Chương 1: Giới thiệu tác giả trình bày tóm lược vấn đề nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu và kết cấu luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước, trình bày tổng quan các khái niệm và lý thuyết di cư trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Chương 3: Trình bày phương pháp nghiên cứu và thiết kế nghiên cứu. Đề xuất mô hình nghiên cứu và mô tả dữ liệu nghiên cứu, nguồn dữ liệu được lấy để thực hiện nghiên cứu.
Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu: trình bày tổng quan về tình hình di cư ở Việt Nam hiện nay. Đồng thời, trình bày phân tích thống kê mô tả, kết quả phân tích của các mô hình kinh tế lượng. Luận văn tốt nghiệp Học viên thực hiện: Lê Thanh Kiều 6 Chương 5: Kết luận và kiến nghị chính sách: Trình bày kết luận và gợi ý chính sách liên quan. Nêu hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài.
Luận văn tốt nghiệp Học viên thực hiện: Lê Thanh Kiều 7 CHƢƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU TRƢỚC Trong chương này, trình bày cơ sở lý thuyết kinh tế học liên quan đến di cư. Đồng thời trình bày về các nghiên cứu trước có liên quan đến nội dung đề tài nghiên cứu. Từ cơ sở lý thuyết và kế thừa các nghiên cứu trước, tác giả xây dựng mô hình lý thuyết cho nghiên cứu của mình.
Lý thuyết về sự di cƣ. Khái niệm di cƣ. Hiện nay, chúng ta vẫn chưa có một định nghĩa chung nào về di cư. Một số định nghĩa di cư phổ biến có thể nói đến như sau: “Di cư (migration): Sự di chuyển của một người hay một nhóm người, kể cả qua một biên giới quốc tế hay trong một quốc gia.
Là sự di chuyển dân số, bao gồm bất kể loại di chuyển nào của con người, bất kể độ dài, thành phần hay nguyên nhân; nó bao gồm di cư của người tị nạn, người lánh nạn, người di cư kinh tế và những người di chuyển vì mục đích khác, trong đó có đoàn tụ gia đình. “Di dân là một hình thức di chuyển trong không gian của con người từ một đơn vị điạ lý hành chính này đến một đơn vị hành chính khác, kèm theo sự thay đổi chỗ ở thường xuyên trong khoảng thời gian di dân xác định” (Liên hiệp quốc, 1958). Định nghĩa này đã loại ra những trường hợp người sống lang thang, dân du mục, di dân theo mùa vụ và di dân theo kiểu con lắc (đi về hàng ngày). Nhìn chung, ở đa số các nước, dân di cư di chuyển ra khỏi giới hạn hành chính của một thành phố, tỉnh, huyện trong một khoảng thời gian xác định được xem là di dân.
Theo Tổng cục Thống kê (2009), người di cư được định nghĩa là những người có nơi thường trú tại thời điểm 1 năm trước thời điểm điều tra khác với nơi thường trú hiện tại. Người không di cư là những người có nơi thường trú tại thời điểm 1 năm trước thời điểm điều tra cũng là nơi thường trú hiện tại. Trong nghiên cứu này tác giả lấy số liệu di cư dựa vào định nghĩa của Tổng cục Thống kê. Luận văn tốt nghiệp Học viên thực hiện: Lê Thanh Kiều 8 2.
Các hình thức di cƣ cơ bản. Theo Nguyễn Thị Thiềng và Lưu Bích Ngọc (2011), có nhiều cách phân loại di dân theo các góc độ khác nhau tùy thuộc vào mục đích phân tích. Dưới đây là một số cách phân loại chủ yếu: Theo độ dài thời gian cư trú: có các hình thức di dân lâu dài, tạm thời và chuyển tiếp. Di dân lâu dài bao gồm người di chuyển đến nơi mới với mục đích sinh sống lâu dài, trong đó phần lớn những người di cư là do chuyển công tác, thanh niên tìm cơ hội việc làm mới lập nghiệp và tách gia đình… Những người này thường không quay trở về quê hương cũ sinh sống.
Di dân tạm thời là sự thay đổi nơi ở gốc không lâu dài và khả năng quay trở lại là tương đối chắc chắn. Kiểu di dân này bao gồm các hình thức di chuyển làm việc theo thời vụ, đi công tác biệt phái, lao động và học tập có thời hạn. Di dân chuyển tiếp là hình thức di dân mà không thay đổi nơi ở, do tính chất công việc họ phải di chuyển từ nơi này đến nơi khác, chẳng hạn như các công ty xây dựng cầu đường, các công trình năng lượng điện, thăm dò địa chất, những người đi buôn bán từ các tỉnh lân cận đến các đô thị. Theo khoảng cách di dân: di dân quốc tế và di dân nội địa.
Di dân quốc tế: là hình thức di chuyển từ quốc gia hay vùng lãnh thổ này đến quốc gia hay vùng lãnh thổ khác theo hình thức xuất khẩu lao động, đoàn tụ gia đình, học tập lâu dài. Di dân nội địa là di chuyển giữa các tỉnh thành, các vùng miền hay giữa các đơn vị hành chính. Theo tính pháp lý: người ta phân biệt di dân hợp pháp hay bất hợp pháp, di dân tự do hay có tổ chức, di dân tình nguyện hay bắt buộc. Tùy vào mức độ can thiệp của chính quyền trung ương hay địa phương mà người ta phân chia di dân theo loại này hay loại khác.
Các hình thức di dân khác: di dân cá nhân hay hộ gia đình, di dân tản mạn nhiều hướng hay thành dòng di dân, nếu căn cứ vào số lượng người di dân và hướng Luận văn tốt nghiệp Học viên thực hiện: Lê Thanh Kiều 9 di dân từ nơi xuất phát đến nơi dừng. Hình thức di dân khá quan trọng là di dân giữa hai khu vực thành thị và nông thôn. Ở đây đan xen bốn hình thức di dân: nông thôn – thành thị, nông thôn – nông thôn, thành thị - thành thị, thành thị - nông thôn. Các thƣớc đo di cƣ.
Theo Tổng cục Thống kê, kết quả Điều tra dân số và nhà ở năm 2009 đã sử dụng các chỉ tiêu đánh giá về di cư sau: Tỷ suất nhập cƣ: là số người từ một đơn vị lãnh thổ khác (nơi xuất cư) nhập cư đến một đơn vị lãnh thổ trong kỳ nghiên cứu (thường là một năm lịch) tính bình quân trên 1000 dân của đơn vị lãnh thổ đó (nơi nhập cư). I Tỷ suất nhập cư (‰): IMR *1000 Ptb Trong đó: IMR :Tỷ suất nhập cư; I :Số người nhập cư trong năm; Ptb :Dân số trung bình (hay dân số có đến giữa năm) Tỷ suất xuất cƣ: là số người xuất cư của một đơn vị lãnh thổ trong kỳ nghiên cứu (thường là một năm lịch) tính bình quân trên 1000 dân của đơn vị lãnh thổ đó. O Tỷ suất di cư (‰): OMR *1000 Ptb Trong đó: OMR :Tỷ suất xuất cư; O :Số người xuất cư trong năm; Ptb :Dân số trung bình (hay dân số có đến giữa năm) Tỷ suất di cƣ thuần: là hiệu số giữa số người nhập cư và số người xuất cư của một đơn vị lãnh thổ trong kỳ nghiên cứu (thường là một năm lịch) tính bình quân trên 1000 dân của đơn vị lãnh thổ đó. I O Tỷ suất di cư thuần (‰): NMR *1000 Ptb Trong đó: NMR :Tỷ suất xuất cư; I :Số người nhập cư trong năm; O :Số người xuất cư trong năm; Ptb :Dân số trung bình (hay dân số giữa năm) Luận văn tốt nghiệp Học viên thực hiện: Lê Thanh Kiều 10 Hoặc: NMR = IMR - OMR Trong đó: NMR :Tỷ suất di cư thuần; IMR :Tỷ suất nhập cư; OMR :Tỷ suất xuất cư 2.
Nguyên nhân chủ yếu của di cƣ. Theo Nguyễn Thị Thiềng và Lưu Bích Ngọc (2011), có rất nhiều nguyên nhân người dân có thể di cư từ nơi này đến nơi khác. Mỗi cá nhân có những quyết định khác nhau phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Các yếu tố đó gồm: Các đặc trưng nhân khẩu học: Tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân,…các đặc trưng này quyết định vị trí của mỗi cá nhân trong chu kỳ cuộc sống và vai trò của họ trong gia đình và xã hội.
Trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp của từng người. Ở đây có thể hiểu trình độ học vấn và trình độ chuyên môn kỹ thuật. Các trình độ, kỹ năng này có thể giúp hoặc ngăn cản họ tham gia vào lực lượng lao động ở địa phương nơi đi và nơi đến. Sự nắm bắt và nhận thức về các cơ hội tại địa phương nơi họ đang sinh sống và những đại phương nơi họ dự định ra đi.
Điều này sẽ thúc đẩy họ ra đi hay ở lại. Nhận thức về lối sống, điều kiện vật chất. Đây là những cái cá nhân mong muốn đạt được. Điều này cũng là những yếu tố góp phần hình thành quyết định di cư.
Người thân và bạn bè cũng có thể ảnh hưởng tới quyết định của mỗi cá nhân. Người ta thường chọn chuyển đến những nơi bạn bè, người thân đang sinh sống. Đây là hình thức di cư gọi là di cư dây chuyền. Do di chuyển theo dây chuyền, các dòng di cư từ một vùng này đến vùng khác có có tính định cư lâu dài, ngay cả khi lý do lựa chọn ra đi ban đầu không còn nữa.
Ngoài ra còn những yếu tố thuộc về sức đẩy: buồn tẻ, khan hiếm cơ hội để phát triển, cải thiện cuộc sống đã tạo nên dòng di cư của thanh niên trẻ đến đô thị tìm việc làm, học hành và tự do lựa chọn bạn đời, muốn giàu có hơn, văn minh hơn. Luận văn tốt nghiệp Học viên thực hiện: Lê Thanh Kiều 11 2. Một số lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Mô hình khu vực kép (Dual Sector Model) của Arthus Lewis.
Mô hình khu vực kép phân tích hiện tượng dư thừa lao động ở khu vực sản xuất nông nghiệp truyền thống (khu vực nông nghiệp) được chuyển dịch sang khu vực sản xuất hiện đại (khu vực công nghiệp) trong quá trình công nghiệp hóa. Theo Lewis, ở khu vực kinh tế truyền thống có nét đặc trưng là sản xuất lạc hậu và năng suất lao động thấp là nạn dư thừa lực lượng lao động. Lực lượng dư thừa này chuyển sang khu vực kinh tế hiện đại, cho phép đạt được sự tăng trưởng kinh tế trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Khu vực hiện đại hay khu vực công nghiệp.
Trước hết để tiến hành hoạt động của mình, khu vực công nghiệp phải lôi kéo được lao động từ nông nghiệp sang. Điều kiện để chuyển được lao động từ nông thôn ra thành thị là khu vực công nghiệp phải trả mức tiền công cao hơn mức tiền công tối thiểu ở khu vực nông nghiệp họ đang được hưởng.