CHƯƠNG 1 Trong chương này, tác giả đưa ra những cơ sở lý luận tổng quan về đề tài như: lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, phương pháp và mô hình nghiên cứu bắt nguồn từ các lý do khách quan lẫn chủ quan khác nhau. Từ tính cấp thiết của đề tài tác giả trình bày mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu cũng như ý nghĩa thực tiễn và lý thuyết của đề tài nghiên cứu. Trong chương tiếp theo, tác giả sẽ trình bày về cơ sở lý thuyết của đề tài nghiên cứu. CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chính sách công được làm ra bởi nhà nước.
Các chính sách hỗ trợ tài chính cũng được ban hành bởi Nhà nước nhằm mục tiêu an sinh xã hội cho nên các chính sách hỗ trợ này là một bộ phận của chính sách công. Trước khi đi vào nghiên cứu thực tiễn việc thực hiện các chính sách hỗ trợ để làm rõ vấn đề nghiên cứu cần tìm hiểu tổng qua lý thuyết liên quan đến chính sách công, ý nghĩa của chính sách công trong việc duy trì sự tồn tại và phát triển của nhà nước, phát triển kinh tế-xã hội và phục vụ người dân. Tổng quan về chính sách công 2. Khái niệm chính sách công Chính sách công (CSC) là chính sách được ban hành bởi nhà nước, ra đời, tồn tại và phát triển cùng với sự ra đời, tồn tại và phát triển của nhà nước.
CSC đóng vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. CSC là kết quả ý chí chính trị của Nhà nước thể hiện thông qua một tập hợp các quyết định liên quan đến nhau, gồm các định hướng mục tiêu và các cách thức giải quyết các vấn đề còn tồn tại trong xã hội nhằm mục tiêu an sinh xã hội và phát triển đất nước. Hay còn được hiểu như sau: CSC là chính sách của nhà nước, là kết quả cụ thể hóa chủ trương, đường lối của đảng cầm quyền thành các quyết định, tập hợp các quyết ddingj chính trị có liên quan với nhau, với mục tiêu, giải pháp, công cụ cụ thể nhằm giải quyết các vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, duy trì sự tồn tại và phát triển của nhà nước, phát triển kinh tế- xã hội và phục vụ người dân. Do đó, CSC có vai trò Hay còn được hiểu như sau: CSC là chính sách của nhà nước, là kết quả cụ thể hóa chủ trương, đường lối của đảnq cầm quyền thành các quyết định, tập hợp các quyết định chính trị có liên quan với nhau, với mục tiêu, giải pháp, công cụ cụ thể nhằm giải quyết các vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, duy trì 7 sự tồn tại và phát triển của nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội và phục vụ người dan.
Do đó CSC có vai trò và ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quản trị quốc gia. Bản chất chính sách công CSC là các chính sách của nhà nước đối với khu vực công cộng, phản ánh bản chất, tính chất của nhà nước và chế độ chính trị trong đó có nhà nước tồn tại; đồng thời phản ánh ý chí, quan điểm, thái độ, cạc xử sự của đảng chính trị phục vụ cho mục đích của đảng, lợi ích và nhu cầu của nhân dân. Nhà nước dựa trên nền tảng của nhân dân, là chủ thể đại diện cho quyền lực nhân dân ban hành CSC. Ngoài mục đích phục vụ giai cấp, của đảng cầm quyền còn để mưu cầu lợi ích cho người dân và xã hội.
CSC được hoạch định bởi đảng chính trị nhưng do chính phủ xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện. Bản chất của CSC là để nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, thực hiện các hoạt động liên quan đến công dân và can thiệp vào hành vi xã hội trong quá trình phát triển. CSC là ý chí chính trị của đảng cầm quyền, được thể hiện thông qua các quyết sách, quyết định chính trị của nhà nước. Các quyết định này nhằm duy trì trạng thái xã hội hoặc giải quyết các vấn đề tồn tại trong xã hội, đáp ứng nhu cầu của người dân.
Ý chí chính trị của đảng cầm quyền được cụ thể hóa bằng chính sách, thông qua đó thiết lập các mối quan hệ giữa đảng, nhà nước và người dân. Thông qua CSC đảng cầm quyền dẫn dắt các quan hệ trong xã hội theo định hướng của đảng. Các cá nhân trong xã hội là những đối tượng trực tiếp thụ hưởng và thực hiện chính sách. Vì vậy, các chính sách chỉ có hiệu lực, hiệu quả thực sự khi được các cá nhân trong xã hội tiếp nhận và thực hiện.
Để đạt được điều đó thì điều kiện là chính sách công phải được triển khai một cách rộng rãi, minh bạch, ổn định, dễ hiểu và vai trò chủ thể CSC phải là công chúng, mặc dù người khởi xướng của các chính sách này là nhà nước. Vai trò của chính sách công Vai trò của CSC thể hiện ở chỗ là công cụ hữu hiệu chủ yếu để nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, duy trì sự tồn tại và phát triển của nhà 8 nước, phát triển kinh tế-xã hội và phục vụ người dân. Dưới góc nhìn của quản lý, quản trị quốc gia, nhà nước sử dụng CSC như một công cụ quan trọng, hữu hiệu tác động vào các lĩnh vực đời sống xã hội để đạt được mục tiêu định hướng của nhà nước. Ngoài vai trò này, CSC còn có một số vai trò cụ thể sau: Thứ nhất, định hướng mục tiêu cho các chủ thể tham gia hoạt động kinh tế- xã hội.
Do chính sách phản ánh thái độ, cách cư xử của nhà nước lên các chủ thể trong xã hội, giúp họ vận động và đạt được những giá trị tương lai mà nhà nước mong muốn. Giá trị đó chính là mục tiêu phát triển phù hợp với những nhu cầu cơ bản của đời sống xã hội. Nếu các chủ thể kinh tế, xã hội hoạt động theo định hướng tác động của chính sách thì không những dễ dàng đạt được mục tiêu phát triển phù hợp với những nhu cầu cơ bản của đời sống xã hội. Nếu các thể kinh tế, xã hội hoạt động theo định hướng tác động của chính sách thì không những dễ dàng đạt được mục tiêu phát triển mà còn nhận những ưu đãi từ phía nhà nước hay xã hội.
Điều đó có nghĩa là, cùng với mục tiêu định hướng, cách thức tác động của CSC cũng có vai trò định hướng cho các chủ thể hành động. Thứ hai, tạo động lực cho các đối tượng tham gia hoạt động kinh tế-xã hội theo mục tiêu chung. Muốn đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội chung, nhà nước phải ban hành nhiều chính sách, trong đó mỗi loại chính sách lại có những tác động mang tính tích cực đối với các chủ thể thuộc mọi thành phần như: miễn giảm thuế, tạo cơ hội tiếp cận với nguồn vốn có lãi suất ưu đãi, ban hành những thủ tục hành chính đơn giản và các chính sách hỗ trợ đặc biệt khác. Sự tác động CSC không mang tính bắt buộc mà chỉ khuyến khích các chủ thể hành động theo ý chí của nhà nước.
Chẳng hạn, để tăng cường đầu tư vào nền kinh tế, nhà nước ta ban hành các chính sách khuyến khích các chủ thể trong nước và nước ngoài tích cực đầu tư vào các ngành, lĩnh vực hay những vùng cần được ưu tiên phát triển. 9 Thứ ba, phát huy mặt tích cực, đồng thời khắc phục những hạn chế của nền kinh tế thị trường. Trong nền kinh tế thị trường, quy luật cạnh tranh và các quy luật thị trường khác đã thúc đẩy mỗi chủ thể trong xã hội đầu tư vào sản xuất kinh doanh, không ngừng đổi mới nâng cao năng suất lao động, kỹ thuật công nghệ, chất lượng sản phẩm, hạ giá thành shội, tổ chức đều được hưởng lợi: hàng hóa và dịch vụ tăng về số lượng, đa dạng, phong phú về chủng loại, mẫu mã, thương hiệu, chất lượng ngày càng được nâng cao với giá tiêu dung ngày càng rẻ. Nhưng sự vận hành của quy luật thị trường cũng gây ra những mặc tiêu cực hay còn gọi là mặt trái của thị trường như: độc quyền trong sản xuất cung ứng không đầy đủ hàng hóa công cộng, sự bất công bằng, chênh lệch giàu nghèo và thất nghiệp gia tăng, bất ổn định kinh tế vĩ mô, các lớn nuốt các bé…gây ảnh hưởng không tốt lên toàn bộ đời sống xã hội.
Trong tình hình đó, nhà nước phải sử dụng hệ thống CSC để giải quyết những vấn đề bất cập về kinh tế, khắc phục những mặt trái của kinh tế thị trường thông qua các chính sách trợ cấp, hỗ trợ, cung ứng các dịch vụ công do các doanh nghiệp nhà nước, các đơn vị sự nghiệp công hay hội, tổ chức phi chính phủ thực hiện. Thứ tư, tạo lập các cân đối trong phát triển kinh tế- xã hội. Để phát triển kinh tế-xã hội một cách ổn định bền vững, nhà nước phải dung chính sách để tạo lập các cân đối vĩ mô cơ bản như cân đối vĩ mô cơ bản như sự cân đối giữa hàng-tiền, cung-cầu, xuất-nhập khẩu, tiết kiệm-tiêu dung. Đồng thời, nhà nước còn dung các CSC để đảm bảo sự phát triển cân đối giữa các vùng miền của đất nước.
Thứ năm, kiểm soát và phân bổ các nguồn lực trong xã hội Nhà nước luôn luôn quan tâm đến quản lý, khai thác và sử dụng các nguồn lực cho phát triển. Mục tiêu phát triển bền vững bao gồm cả gia tăng về số lượng và cải thiện về chất trong hiện tại và tương lai, vì thế tài nguyên tự nhiên và xã hội của một quốc gia là các hữu hạn luôn trở thành vấn đề quan tâm chính yếu của nhà nước. Để sử dụng có hiệu quả tài nguyên theo hướng bền vững, nhà nước thông 10 qua các chính sách thực hiện kiểm soát quá trình khai thác, phân bổ hợp lý và sử dụng nguồn tài nguyên, các nguồn lực trong xã hội, ví dụ như chính sách xây dựng vùng kinh tế mới, chính sách xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất, chính sách đất đai, chính sách thuế, chính sách bảo vệ tài nguyên, môi trường… Thứ sáu, tạo môi trường thích hợp cho các hoạt động kinh tế - xã hội.