Phần mở đầu và Kết luận, nội dung chính của luận án gồm có 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học về sản xuất nông, lâm nghiệp với việc sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên ở miền núi. Chƣơng 2: Các nhân tố ảnh hƣởng đến sản xuất nông, lâm nghiệp với việc sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên của dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La. Chƣơng 3: Thực trạng sản xuất nông, lâm nghiệp với việc sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên của dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La. Chƣơng 4: Định hƣớng và giải pháp phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp theo hƣớng sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên của dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La.
Luận án còn có danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục. CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ SẢN XUẤT NÔNG, LÂM NGHIỆP VỚI VIỆC SỬ DỤNG BỀN VỮNG TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN Ở MIỀN NÚI 1. Tổng quan những nghiên cứu về sản xuất nông, lâm nghiệp với việc sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên ở miền núi 1. Trên thế giới Sản xuất nông, lâm nghiệp - nền sản xuất từ cổ xƣa nhất của loài ngƣời vốn luôn luôn gắn kết chặt chẽ với các nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong đó, đặc biệt quan trọng là các nguồn tài nguyên đất, nƣớc, rừng.
Đây là những tài nguyên thiên nhiên (TNTN) cơ bản của nền sản xuất nông nghiệp truyền thống cũng nhƣ trong giai đoạn hiện nay ở miền núi. Vì thế, các nghiên cứu về lĩnh vực này luôn thu hút đƣợc sự quan tâm của các nhà khoa học dƣới các khía cạnh khác nhau nhƣ: nông nghiệp sinh thái, địa lý nông nghiệp, kỹ thuật nông nghiệp, dân tộc học, nhân học văn hóa… 1. Hướng nghiên cứu về sản xuất nông, lâm nghiệp với việc sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên ở miền núi Phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp ở miền núi luôn gắn với nguồn TNTN cơ bản là: đất, nƣớc, rừng, trong đó đặc điểm quan trọng của hoạt động nông, lâm nghiệp miền núi đƣợc tiến hành chủ yếu trên đất dốc, làm thành chủ đề chính cho các nghiên cứu về miền núi tập trung vào hƣớng giải quyết về các biện pháp hiệu quả sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên trên đất dốc. Những nghiên cứu cách thức con người khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong sản xuất nông lâm nghiệp.Barbier (2005) [118], đã phân tích nhân tố kinh tế chủ yếu chi phối việc sử dụng tài nguyên đất, nƣớc ở các nƣớc đang phát triển, cũng nhƣ mối quan hệ phức tạp giữa sự phụ thuộc tài nguyên.
Trong cuốn sách này tác giả đã khảo sát ở phƣơng diện lịch sử cũng nhƣ phân tích lý thuyết để giải thích việc sử dụng kém hiệu quả ở các nền kinh tế giàu tài nguyên. Liên quan đến tài nguyên rừng, Vitousek, P (1997) [135] nhận xét: tác động của con ngƣời vào nguồn tài nguyên rừng là cả một quá trình lâu dài “dù vô tình hay hữu ý” làm ảnh hƣởng ít nhiều tới quỹ sinh thái ngay từ thuở sơ khai và ngày càng 12 khốc liệt trong thời kỳ công nghiệp, hậu công nghiệp khiến cho gần nhƣ không có hệ sinh thái trên cạn và dƣới nƣớc nào hiện nay là không bị bàn tay con ngƣời can thiệp. Cơ quan môi trƣờng châu Âu (EEA) (2005) [119] nhấn mạnh: Việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên cƣờng độ cao làm tăng áp lực lên các nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong đó ví dụ điển hình nhƣ: Hầu hết trữ lƣợng cá ở vùng biển châu Âu bị khai thác quá mức và sự thay đổi hệ sinh thái ven biển. Có nhiều nghiên cứu về sự tác động của con ngƣời tới việc khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên ở lƣu vực sông.
(2005) [120] đã chứng minh những thay đổi nguồn tài nguyên thiên nhiên ở lƣu vực sông liên quan đến thay đổi trong mô hình sử dụng đất trong sản xuất nông nghiệp. Nghiên cứu của Suhas P. Wani và các cộng sự (2012) [134] chứng minh sự tham gia của cộng đồng trong quản lý lƣu vực là một trong những lựa chọn đã đƣợc thử nghiệm, bền vững và thân thiện với môi trƣờng để phát triển nền nông nghiệp phụ thuộc vào tự nhiên (dựa vào mƣa), để đáp ứng nhu cầu lƣơng thực ngày càng tăng cùng với nhiều lợi ích về cải thiện sinh kế, giải quyết các vấn đề công bằng và đa dạng sinh học. Ở vùng nhiệt đới, phƣơng pháp quản lý tổng hợp đầu nguồn cho phép nông dân đa dạng hóa các hệ thống cùng với việc tăng năng suất nông nghiệp thông qua việc tăng lƣợng nƣớc, trong khi bảo tồn cơ sở tài nguyên thiên nhiên.
Thu nhập hộ gia đình tăng đáng kể, dẫn đến cải thiện cuộc sống và xây dựng khả năng phục hồi của cộng đồng và tài nguyên thiên nhiên. Các nghiên cứu với xu hướng nghiên cứu về nông lâm kết hợp. Các nghiên cứu của Nair P. (1994) [131] đã chỉ ra rằng: trên các đất dốc ở miền núi, phƣơng thức sử dụng đất hiệu quả nhất là nông lâm kết hợp.
Phƣơng thức canh tác này ngày càng phát triển và mang lại hiệu quả nhiều mặt cho ngƣời dân sống ở vùng núi châu Á và nhất là ở Đông Nam Á. Theo phƣơng thức nông lâm kết hợp, hệ thống canh tác ở vùng đồi núi dốc dựa trên đa dạng hóa cây trồng, vừa bảo vệ đất, chống xói mòn, vừa cải thiện chất lƣợng đất đai bằng kết hợp giữa các loại cây trồng, trong đó có sự kết hợp giữa cây lâm nghiệp, cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả và cây lƣơng thực. 13 Phát triển nông, lâm dựa vào hệ sinh thái đƣợc Zhao et al.(2014) [137] phân tích trong công trình “Hệ sinh thái rừng” dựa trên các nghiên cứu quan sát rừng, dữ liệu thực địa nghiên cứu trƣờng hợp hệ sinh thái rừng tự nhiên ở Trung Quốc và nghiên cứu quan sát ở khu rừng thông hỗn hợp đƣợc quản lý bởi cộng đồng ngƣời địa phƣơng ở Mexico. Trong nghiên cứu này, các tác giả đã phân tích tiềm năng của các hệ sinh thái rừng và lập luận ủng hộ các cam kết dài hạn của các tổ chức duy trì hệ thống canh tác dựa vào hệ sinh thái rừng cho các cộng đồng cƣ dân sống gần rừng và có nguồn sinh kế gắn với rừng.
Những nghiên cứu mối quan hệ giữa sản xuất với sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên cho thấy. Trên quan điểm kinh tế tài nguyên, trƣớc đây trong nền kinh tế nông nghiệp truyền thống, tài nguyên nông nghiệp chỉ đơn thuần là tƣ liệu sản xuất, thì ngày nay, trong nền kinh tế thị trƣờng, các nguồn tài nguyên nông nghiệp thể hiện các giá trị kép: vừa là tƣ liệu sản xuất, sinh kế, vừa là tài sản. Vì thế, tài nguyên nông nghiệp không chỉ là tƣ liệu cho ra sản phẩm nông nghiệp, mà đất đai, rừng, nguồn nƣớc đã có giá trị có thể mua bán, đổi chác, cho, nhƣợng hay góp vốn vật chất để kinh doanh. Từ đó, đã thúc đẩy các hoạt động sản xuất nông nghiệp, phát triển KT-XH nông thôn miền núi càng gia tăng, không chỉ đơn thuần làm ra của cải, mà còn để tích lũy vốn tài chính thông qua sở hữu tài nguyên, làm cho việc khai thác, sử dụng và chiếm đoạt các nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng tăng theo, dẫn đến hậu quả quỹ tài nguyên ngày càng giảm sút, lƣợng tài nguyên bị tƣ hữu hóa gia tăng, khiến cho giá trị kinh tế tài nguyên cả về mặt tƣ liệu sản xuất, cả về mặt tài sản ngày càng bất ổn, tạo nên mâu thuẫn.
Trong nghiên cứu của Costanza, R. (1991 [116] đã chỉ ra: sự gia tăng dân số vƣợt mức kiểm soát nhƣ hiện nay đã làm cho nguồn tài nguyên suy giảm nhanh chóng; sự tăng trƣởng kinh tế quá nhanh, kéo theo nhu cầu của con ngƣời sử dụng các loại tài nguyên là vô hạn định, trong khi nền văn hóa của con ngƣời vẫn phải duy trì sự phát triển, dẫn tới khai thác và sử dụng bất hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Điều này đòi hỏi trong quá trình khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên phải đảm bảo sự cân bằng, nhất là phục hồi và tái tạo chức năng điều chỉnh hệ thống của các hệ sinh thái nhằm điều tiết cân bằng giữa nhu cầu của con ngƣời, xã hội và khả năng đáp ứng của tự nhiên, giữa khai thác với bảo tồn và phát triển tài nguyên. (1997) [121], mối quan hệ bền vững trong sử dụng tài nguyên thiên nhiên đƣợc khuyến cáo nhƣ là hành động của con ngƣời mô phỏng quy luật của tự nhiên, gồm cả hoạt động bảo vệ tài nguyên và tái sản xuất tài nguyên tiến tới xây dựng hệ thống quản lý đặc tính thích nghi của các hệ thống tự nhiên trong phát triển KT-XH.
Trên cơ sở đó, xây dựng các công cụ chính sách và công cụ quản lý hƣớng tới sự hài hòa giữa bảo tồn đa dạng sinh học, sinh kế và phát triển KT-XH nhằm tạo lập cân bằng bền vững giữa các bên liên quan. Sjak Smulders và Lucas Bretschger (2007) [132] đã tổng kết nghiên cứu của 17 tác giả về mối quan hệ giữa động lực phát triển kinh tế và việc sử dụng tài nguyên thiên bền vững. Nghiên cứu còn đề cập đến một số vấn đề quan trọng trong phát triển kinh tế và môi trƣờng nhƣ: thời điểm tối ƣu cho việc áp dụng công nghệ xanh trong phát triển kinh tế, việc ứng dụng công nghệ trong quản lý môi trƣờng hay những chính sách môi trƣờng là những giải pháp quan trọng để sử dụng bền vững tài nguyên và phát triển kinh tế. Trong nghiên cứu của Tập đoàn Phát triển và Môi trƣờng (1995) [127] các tác giả đã lƣu ý rằng việc sử dụng tài nguyên luôn phản ánh một tình huống xã hội cụ thể và nó thay đổi liên quan đến không gian và thời gian, không có một kết luận chung về việc sử dụng tài nguyên bền vững.
Mỗi xã hội phải tự quyết định những gì cấu thành việc sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên, vì tính bền vững chủ yếu là vấn đề đánh giá. Việc đánh giá tính bền vững đòi hỏi sự tham gia rộng rãi của các bên liên quan, phải trao quyền cho các nhóm xã hội có hoàn cảnh khó khăn. Để đảm bảo việc sử dụng tài nguyên bền vững, sự tham gia của phụ nữ là một điều kiện thiết yếu; cần đảm bảo quyền truy cập lâu dài đối với các tài nguyên nhƣ là một tiêu chí quan trọng để phân biệt giữa sử dụng thông thƣờng và khai thác quá mức; đa dạng sinh học là một chỉ báo quan trọng của các hệ thống sử dụng tài nguyên bền vững. Những nghiên cứu liên ngành trong sản xuất nông lâm nghiệp và sử dụng tài nguyên thiên nhiên.