Luận văn thạc sĩ ueh các yếu tố quyết định sự thu hút khách hàng mua sắm của các trung tâm thương mại truờng hợp thành phố hồ chí minh

Nghiên cứu các yếu tố quyết định sự thu hút khách hàng tại các trung tâm thương mại ở TP Hồ Chí Minh, mang lại cái nhìn sâu sắc cho doanh nghiệp.

Chuyên ngành

Kinh doanh Thương mại

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án Tiến sĩ

2016

343
2
0

Phí lưu trữ

75 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về các yếu tố thu hút khách hàng tại TTTM TP

Trung tâm thương mại (TTTM) tại TP.HCM đang trở thành điểm đến hấp dẫn cho người tiêu dùng. Sự phát triển nhanh chóng của ngành bán lẻ đã tạo ra một môi trường cạnh tranh khốc liệt. Các yếu tố như không gian giải trí, dịch vụ khách hàng và thương hiệu nổi tiếng đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút khách hàng. Nghiên cứu này sẽ phân tích các yếu tố quyết định sự thu hút khách hàng tại các TTTM.

1.1. Đặc điểm của thị trường TTTM tại TP.HCM

Thị trường TTTM tại TP.HCM có sự đa dạng về mô hình và quy mô. Các TTTM lớn như Vincom, Takashimaya không chỉ cung cấp hàng hóa mà còn tạo ra không gian giải trí phong phú. Điều này giúp thu hút một lượng lớn khách hàng đến tham quan và mua sắm.

1.2. Vai trò của trải nghiệm mua sắm trong TTTM

Trải nghiệm mua sắm là yếu tố then chốt trong việc thu hút khách hàng. Các TTTM hiện đại không chỉ chú trọng đến sản phẩm mà còn đầu tư vào không gian và dịch vụ để tạo ra trải nghiệm tốt nhất cho khách hàng.

II. Các thách thức trong việc thu hút khách hàng tại TTTM TP

Mặc dù có nhiều yếu tố thu hút, nhưng các TTTM tại TP.HCM cũng phải đối mặt với nhiều thách thức. Cạnh tranh từ các kênh bán lẻ trực tuyến và sự thay đổi trong hành vi tiêu dùng của khách hàng là những vấn đề cần được giải quyết. Việc duy trì sự hấp dẫn và cải thiện dịch vụ khách hàng là rất quan trọng.

2.1. Cạnh tranh từ thương mại điện tử

Sự phát triển của thương mại điện tử đã tạo ra áp lực lớn cho các TTTM. Khách hàng ngày càng ưa chuộng mua sắm trực tuyến vì tính tiện lợi và giá cả cạnh tranh. Điều này khiến các TTTM phải tìm cách cải thiện dịch vụ và trải nghiệm mua sắm.

2.2. Thay đổi trong hành vi tiêu dùng

Khách hàng hiện nay có xu hướng tìm kiếm những trải nghiệm độc đáo và khác biệt. Các TTTM cần phải nắm bắt được xu hướng này để điều chỉnh chiến lược kinh doanh của mình.

III. Phương pháp thu hút khách hàng hiệu quả tại TTTM TP

Để thu hút khách hàng, các TTTM cần áp dụng những phương pháp hiệu quả. Việc cải thiện không gian mua sắm, cung cấp dịch vụ khách hàng tốt và tổ chức các sự kiện hấp dẫn là những cách làm hiệu quả.

3.1. Cải thiện không gian mua sắm

Không gian mua sắm cần được thiết kế hợp lý, tạo cảm giác thoải mái cho khách hàng. Việc bố trí các khu vực giải trí và ăn uống cũng rất quan trọng để giữ chân khách hàng lâu hơn.

3.2. Tổ chức sự kiện và chương trình khuyến mãi

Các sự kiện và chương trình khuyến mãi hấp dẫn có thể thu hút đông đảo khách hàng đến TTTM. Việc kết hợp giữa mua sắm và giải trí sẽ tạo ra trải nghiệm thú vị cho khách hàng.

IV. Ứng dụng thực tiễn từ nghiên cứu về TTTM tại TP

Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng việc áp dụng các yếu tố thu hút khách hàng có thể mang lại kết quả tích cực cho các TTTM. Các TTTM cần phải thường xuyên đánh giá và điều chỉnh chiến lược của mình để phù hợp với nhu cầu của khách hàng.

4.1. Kết quả từ các TTTM thành công

Nhiều TTTM thành công tại TP.HCM đã áp dụng các chiến lược thu hút khách hàng hiệu quả. Họ không chỉ chú trọng đến sản phẩm mà còn đầu tư vào trải nghiệm mua sắm và dịch vụ khách hàng.

4.2. Bài học từ các TTTM thất bại

Các TTTM thất bại thường không chú trọng đến nhu cầu của khách hàng và không có sự đổi mới trong dịch vụ. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc lắng nghe và đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

V. Kết luận và triển vọng tương lai cho TTTM tại TP

Tương lai của các TTTM tại TP.HCM phụ thuộc vào khả năng thích ứng với thị trường và nhu cầu của khách hàng. Việc đầu tư vào công nghệ và cải thiện dịch vụ sẽ là chìa khóa để thu hút khách hàng trong thời gian tới.

5.1. Xu hướng phát triển của TTTM

Các TTTM sẽ tiếp tục phát triển theo hướng hiện đại hóa và tích hợp công nghệ. Việc áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý và dịch vụ khách hàng sẽ giúp nâng cao trải nghiệm mua sắm.

5.2. Tầm quan trọng của sự đổi mới

Sự đổi mới trong dịch vụ và sản phẩm sẽ giúp các TTTM duy trì sức hấp dẫn. Các TTTM cần phải thường xuyên cập nhật và cải tiến để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh các yếu tố quyết định sự thu hút khách hàng mua sắm của các trung tâm thương mại truờng hợp thành phố hồ chí minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN 1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1.1 Sự thu hút của ngành bán lẻ Việt Nam Định nghĩa của Webster Dictionary Online ghi rằng “Sự thu hút là điều gì đó hấp dẫn hoặc thú vị mà con người muốn ghé thăm, muốn xem, hoặc muốn làm hay là điều gì đó thu hút hoặc có ý thu hút con người bằng cách hấp dẫn những mong muốn và thị hiếu của họ”. Hay đơn giản về mặt vật lý, “sự thu hút được hiểu như là một lực qua đó vật này thu hút một vật khác” (dictionary. Tuy vậy, sự thu hút cũng có thể phân thành hai cấp độ: sự thu hút sơ cấp và sự thu hút thứ cấp. Sự thu hút sơ cấp được hiểu là những ấn tượng đầu tiên tác động vào giác quan của người đối diện (ví dụ như âm thanh, ánh sáng, hình ảnh …) trong lần gặp đầu tiên.

Đặc điểm của sự thu hút sơ cấp là phải có sức tác động mạnh mẽ, rõ rệt, ấn tượng nổi bật hơn hẳn. Sự thu hút sơ cấp tác động vào giác quan và khơi gợi nên sự tò mò chú ý từ người khác, lôi cuốn ánh nhìn đầu tiên của họ. Ngoài ra, đó còn có thể là một nét đặc trưng thú vị, đặc biệt có lợi thế về một mảng nào đó làm cho người đối diện cảm thấy thích thú. Những câu trả lời thuộc về sự thu hút sơ cấp có thể là: Xuất hiện trong tâm trí đầu tiên; Ấn tượng, lôi cuốn từ ánh nhìn; Mới mẻ, khác biệt; Gây được sự chú ý và tò mò; Nổi bật hơn hẳn so với những cái khác; hoặc Có nét đặc trưng thú vị.

Tiếp theo sự thu hút sơ cấp sẽ là sự thu hút thứ cấp. Sự thu hút thứ cấp có thể hiểu là một quá trình xuất phát từ sự thu hút về giác quan dẫn đến sự thôi thúc mong muốn lại gần khám phá, tìm hiểu nhằm thỏa mãn sự tò mò, thích thú của người khác, từ đó có những hành động cụ thể (ví dụ như dừng lại để xem, đến gần hơn để xem, thích thú khi trải nghiệm…). Những câu trả lời thuộc về sự thu hút thứ cấp có thể là: Khiến khách hàng muốn đặt chân đến; Tạo được sự thích thú khi trải nghiệm; Giữ chân được khách hàng, khiến khách hàng cứ muốn nán lại khám phá, tìm hiểu, trải nghiệm nhiều hơn nữa; Sự chắc chắn quay trở lại; và Khách hàng nồng nhiệt giới thiệu với bạn bè. Có thể thấy sự thu hút thứ cấp là cấp độ cao hơn của sự thu hút sơ cấp, nó đòi hỏi phải có các nhân tố tác động mạnh mẽ từ giác quan và thúc đẩy hành động của khách hàng.

Mặc dù đa phần con người dễ bị kích thích, khơi dậy sự tò mò nhưng người tiêu dùng thông thường lại bị động trước các tác nhân thu hút. Ví dụ như, khi thấy điều gì đó mới lạ, thú vị họ chỉ nhìn, hoặc ngần ngại quan sát từ xa. Do đó, có thể dễ dàng bắt gặp những nhân viên bán hàng với nét mặt rạng rỡ và câu nói thường trực nơi cửa miệng “Mời anh/chị ghé vào xem”. Những nhân viên bán hàng này làm nhiệm vụ thúc đẩy quá trình từ sự thu hút giác quan dẫn đến những hành động cụ thể của khách hàng.

Và việc khiến khách hàng đặt chân đến gian hàng của mình được xem như là thành công bước đầu của họ. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Vậy sự thu hút có thể được hiểu như thế nào trong một lĩnh vực cụ thể như lĩnh vực kinh doanh và nó có tầm quan trọng như thế nào với một doanh nghiệp nói riêng hay một quốc gia nói chung. Như chúng ta biết trong hơn hai thập niên qua, Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng hơn trên thị trường quốc tế, từ việc tham gia vào Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á đến việc trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới và gần hơn nữa sẽ là việc chính thức đánh dấu sự ra đời của Cộng đồng Kinh tế ASEAN vào cuối năm 2015. Sự cạnh tranh đương nhiên sẽ rất khốc liệt.

Xét ở khía cạnh vĩ mô, Việt Nam đang phải làm nhiều cách và đồng thời phải đưa ra nhiều chính sách nhằm thu hút đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài tham gia thị trường Việt Nam thay vì đầu tư vào các quốc gia khác. Điều này sẽ giúp tạo thêm nguồn vốn từ đầu tư trực tiếp nước ngoài cho quốc gia và hơn nữa sẽ giúp cho đời sống người dân ngày càng cải thiện hơn. Xét ở khía cạnh vi mô, thị trường lúc này không chỉ có các doanh nghiệp trong nước mà còn có các doanh nghiệp nước ngoài cùng nhau chia sẻ thị phần bằng các chương trình tiếp thị hiệu quả nhằm thu hút khách hàng về phía mình, từ đó nâng cao doanh số và lợi nhuận cho doanh nghiệp. Ở một góc nhìn khách quan, chúng ta tự hỏi Việt Nam có gì hấp dẫn và tại sao các quốc gia trên thế giới cần tìm hiểu khi thể hiện sự mong muốn mở rộng kinh doanh toàn cầu.

Việt Nam là một quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á, phía bắc giáp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, phía tây giáp nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và Vương quốc Cam- pu-chia, phía đông và nam giáp Biển Đông. Việt Nam có hơn 90 triệu người thuộc 54 nhóm dân tộc khác nhau, cùng chung sống trên mảnh đất hình “chữ S” với diện tích 331.000 km bờ biển. Ba phần tư đất đai của Việt Nam là đồi núi và đất trồng trọt chỉ chiếm khoảng 28% tổng diện tích đất. (Ban Chỉ đạo Tổng Điều tra Dân số và Nhà ở Trung Ương, Kết quả điều tra mẫu mở rộng của Tổng Điều tra Dân số Việt Nam 2013.) Năm 1986, sau hàng thập kỷ chiến tranh và xây dựng đất nước, Việt Nam đã tiến hành cải tổ nền kinh tế theo hướng đổi mới, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Trong gần ba thập kỷ qua, Việt Nam là một trong những nền kinh tế hoạt động hiệu quả trên thế giới với GDP và tỷ lệ thu nhập tính trên đầu người tăng trưởng nhanh. Theo Tổng Cục thống kê, GDP bình quân đầu người Việt Nam tăng từ 700 USD năm 2005 lên 2. Tuổi thọ của người dân Việt Nam ngày càng cao hơn và sức khỏe tốt hơn. Nhìn chung cuộc sống đã khấm khá hơn so với 25 năm trước đây.

Ngay cả trong thời kỳ suy thoái kinh tế, mặc dù tỷ lệ lạm phát cao song tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam vẫn tiếp tục tăng lên tới 5,98% năm 2014 (Tổng Cục Thống kê). 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Tăng trưởng GDP 2004 – 2014 của Việt Nam (Đơn vị: %) 8.03 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 Nguồn: Tổng Cục Thống kê, 2014 Biểu đồ 1.2: GDP bình quân đầu người Việt Nam (Đơn vị: USD/năm) 2028 1899 1749 1517 1273 1145 1160 919 796 636 552 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 Nguồn: Tổng Cục Thống kê, 2014 Theo đà tăng trưởng kinh tế đầy ấn tượng đó, cùng với việc đầu tư vào các chương trình xã hội, Việt Nam hiện đang phấn đấu để trở thành nước có mức thu nhập trung bình và sẽ đạt được hầu hết tất cả các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ của Liên Hợp quốc ở cấp quốc gia theo đúng kế hoạch đặt ra vào cuối năm 2015. Đây cũng sẽ là thời điểm ấn định sự ra đời của 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cộng đồng Kinh tế ASEAN, viết tắt là AEC (ASEAN Economic Community), cũng như đánh dấu một bước tiến vượt bậc về hội nhập kinh tế của toàn khối ASEAN. AEC nhằm tạo nên một thị trường đơn nhất, một không gian sản xuất chung với năm yếu tố được lưu chuyển tự do, bao gồm: hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, vốn và lao động giữa 10 quốc gia thành viên.

Thuế suất sẽ cắt giảm dần về 0% gần như với tất cả mặt hàng. Đồng thời AEC sẽ nhằm khai thác tối đa các ưu đãi thương mại từ các đối tác ký kết Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) với ASEAN và với mỗi nước thành viên, như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, New Zealand…Như vậy, sau cột mốc năm 2006 khi Việt Nam chính thức là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) thì đây sẽ là cột mốc quan trọng thứ hai thể hiện sự hội nhập quốc tế sâu và rộng của Việt Nam. Trong bối cảnh hội nhập đó, gần như tất cả các ngành kinh doanh đều ít nhiều chịu sự tác động mà trong đó không thể không ảnh hưởng đến ngành bán lẻ trong nước. Tính đến nay có thể nói ngành bán lẻ đã ghi nhận những bước chuyển mình mạnh mẽ, từ ngành kinh tế độc quyền nhà nước sang cạnh tranh theo hướng thị trường từ năm 1995.

Cụ thể là, doanh số thị trường bán lẻ Việt Nam luôn tăng ở mức hai con số và có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong mười một nước châu Á (Hồng Dung, 2013). Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá thực tế của cả nước tăng đều từ năm 1995 đến năm 2014, từ xấp sỉ 122.000 tỷ đồng lên đến gần 2. Tốc độ tăng trưởng này còn được thể hiện qua sự phát triển mạnh mẽ số lượng các chợ, siêu thị và trung tâm thương mại, từ con số vài trăm chợ, 10 siêu thị và 2 trung tâm thương mại vào năm 1995 lên đến 8.547 chợ, 659 siêu thị và 115 trung tâm thương mại vào năm 2012 (Tổng Cục Thống kê, 2013). Các chợ truyền thống điển hình có thể kể đến như chợ Đồng Xuân (Hà Nội), chợ Đông Ba (Huế), chợ Bến Thành (TP.

Các hệ thống bán lẻ điển hình có thể kể đến là Saigon Co.opmart thuộc Liên hiệp HTX Thương mại Thành phố với 2 đại siêu thị liên doanh với NTUC FairPrice tại Thủ Đức và Maple Tree tại Quận 7 và 79 siêu thị, Maximark thuộc Công ty Cổ phần Đầu tư An Phong với 6 siêu thị, BigC thuộc Tập đoàn Casino (Pháp) với 31 siêu thị, Lotte Mart thuộc tập đoàn Lotte (Hàn Quốc) với 10 siêu thị. Ngoài ra, còn có hệ thống các trung tâm thương mại lớn như Tập đoàn Lion (Malaysia) với 9 trung tâm thương mại Parkson; Tập đoàn Vingroup với 7 trung tâm thương mại và 2 Mega mall; Tập đoàn AEON (Nhật Bản) với 2 trung tâm thương mại.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ