằm: chân, thiện và mỹ: Người ta đã thống nhất ý chí về nghệ thuật và sắp chúng theo thứ tự: 1) Âm nhạc, 2) Vũ điệu, 3) Hội họa, 4) Điêu khắc, 5) Kiến trúc, 6) Ca kịch, 7) Điện ảnh; (R) Mánh lới, cách làm có tính toán kỹ: Nghệ thuật làm tiền, nghệ thuật nói chuyện trước đám đông” [24]. Như vậy, các tác giả trong công trình này cũng cho rằng, nếu là danh từ, thì “nghệ thuật” chính là các loại hình nghệ thuật được con người sáng tạo ra và thể hiện các giá trị chân – thiện – mỹ; và nếu là động từ thì đó là những việc làm mà con người đã tính toán kỹ thiệt – hơn trước khi hành động nhằm mang lại hiệu quả của hoạt động cao nhất.
18 Tóm lại, nghệ thuật có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau tùy vào từng thời kỳ lịch sử, từng góc độ tiếp cận của nhà nghiên cứu. Trong luận văn này, họ tiếp cận nghệ thuật theo góc độ là một danh từ như cách phân tích của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học trong cuốn Từ điển tiếng Việt năm 2014. - Hoạt động nghệ thuật Theo khảo cứu của họ thì hiện nay, ở Việt Nam chưa có nhà nghiên cứu, hay tài liệu nào đưa ra khái niệm, định nghĩa về “hoạt động nghệ thuật”. Tuy nhiên, trong bài viết “Văn hóa thẩm mỹ và văn hóa nghệ thuật trong đào tạo bậc sau đại học”, tác giả Tạ Văn Thành cho rằng “hoạt động nghệ thuật” là một thành tố cấu thành nên hệ giá trị của văn hóa nghệ thuật gồm: + Chủ thể nghệ thuật (nghệ sỹ – công chúng nghệ thuật); + Hoạt động nghệ thuật (sáng tạo – thụ cảm các tác phẩm nghệ thuật); + Giá trị nghệ thuật (tác phẩm thuộc các loại hình, loại thể nghệ thuật); + Các thiết chế định hướng, quản lý, phổ biến nghệ thuật và giáo dục nghệ thuật [26].
Như vậy theo nhà nghiên cứu Đặng Văn Thành thì “hoạt động nghệ thuật” bao gồm hai khía cạnh sau: + Hoạt động sáng tạo nghệ thuật Hoạt động sáng tạo nghệ thuật này do nhóm người tham gia quá trình sản xuất, sáng tạo ra một sản phẩm nghệ thuật nào đó. Nếu là nghệ thuật múa thì đó là đạo diễn, biên đạo, huấn luyện, diễn viên. + Hoạt động thụ cảm – hay có thể hiểu đó là hoạt động tiêu dùng, hưởng thụ các loại hình nghệ thuật của công chúng. Trên thực tế, hai nhóm hoạt động này luôn tồn tại biện chứng với nhau, quyết định sự tồn tại của nhau.
Rõ rằng nếu không có hoạt động thụ cảm – hưởng thụ - tiêu dùng của công chúng thì hoạt động sáng tạo của người nghệ sỹ trước sau gì cũng mai một, chấm dứt. 19 Trong luận văn này, họ tiếp cận “hoạt động nghệ thuật” theo nghĩa đó là những hoạt động sáng tạo nghệ thuật. Theo đó, để đáp ứng nhu cầu vui chơi giải trí, nghệ thuật của sinh viên Trường SGU, Hội Sinh viên trường đã tạo ra những chương trình nghệ thuật. - Tổ chức, công tác tổ chức, tổ chức hoạt động nghệ thuật + Tổ chức Theo góc độ triết học, tác giả Lê Duẩn định nghĩa “Tổ chức, nói rộng là cơ cấu tồn tại của sự vật.
Sự vật không thể tồn tại mà không có một hình thức liên kết nhất định các yếu tố thuộc nội dung. Tổ chức vì vậy là thuộc tính của bản thân các sự vật” [9, tr. Như vậy, tác giả Lê Duẩn cho rằng là thuộc tính vốn có của mọi sự vật. Đó chính là cơ chế liên kết giữa các yếu tố bên trong của sự vật đó.
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng, tổ chức với ý nghĩa hẹp là “tập thể của con người tập hợp nhau lại để thực hiện một nhiệm vụ chung hoặc nhằm đạt tới một mục tiêu xác định của tập thể đó” [6, tr. Góc độ tiếp cận này khác với tác giả Lê Duẩn. Tác giả Đặng Quốc Bảo nhấn mạnh đến yếu tố xã hội của con người khi bàn đến nội hàm của thuật ngữ “tổ chức”. Theo góc độ đó thì “tổ chức” có thể được xem là một dạng “nhóm xã hội” người được hình thành khi các nhóm này có chung một nhiệm vụ, một mục tiêu để hướng đến trong tương lai.
Cùng quan điểm trên, trong cuốn “Sổ tay nghiệp vụ cán bộ làm công tác tổ chức nhà nước”, các tác giả nhận định “Tổ chức là một đơn vị xã hội, được điều phối một cách có ý thức, có phạm vi tương đối rõ ràng, hoạt động nhằm đạt được một hoặc nhiều mục tiêu chung (của tổ chức) [5, tr. Tác giả Nguyễn Như Ý trong công trình của mình cũng cho rằng tổ chức là “Tập hợp những người được tổ chức theo cơ cấu nhất định để hoạt động vì lợi ích chung: tổ chức thanh niên, tổ chức công đoàn” [35, tr. 20 Tuy nhiên, khác với các nhà nghiên cứu trên, Nguyễn Như Ý còn nhấn mạnh đến nội hàm của thuật ngữ “tổ chức” dưới góc độ là một động từ. Theo đó, ông cho rằng thuật ngữ “tổ chức” có thể hiểu theo các nghĩa là “1.
Sắp xếp, bố trí thành các bộ phận để cùng thực hiện một nhiệm vụ hoặc cùng một chức năng chung: tổ chức lại các phòng trong cơ quan; tổ chức lại đội ngũ cán bộ; 2. Sắp xếp, bố trí để làm cho có trật tự, nền nếp: tổ chức đời sống gia đình, tổ chức lại nề nếp sinh hoạt; 3. Tiến hành một công việc theo cách thức, trình tự nào: tổ chức hội nghị; tổ chức hôn lễ” [35, tr. Tóm lại, thuật ngữ “tổ chức” có thể được hiểu theo 02 góc độ khác nhau.
Trong luận văn này, họ sử dụng thuật ngữ “tổ chức” theo nghĩa thứ 03 của tác giả Nguyễn Như Ý như đã trích dẫn trên. Nghĩa là xem tổ chức là “Tiến hành một công việc theo cách thức, trình tự nào đó”. + Công tác tổ chức Sau quá trình nghiên cứu các tư liệu khoa học, chúng tôi không tìm được các khái niệm, định nghĩa đối với thuật ngữ “công tác tổ chức”. Tuy nhiên, tác giả Vũ Anh Tuấn trong bài viết “Công tác tổ chức – một hướng tiếp cận” đã đề cập đến thuật ngữ này như sau: + Thứ nhất, công tác tổ chức là quá trình tổ chức, sắp xếp các hoạt động theo một trật tự nhất định để thực hiện hiệu quả một công việc nhằm đạt được mục tiêu đã đặt ra.
Ví dụ: tổ chức một hội nghị với một chương trình nghị sự nhằm quán triệt và thống nhất phương pháp để thực hiện hiệu quả mục tiêu đã được xác định,… + Thứ hai, công tác tổ chức với nghĩa là một bộ phận/một cơ quan thực hiện chức năng tham mưu, giúp cho các cấp lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị và bộ máy nhà nước. Ví dụ: Ban Tổ chức, Bộ Nội vụ, Vụ Tổ chức, Phòng Tổ chức,…. 21 + Thứ ba, công tác tổ chức là một tập hợp tạo thành một đơn vị, cơ quan, một hệ thống (tổ chức bộ máy) với những chức năng và nhiệm vụ nhất định nhằm thực hiện và đạt được mục tiêu chung đã được xác định. Đó là một tập hợp người tương thích với một lĩnh vực nhất định trong hệ thống lãnh đạo, quản lý.
Là chức năng - nhờ đó, công tác lãnh đạo, quản lý duy trì sự ổn định, phát triển của một “cơ quan hành chính”, với một tập hợp bao gồm các thành viên có sự thống nhất cao trong việc thực hiện các nhiệm vụ hướng tới mục tiêu đã được xác định.