Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ Địa lí học với đề tài "Sản xuất nông, lâm nghiệp với việc sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên của dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La" (Mã số: 9.01) do nghiên cứu sinh Đặng Thị Nhuần thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Viết Thịnh, bảo vệ tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 2020. Luận án tiếp cận đối tượng nghiên cứu từ góc độ địa lí kinh tế - xã hội kết hợp với phương pháp dân tộc học và sinh thái nhân văn.
Về tính cấp thiết, tác giả chỉ ra rằng tài nguyên thiên nhiên (đất, nước, rừng) là nguồn vốn tư liệu sản xuất và sinh kế cốt lõi của cư dân vùng núi. Tuy nhiên, quá trình gia tăng dân số cơ học, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển đổi cơ cấu kinh tế thị trường đang tạo áp lực gay gắt lên quỹ tài nguyên của tỉnh Sơn La. Tỉnh Sơn La là địa bàn sinh sống của 12 dân tộc, trong đó dân tộc Thái chiếm 53,7% dân số toàn tỉnh (dân tộc Kinh chiếm 16,2%, dân tộc Mông chiếm 15,7%). Đồng bào Thái có lịch sử cư trú lâu đời tại các thung lũng, vùng lòng chảo ven sông suối, tích lũy kho tàng tri thức bản địa phong phú trong canh tác lúa nước, nương rẫy và quản trị rừng, nguồn nước. Thực tiễn xây dựng các công trình thủy điện lớn như Hòa Bình và Sơn La đã buộc hơn 100 nghìn người Thái phải di chuyển tái định cư, tiếp cận nguồn vốn tài nguyên mới tại các điều kiện sinh thái phi truyền thống. Sự thay đổi không gian sinh sống này làm hạn chế khả năng ứng dụng tri thức bản địa truyền thống trong khi tri thức thích ứng với hoàn cảnh mới chưa kịp định hình. Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định là việc thiếu vắng các công trình địa lí kinh tế - xã hội đánh giá toàn diện mối quan hệ giữa sinh kế nông, lâm nghiệp của cộng đồng người Thái với việc bảo vệ, khai thác bền vững tài nguyên thiên nhiên trong bối cảnh tái định cư và kinh tế thị trường.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là phân tích dưới góc độ địa lí kinh tế - xã hội mối quan hệ giữa sản xuất nông, lâm nghiệp với việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên cơ bản ở địa bàn tập trung dân tộc Thái tỉnh Sơn La; từ đó định hướng xây dựng các mô hình sản xuất nông nghiệp hiệu quả và đề xuất các nhóm giải pháp phát triển nông, lâm nghiệp theo hướng sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên.
Để đạt được mục tiêu trên, luận án thực hiện 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Tổng quan có chọn lọc cơ sở lý luận về sản xuất nông, lâm nghiệp gắn với sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên, vận dụng vào địa bàn nghiên cứu miền núi.
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất nông, lâm nghiệp ở tỉnh Sơn La, chú trọng tới tri thức bản địa của dân tộc Thái liên quan tới việc sử dụng tài nguyên đất, nước, rừng trong quá trình sản xuất.
- Phân tích thực trạng sản xuất nông, lâm nghiệp với việc sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên ở 103 xã phân bố tập trung dân tộc Thái.
- Đề xuất định hướng xây dựng một số mô hình sản xuất nông nghiệp hiệu quả và các giải pháp phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp theo hướng sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên ở địa bàn tập trung dân tộc Thái tỉnh Sơn La.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể như sau:
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp (bao gồm trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản) gắn với việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên cơ bản (đất, nước, rừng) của dân tộc Thái.
- Phạm vi nội dung: Đánh giá các nhân tố tác động, thực trạng sản xuất, việc vận dụng tri thức bản địa truyền thống và hiện đại; đánh giá hiệu quả kinh tế - sinh thái của các mô hình nông hộ và hợp tác xã; xác lập định hướng và giải pháp sử dụng bền vững tài nguyên.
- Phạm vi không gian: Tập trung vào 103 xã thuộc 12 đơn vị cấp huyện của tỉnh Sơn La có tỷ lệ đồng bào dân tộc Thái chiếm từ 60% dân số trở lên. Nghiên cứu khảo sát thực địa được thực hiện tại 6/12 huyện, thành phố (thành phố Sơn La, Mai Sơn, Sông Mã, Thuận Châu, Mường La, Quỳnh Nhai); trong đó chọn 6 xã điểm để điều tra xã hội học và phỏng vấn sâu: xã Chiềng Đen, Chiềng Xôm (thành phố Sơn La); xã Púng Tra, Chiềng Bôm (huyện Thuận Châu); xã Chiềng Bằng, Mường Sại (huyện Quỳnh Nhai).
- Phạm vi thời gian: Chuỗi số liệu thống kê thứ cấp về nông, lâm nghiệp được thu thập và phân tích chủ yếu trong giai đoạn 2006 - 2016; các dữ liệu điều tra sơ cấp tại hộ gia đình được tiến hành từ tháng 5/2015 đến tháng 12/2017.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu của luận án được chia thành các nhóm vấn đề chuyên đề chính:
Các nghiên cứu quốc tế về khai thác tài nguyên và nông lâm kết hợp miền núi: Tác giả Barbier (2005) khảo sát nhân tố kinh tế chi phối sử dụng đất, nước ở các nước đang phát triển; Vitousek (1997) phân tích tác động tích lũy lâu dài của con người làm biến đổi các hệ sinh thái rừng; Cơ quan Môi trường châu Âu EEA (2005) chỉ ra sức ép từ việc khai thác tài nguyên cường độ cao; Turner và cộng sự (2005) nghiên cứu biến động tài nguyên lưu vực gắn với thay đổi sử dụng đất nông nghiệp; Suhas P. Wani và cộng sự (2012) chứng minh hiệu quả quản lý lưu vực đầu nguồn dựa vào cộng đồng ở vùng nhiệt đới; Nair P. (1994) khẳng định nông lâm kết hợp là phương thức sử dụng đất dốc hiệu quả tại châu Á và Đông Nam Á; Zhao và cộng sự (2014) đánh giá tiềm năng hệ thống canh tác dựa vào hệ sinh thái rừng tại Trung Quốc và Mexico; Costanza (1991) cảnh báo nguy cơ cạn kiệt tài nguyên do tăng trưởng kinh tế nhanh; Rees (1997) đề xuất mô phỏng quy luật tự nhiên trong quản trị tài nguyên; Sjak Smulders và Lucas Bretschger (2007) tổng kết mối quan hệ giữa động lực kinh tế và công nghệ xanh; nghiên cứu của Tập đoàn Phát triển và Môi trường (1995) nhấn mạnh tính bền vững phụ thuộc vào bối cảnh xã hội cụ thể, quyền tiếp cận tài nguyên và vai trò của phụ nữ; Angelstam, Andersson và cộng sự (2013) cùng Goudie và Viles (2010) áp dụng cách tiếp cận liên ngành trong nghiên cứu tương tác con người - môi trường.
Các nghiên cứu quốc tế về tri thức bản địa: Mazlan Bin Che Soh và Siti Korota'aini Omar (2012) chứng minh kinh nghiệm tích lũy của nông dân trong sử dụng tài nguyên; Alan và cộng sự (1997) khuyến nghị lồng ghép tri thức bản địa vào dự án phát triển; Louise Grenier (1998) định nghĩa tri thức bản địa tích lũy qua thử nghiệm và quan sát; Malcolm (2007) phân tích tính thích ứng sinh thái của canh tác nương rẫy bản địa trên đất dốc; Mohammad và cộng sự (2009) chỉ ra vai trò của tri thức bản địa trong quản lý rừng ở Bangladesh; Madhav Karki và cộng sự (2007) nghiên cứu bảo tồn tri thức bản địa nông nghiệp ở Tanzania; Ramata Mossa và cộng sự (2017) khảo sát hạn chế trong chuyển giao tri thức bản địa tại Ethiopia; Das Gupta (2011, 2012) hệ thống hóa đặc trưng truyền miệng và đóng góp của tri thức bản địa vào quản lý thảm họa, bảo tồn sinh học và canh tác hữu cơ.
Các nghiên cứu trong nước về nông nghiệp miền núi và tài nguyên đất dốc: Phạm Bình Quyền (2003) phân tích hệ sinh thái nương rẫy phức hợp; Deanna Donovan, A. Terry Rambo, Jefferson Fox, Lê Trọng Cúc, Trần Đức Viên (1997) nhận diện các thách thức về địa hình dốc, xói mòn đất và giao thông vùng núi phía Bắc; Lê Trọng Cúc và A. Terry Rambo (2001) khảo sát đa dạng sinh thái nhân văn ở 5 cộng đồng tộc người; Lê Văn Khoa và Trần Thị Lành (1997) nghiên cứu phát triển bền vững miền núi; Hoàng Văn Cường (2005) phân tích 3 hệ thống nông nghiệp miền núi (truyền thống, chuyển tiếp, hiện đại); Phan Sĩ Mẫn (2010) đúc kết các đặc điểm kinh tế truyền thống và triết lý ứng xử với tự nhiên; Trần Bình (2001) làm rõ tập quán canh tác của các tộc người theo độ cao địa hình ở Tây Bắc; Khổng Diễn (1996) phân tích cơ cấu kinh tế - xã hội các dân tộc miền núi phía Bắc; Trần Ngọc Ngoạn (1999) nghiên cứu hệ thống nông nghiệp đa canh; Phạm Văn Vang (1981, 1996) đề xuất mô hình kinh tế nông - lâm kết hợp vùng đồi núi; Đặng Kim Vui (2007) phân tích tính dễ tổn thương của tài nguyên miền núi; Trần Văn Con và Phạm Xuân Hoàn (2008) xác định 5 chức năng cơ bản của rừng; Đoàn Văn Điếm (2012) và Phạm Văn Phê (2013) nghiên cứu nguyên lý sinh thái học trong sử dụng tài nguyên; Huỳnh Quang Tín (2011), Trần Đình Long (2005) nghiên cứu quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng trên đất dốc; Lê Trọng Cúc (1990), Đàm Trung Thuận và Trương Quang Hải (1999) phân tích các mô hình sản xuất nông nghiệp sinh thái.
Các nghiên cứu địa lí học và tri thức bản địa của người Thái: Các công trình địa lí kinh tế - xã hội của Nguyễn Minh Tuệ (2013), Nguyễn Minh Tuệ, Nguyễn Viết Thịnh, Lê Thông (2005), Nguyễn Viết Thịnh và Đỗ Thị Minh Đức (2003), Nguyễn Ngọc Khánh (2018); các luận án tiến sĩ Địa lí của Lê Mỹ Phong (2002), Dương Quỳnh Phương (2007), Vũ Quốc Đạt (2013), Trần Thị Tuyến (2015). Về tri thức bản địa, Hoàng Xuân Tý và Lê Trọng Cúc (1998) nghiên cứu giống lúa chịu hạn; Phạm Quốc Hùng và Hoàng Ngọc Ý (2009) khảo sát quản lý rừng tại Hòa Bình; Đặng Thị Oanh (2015) phân tích tri thức bảo vệ nguồn nước của người Thái; Nguyễn Hồng Anh và Lô May Hằng (2017) khảo sát tri thức bản địa người Thái tại Nghệ An; Vũ Trường Giang (2009), Mai Văn Tùng (2011) nghiên cứu tri thức bản địa trong các luận án tiến sĩ; các công trình văn hóa tộc người của Nguyễn Đăng Duy (2004), Cầm Trọng và Phan Hữu Dật (1995), Cầm Trọng (1978); Cẩm Tú Lan (2005) nghiên cứu vai trò của phụ nữ Thái trong quản lý tài nguyên. Tại Sơn La, An Văn Bảy (1996) nghiên cứu nông lâm nghiệp cộng đồng ở 3 vùng sinh thái; Phạm Quang Linh (2015) khảo cứu kinh nghiệm canh tác đất dốc; Phạm Văn Lợi (2013) và Phạm Anh Tuân (2015) đánh giá tác động của thủy điện Sơn La đến điều kiện sống và tài nguyên đất canh tác.
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết là: Tập trung phân tích chuyên sâu mối quan hệ hữu cơ giữa phương thức sinh kế nông, lâm nghiệp với việc sử dụng bền vững 3 loại tài nguyên cơ bản (đất, nước, rừng) của riêng cộng đồng dân tộc Thái tại địa bàn 103 xã tập trung của tỉnh Sơn La; làm rõ sự đứt gãy và chuyển đổi trong việc ứng dụng tri thức bản địa trước sức ép tái định cư thủy điện và kinh tế thị trường; lượng hóa hiệu quả kinh tế - sinh thái của các mô hình nông hộ và hợp tác xã nhằm đề xuất giải pháp tổ chức lãnh thổ nông nghiệp bền vững.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý thuyết, luận án xây dựng khung phân tích dựa trên 5 quan điểm địa lí học và liên ngành:
- Quan điểm tổng hợp - lãnh thổ: Xem xét các hoạt động nông, lâm nghiệp và tài nguyên thiên nhiên trong thể thống nhất cấp tỉnh và không gian cư trú của người Thái, phân tích mối quan hệ qua lại liên ngành giữa tự nhiên, kinh tế và nhân văn.
- Quan điểm hệ thống: Coi lãnh thổ tỉnh Sơn La là một hệ thống thống nhất gồm hệ thống tự nhiên (đất, nước, khí hậu, sinh vật) và hệ thống kinh tế - xã hội. Nông, lâm nghiệp là tiểu hệ thống kinh tế tương tác với môi trường tự nhiên nhằm đạt trạng thái cân bằng động.
- Quan điểm lịch sử: Đặt quan hệ sản xuất - tài nguyên trong các bối cảnh phát triển: từ nền kinh tế tự nhiên truyền thống sang kinh tế thị trường, đồng thời theo dõi các biến động lớn như việc tích nước hồ thủy điện và di dân tái định cư.
- Quan điểm phát triển bền vững: Quán triệt nguyên lý "sản xuất để làm giàu tài nguyên và lấy giá trị gia tăng từ việc làm giàu tài nguyên làm đa dạng sinh kế", kết hợp mục tiêu kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái.
- Quan điểm dân tộc học: Khai thác các đặc trưng văn hóa tộc người Thái trong tập quán canh tác, cách ứng xử với thiên nhiên và vai trò của luật tục trong quản lý tài nguyên.
Luận án vận dụng và chuẩn hóa các khái niệm khoa học:
- Tài nguyên thiên nhiên: Các thành phần của tự nhiên được sử dụng làm tư liệu sản xuất và đối tượng tiêu dùng theo giáo trình Địa lí kinh tế - xã hội [92] và định nghĩa của Báo cáo thương mại thế giới WTR (2010). Phân loại tài nguyên theo thuộc tính tự nhiên, mục đích sử dụng và tính chất hao kiệt (tài nguyên tái tạo được gồm đất, nước, rừng).
- Sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên: Sử dụng hợp lý, tiết kiệm nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại nhưng không tổn hại thế hệ tương lai (Đoàn Văn Điếm, 2012), đảm bảo 3 yêu cầu: duy trì trong ngưỡng tái sinh, giảm hao phí tài nguyên không tái tạo, tôn trọng khả năng chịu tải của hệ sinh thái.
- Tri thức bản địa: Hệ thống thông tin, tri thức địa phương tích lũy qua kinh nghiệm thực tiễn lâu đời của cộng đồng, truyền miệng qua các thế hệ (Warren, 1991; Flavier và cộng sự, 1995; Hoàng Xuân Tý, 1998; Ngô Đức Thịnh, 2004).
- Tài nguyên vị thế: Vị trí địa lí được coi là một dạng tài nguyên đặc biệt tạo nên lợi thế so sánh và khả năng sinh lời của đất đai (Nguyễn Viết Thịnh, 2015).
- Hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp: Phân tích hai cấp độ: Kinh tế hộ gia đình (sở hữu gia đình, quy mô nhỏ, công cụ truyền thống đang chuyển dần sang hàng hóa) và Hợp tác xã nông nghiệp (thành lập theo Luật Hợp tác xã năm 2012, tối thiểu 7 thành viên, liên kết tương trợ và kinh doanh bình đẳng).
Hệ thống chỉ tiêu đánh giá được vận dụng cho điều tra nông hộ và các mô hình sản xuất bao gồm:
- Chỉ tiêu kinh tế chung: Chi phí sản xuất (CPSX - chi phí vật chất, lao động, dịch vụ); Giá trị sản xuất trên 1 ha đất nông nghiệp (GTSX/diện tích đất); Doanh thu ($D = S \times G$, với $S$ là sản lượng, $G$ là giá bán bình quân); Lợi nhuận (Doanh thu trừ CPSX); Giá trị ngày công lao động (Lợi nhuận chia cho tổng số ngày công trên 1 ha); Thu nhập bình quân theo mô hình; Thu nhập bình quân trên $1.000\text{ m}^2$.
- Chỉ tiêu theo phân ngành: Trồng trọt (diện tích, năng suất, sản lượng, chi phí, doanh thu, lợi nhuận); Chăn nuôi (số lượng gia súc, gia cầm, đàn ong, sản lượng thịt, chi phí, thu nhập); Thủy sản (số lồng nuôi cá, sản lượng, chi phí, doanh thu và lợi nhuận trên mỗi lồng bè).
Luận án sử dụng phối hợp 6 phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp thu thập, hệ thống hóa và xử lý tài liệu thứ cấp: Xử lý số liệu thống kê kinh tế - xã hội, báo cáo ngành nông nghiệp và tài nguyên môi trường tỉnh Sơn La giai đoạn 2006 - 2016.
- Phương pháp khảo sát thực địa: Tiến hành khảo sát cảnh quan, địa hình, tập quán canh tác tại 6/12 huyện, thành phố (Sơn La, Mai Sơn, Sông Mã, Thuận Châu, Mường La, Quỳnh Nhai).
- Phương pháp điều tra xã hội học: Sử dụng phiếu điều tra cấu trúc và phỏng vấn trực tiếp chủ hộ tại 6 xã điểm thuộc 3 địa bàn (Chiềng Đen, Chiềng Xôm - TP Sơn La; Púng Tra, Chiềng Bôm - Thuận Châu; Chiềng Bằng, Mường Sại - Quỳnh Nhai) từ tháng 5/2015 đến tháng 12/2017. Dữ liệu phiếu điều tra được tổng hợp và phân tích bằng phần mềm Microsoft Excel.
- Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến của cán bộ quản lý thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT, Sở Tài nguyên và Môi trường, Trung tâm Khuyến nông tỉnh, cán bộ nông nghiệp cấp huyện cùng các già làng, trưởng bản người Thái.
- Phương pháp bản đồ và GIS: Ứng dụng phần mềm MapInfo Professional và các công cụ GIS để xử lý dữ liệu không gian, biên tập hệ thống 10 bản đồ chuyên đề cấp tỉnh và khu vực phân bố người Thái.
- Phương pháp thống kê: Phân tích chuỗi số liệu thời gian, thống kê mô tả, liên kết dữ liệu thuộc tính kinh tế - xã hội với dữ liệu không gian bản đồ.
| Nhóm phương pháp |
Công cụ / Kỹ thuật thực hiện |
Nguồn dữ liệu / Địa bàn áp dụng |
| Xử lý tài liệu thứ cấp |
Thống kê mô tả, phân loại văn bản |
Cục Thống kê Sơn La, Sở NN&PTNT, Sở TN&MT (2006-2016) |
| Khảo sát thực địa |
Quan sát thực địa, ghi chép cảnh quan |
6 huyện/thành phố: TP Sơn La, Mai Sơn, Sông Mã, Thuận Châu, Mường La, Quỳnh Nhai |
| Điều tra xã hội học |
Phiếu phỏng vấn bán cấu trúc, Excel |
Hộ nông hộ tại 6 xã: Chiềng Đen, Chiềng Xôm, Púng Tra, Chiềng Bôm, Chiềng Bằng, Mường Sại (5/2015 - 12/2017) |
| Tham vấn chuyên gia |
Phỏng vấn sâu, hội thảo chuyên đề |
Lãnh đạo sở ngành, khuyến nông, già làng, trưởng bản người Thái |
| Bản đồ và GIS |
Phần mềm MapInfo Professional |
Xây dựng 10 bản đồ chuyên đề địa hình, đất đai, dân tộc, sử dụng đất, nông - lâm nghiệp |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở khoa học về sản xuất nông, lâm nghiệp với việc sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên ở miền núi
Chương này tập trung xây dựng cơ sở lý luận và phương pháp luận cho đề tài. Tác giả tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước về mối quan hệ giữa sinh kế miền núi và tài nguyên đất dốc, quản lý rừng dựa vào cộng đồng và hệ giá trị kép của tài nguyên trong nền kinh tế thị trường (vừa là tư liệu sản xuất, vừa là tài sản tích lũy vốn). Luận án phân tích hệ thống các khái niệm cốt lõi: tài nguyên thiên nhiên, sử dụng bền vững tài nguyên, tri thức bản địa và phát triển bền vững. Tác giả luận giải sâu sắc các nhóm nhân tố chi phối sản xuất nông, lâm nghiệp miền núi, gồm: vị trí địa lí và tài nguyên vị thế; nhóm tự nhiên (địa hình chia cắt, thổ nhưỡng đất dốc, chế độ nhiệt ẩm khí hậu, mạng lưới thủy văn, tài nguyên rừng); nhóm kinh tế - xã hội (quy mô dân số, tập quán tiêu dùng tộc người, hạ tầng giao thông - thủy lợi, khoa học kỹ thuật, thị trường nông sản, vốn đầu tư và chính sách ruộng đất, giao rừng). Luận án phân tích hai hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp cơ bản của người Thái là kinh tế nông hộ và hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới theo Luật Hợp tác xã 2012. Cuối chương, tác giả thiết lập khung hệ thống chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật cụ thể (CPSX, doanh thu, lợi nhuận, giá trị ngày công, thu nhập trên diện tích canh tác) để làm thước đo đánh giá thực nghiệm cho các mô hình sản xuất nông nghiệp của hộ dân tộc Thái.
Chương 2: Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất nông, lâm nghiệp với việc sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên của dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La
Chương 2 đánh giá cụ thể điều kiện tự nhiên, tài nguyên và bối cảnh kinh tế - xã hội của tỉnh Sơn La tác động đến sản xuất của người Thái:
- Vị trí và tài nguyên tự nhiên: Sơn La có địa hình phân tầng phức tạp, độ dốc lớn, chia cắt sâu, phân hóa thành các tiểu vùng sinh khí hậu đặc thù (Bảng 2.1). Tài nguyên đất gồm các nhóm đất feralit đồi núi và đất phù sa thung lũng (minh họa qua Bản đồ phân tầng địa hình và Bản đồ các loại đất). Tài nguyên nước phụ thuộc mạng lưới sông Đà, sông Mã và hệ thống suối hẹp nhưng chịu ảnh hưởng của các công trình hồ chứa thủy điện. Tài nguyên rừng biến động qua thời gian; diện tích rừng Sơn La giai đoạn 2006 - 2016 được thống kê chi tiết theo Bảng 2.2, phản ánh nỗ lực phục hồi độ che phủ nhưng chất lượng rừng tự nhiên vẫn đứng trước nguy cơ suy thoái.
- Nhân tố kinh tế - xã hội: Dân số toàn tỉnh tăng đều, tỷ lệ dân thành thị còn thấp, dân cư nông thôn chiếm đa số (Bảng 2.3). Cơ cấu dân tộc năm 2016 khẳng định người Thái là cộng đồng đông nhất, chiếm 53,7% dân số toàn tỉnh (Bảng 2.4), phân bố chủ yếu ở độ cao trung bình 400 m, dọc các thung lũng, bồn địa và lòng chảo ven sông suối. Các yếu tố hạ tầng kỹ thuật, đường giao thông liên xã, lưới điện, thủy nông từng bước được đầu tư nhưng phân bố không đồng đều.
- Tri thức bản địa của người Thái: Phân tích kho tàng kinh nghiệm dân gian trong ứng xử với tự nhiên:
- Tri thức về đất đai: Tiêu chí phân loại ruộng đất theo hạng tốt, xấu dựa vào màu sắc đất, độ ngập nước và vị trí canh tác (Bảng 2.5); kinh nghiệm chọn đất nương đen trồng bông, đất vàng trồng sắn; làm ruộng bậc thang và bỏ hóa luân canh để chống xói mòn trên sườn dốc.
- Tri thức về cây trồng và mùa vụ: Lưu giữ và canh tác các giống lúa nếp đặc sản địa phương; so sánh mùa vụ, năng suất giữa lúa nếp bản địa và các giống lúa mới (Bảng 2.6).
- Tri thức về nguồn nước và rừng: Hệ thống công trình thủy lợi dẫn nước nổi tiếng gồm "mương, phai, lái, lín" (đắp phai chặn suối, đào mương dẫn nước, dùng lái đổi dòng và bắc lín máng tre đưa nước về ruộng thung lũng); quy ước bản làng (luật tục) bảo vệ nghiêm ngặt các khu rừng đầu nguồn mó nước, rừng thiêng (rừng cấm, rừng ma) để duy trì dòng chảy sinh hoạt và tưới tiêu.
Chương 3: Thực trạng sản xuất nông, lâm nghiệp với việc sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên của dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La
Chương này cung cấp bức tranh thực trạng sản xuất giai đoạn 2006 - 2016 và kết quả khảo sát thực tế tại các điểm nghiên cứu:
- Bối cảnh chung: Nông nghiệp giữ vai trò trụ cột trong cơ cấu kinh tế Sơn La. Tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo giá thực tế được lượng hóa qua Bảng 3.1 và Bảng 3.2. Quy mô và tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất (GTSX) nông, lâm, thủy sản được thể hiện tại Bảng 3.3 và Bảng 3.4. Hiện trạng sử dụng quỹ đất nông, lâm nghiệp tại 103 xã tập trung người Thái được tổng hợp chi tiết theo Bảng 3.5.
- Thực trạng các phân ngành:
- Trồng trọt: Cơ cấu mùa vụ lúa, các giống lúa chủ yếu của người Thái được phản ánh tại Bảng 3.6 và Hình 3.2. Đánh giá chi phí lợi ích của các loại cây trồng phổ biến (lúa, ngô, mía, cà phê, cây ăn quả) theo Bảng 3.7 và tính toán giá trị ngày công lao động theo Bảng 3.8. Người dân chuyển mạnh từ trồng ngô, sắn nương rẫy sang trồng cây công nghiệp (cà phê chè ở vùng bồn địa) và cây ăn quả (xoài, nhãn, mận).
- Chăn nuôi: Biến động quy mô đàn trâu, bò, lợn, gia cầm và đàn ong mật của các hộ gia đình đến năm 2016 (Hình 3.3), chuyển dần từ thả rông sang nuôi nhốt bán công nghiệp và tận dụng phụ phẩm nông nghiệp.
- Lâm nghiệp: Đánh giá quy mô và cơ cấu GTSX lâm nghiệp giai đoạn 2006 - 2016 (Bảng 3.9). Các hộ nhận khoán bảo vệ rừng, trồng rừng kinh tế và khai thác lâm sản ngoài gỗ (măng, mộc nhĩ, thảo dược).
- Thủy sản: Nuôi cá ao hộ gia đình tiếp tục được duy trì; xuất hiện nghề nuôi cá lồng bè thâm canh trên lòng hồ thủy điện Sơn La và Hòa Bình như một phương thức sinh kế mới thích ứng với diện tích ngập nước.
- Nghiên cứu điểm tại 6 xã điều tra:
- Khảo sát các mô hình kết hợp cây trồng - vật nuôi tại 4 bản thuộc xã Chiềng Đen, Chiềng Xôm (thành phố Sơn La - Bảng 3.11), 4 bản thuộc xã Púng Tra, Chiềng Bôm (Thuận Châu - Bảng 3.12), và 4 bản thuộc xã Chiềng Bằng, Mường Sại (Quỳnh Nhai - Bảng 3.13).
- Phân tích cơ cấu số hộ điều tra theo từng mô hình sản xuất nông nghiệp (Bảng 3.10, Bảng 3.14) và đánh giá thu nhập bình quân của các mô hình (Bảng 3.15). Kết quả cho thấy các mô hình đa canh kết hợp (cà phê + cây ăn quả + chăn nuôi gia súc; hoặc trồng trọt thung lũng + nuôi cá lồng ven hồ thủy điện) mang lại hiệu quả kinh tế cao và giảm thiểu rủi ro sinh thái đất dốc so với mô hình độc canh ngô, lúa nương truyền thống.
- Đánh giá tổ chức sản xuất: Phân tích vai trò hạt nhân của kinh tế nông hộ và sự phục hồi của các hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới; số lượng HTX nông nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Sơn La được thống kê tại Bảng 3.16.
Chương 4: Định hướng và giải pháp phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp theo hướng sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên của dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La
Dựa trên quan điểm, mục tiêu phát triển của tỉnh và thực trạng sản xuất, tác giả định hướng phát triển không gian và mô hình kỹ thuật:
- Định hướng mô hình sản xuất: Xây dựng các mô hình nông lâm kết hợp trên đất dốc (cây lâm nghiệp phòng hộ ở đỉnh dốc, cây ăn quả/cây công nghiệp băng giữa, cây màu ngắn ngày hoặc lúa ở chân dốc kết hợp đào hào giữ nước); mô hình trồng cây công nghiệp (cà phê), cây ăn quả đặc sản ứng dụng quy trình sản xuất tốt (GAP); mô hình thâm canh nuôi cá lồng lòng hồ thủy điện quy mô trang trại và hợp tác xã; mô hình kinh tế nông hộ đa canh gắn với quản lý rừng cộng đồng.
- Các nhóm giải pháp phát triển bền vững:
- Giải pháp sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất: Thực hiện nghiêm ngặt các biện pháp chống xói mòn trên đất dốc (trồng cỏ vetiver, làm ruộng bậc thang, xen canh cây họ đậu); hạn chế đốt nương làm rẫy; chuyển đổi diện tích nương ngô thoái hóa sang trồng cây ăn quả lâu năm có tán che phủ tốt.
- Giải pháp quản lý và khai thác tài nguyên nước: Nâng cấp và kiên cố hóa hệ thống kênh mương tưới tiêu; bảo tồn mạng lưới thủy lợi truyền thống "mương, phai, lái, lín" ở các vùng sâu; nghiêm cấm phá rừng đầu nguồn các mó nước; kiểm soát nguồn thải nông nghiệp và bảo vệ môi trường nước hồ chứa phục vụ nuôi cá lồng.
- Giải pháp phát triển tài nguyên rừng: Đẩy nhanh tiến độ giao đất giao rừng gắn quyền lợi với trách nhiệm của cộng đồng bản; phát triển kinh tế dưới tán rừng (dược liệu, sa nhân, nấm); gắn bảo vệ rừng phòng hộ với dịch vụ môi trường rừng.
- Giải pháp bảo tồn và phát huy tri thức bản địa: Lồng ghép tri thức dân gian về chọn giống, bảo vệ nguồn nước và nhận biết thời vụ với các tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại; xây dựng hương ước, quy ước thôn bản gắn với luật tục bảo vệ tài nguyên.
- Giải pháp chính sách, thị trường và tổ chức sản xuất: Hỗ trợ tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo và hộ tái định cư; mở rộng liên kết giữa nông hộ, hợp tác xã và doanh nghiệp chế biến, bao tiêu sản phẩm nông sản hàng hóa; đào tạo nghề và chuyển giao kỹ thuật khuyến nông - khuyến lâm trực tiếp bằng tiếng dân tộc.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự khẳng định các đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và thực tiễn:
- Về lý luận: Tổng quan có chọn lọc và hệ thống hóa cơ sở lý luận về sản xuất nông, lâm nghiệp gắn với sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên ở vùng đồi núi nhiệt đới gió mùa; xác lập khung chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật phù hợp với đặc thù sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số để vận dụng vào địa bàn nghiên cứu địa lí kinh tế - xã hội cụ thể.
- Về nhân tố và tri thức bản địa: Làm rõ hệ thống nhân tố tác động đến sản xuất nông, lâm nghiệp của người Thái tại Sơn La; phân tích sâu sắc vai trò của kho tàng tri thức bản địa (phân loại ruộng đất, kỹ thuật thủy lợi mương phai lái lín, bảo vệ rừng mó nước) trong lịch sử và nhận diện sự biến đổi, đứt gãy của tri thức này trong quá trình di dân tái định cư các công trình thủy điện lớn.
- Về thực tiễn sản xuất: Phân tích thực trạng sản xuất nông, lâm nghiệp và mối quan hệ với tài nguyên thiên nhiên tại 103 xã tập trung trên 60% dân số là người Thái; đánh giá sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi từ tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hóa; lượng hóa chi phí, doanh thu, lợi nhuận và giá trị ngày công qua kết quả điều tra thực nghiệm tại 6 xã điểm thuộc 3 địa bàn đại diện (thành phố Sơn La, huyện Thuận Châu, huyện Quỳnh Nhai).
- Về mô hình và giải pháp: Nhận diện, đánh giá hiệu quả kinh tế - sinh thái của các mô hình sản xuất nông nghiệp truyền thống và các mô hình mới; định hướng phát triển mô hình nông lâm kết hợp, nuôi cá lồng lòng hồ; đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ (đất, nước, rừng, tri thức bản địa, thể chế HTX) nhằm thúc đẩy phát triển nông, lâm nghiệp gắn với sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên tại địa phương.
Về mặt kiến nghị, luận án đề xuất Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La, Sở Nông nghiệp và PTNT, chính quyền các huyện cần rà soát lại quy hoạch sử dụng đất sau tái định cư thủy điện; tăng cường đầu tư hoàn thiện cơ sở hạ tầng thủy lợi và giao thông nông thôn; duy trì chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng; đẩy mạnh thành lập các hợp tác xã nông nghiệp nhằm hỗ trợ nông hộ Thái tham gia chuỗi giá trị nông sản hàng hóa bền vững.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, do nguồn lực và thời gian thực hiện, luận án ghi nhận một số điểm giới hạn:
- Chuỗi số liệu thống kê thứ cấp toàn diện của luận án dừng lại ở mốc giai đoạn 2006 - 2016; các số liệu điều tra hộ gia đình bằng bảng hỏi sơ cấp được thu thập trong khoảng thời gian từ tháng 5/2015 đến tháng 12/2017, do đó chưa cập nhật được các chính sách phát triển nông nghiệp công nghệ cao và biến động thị trường nông sản Sơn La trong những năm gần đây.
- Khảo sát thực địa chi tiết và điều tra xã hội học chuyên sâu chỉ giới hạn tại 6 xã điểm thuộc 3 huyện/thành phố (Sơn La, Thuận Châu, Quỳnh Nhai), chưa bao phủ đầy đủ toàn bộ các tiểu vùng sinh thái khác có người Thái sinh sống như vùng biên giới Sông Mã, Sốp Cộp hay vùng cao Bắc Yên, Phù Yên.
Hướng nghiên cứu tiếp được gợi mở từ luận án bao gồm:
- Tiếp tục theo dõi, đánh giá tác động lâu dài của việc tái định cư thủy điện đối với sự ổn định sinh kế và mức độ thích ứng văn hóa - tài nguyên của cộng đồng người Thái trong giai đoạn mới.
- Mở rộng nghiên cứu so sánh mối quan hệ giữa sinh kế và tri thức bản địa trong quản lý tài nguyên của dân tộc Thái với các dân tộc thiểu số khác sinh sống đan xen trên cùng một địa bàn (như dân tộc Mông, Mường, Khơ Mú, Xinh Mun).
- Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu (hạn hán, sương muối, mưa đá) đến các chuỗi giá trị nông nghiệp hàng hóa (cà phê, cây ăn quả) và an ninh nguồn nước vùng lòng chảo Sơn La.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Địa lí học, Nhân học, Quản lý tài nguyên và Môi trường: Tài liệu cung cấp khung lý thuyết hoàn chỉnh về tổ chức lãnh thổ nông nghiệp miền núi, các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật lượng hóa hiệu quả nông hộ và phương pháp luận kết hợp địa lí kinh tế - xã hội với dân tộc học.
- Giảng viên các trường đại học, viện nghiên cứu: Có thể sử dụng nguồn dữ liệu thực địa, hệ thống 10 bản đồ chuyên đề và các bảng phân tích chi phí - lợi ích cây trồng làm giáo trình, tài liệu giảng dạy học phần Địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam, Địa lí địa phương Tây Bắc hoặc Phát triển nông thôn.
- Cơ quan quản lý và người làm chính sách: Cung cấp cơ sở khoa học cho Sở Nông nghiệp và PTNT, Sở Tài nguyên và Môi trường, Ban Dân tộc tỉnh Sơn La cùng UBND các huyện vùng lòng hồ thủy điện trong công tác quy hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng, bảo vệ đất dốc, xây dựng các hợp tác xã nông nghiệp và bảo tồn tri thức bản địa trong quản lý tài nguyên nước, rừng.
Câu hỏi thường gặp
-
Luận án xác định địa bàn phân bố tập trung của dân tộc Thái ở Sơn La dựa trên tiêu chí nào và có quy mô ra sao?
Luận án xác định địa bàn nghiên cứu tập trung là các xã có tỷ lệ đồng bào dân tộc Thái chiếm từ 60% dân số xã trở lên và có hoạt động kinh tế chủ yếu là nông, lâm nghiệp. Theo tiêu chí này, địa bàn nghiên cứu bao gồm 103 xã phân bố ở 12 đơn vị hành chính cấp huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Sơn La.
-
Các cuộc điều tra khảo sát xã hội học tại nông hộ được tác giả tiến hành ở đâu và trong khoảng thời gian nào?
Tác giả đã tiến hành điều tra bảng hỏi bán cấu trúc và phỏng vấn trực tiếp chủ hộ tại 6 xã thuộc 3 đơn vị hành chính: xã Chiềng Đen, Chiềng Xôm (thành phố Sơn La); xã Púng Tra, Chiềng Bôm (huyện Thuận Châu); xã Chiềng Bằng, Mường Sại (huyện Quỳnh Nhai). Thời gian thực hiện các đợt điều tra thực địa diễn ra từ tháng 5/2015 đến tháng 12/2017.
-
Hệ thống công trình thủy điện có tác động như thế nào đến sinh kế nông lâm nghiệp của người Thái tại Sơn La?
Việc xây dựng các công trình thủy điện lớn (Hòa Bình và Sơn La) đã buộc hơn 100 nghìn người Thái phải di chuyển khỏi nơi cư trú truyền thống. Việc chuyển tới các điểm tái định cư khiến người dân phải tiếp cận nguồn tài nguyên mới tại các điều kiện sinh thái phi truyền thống (đất dốc hơn, thiếu ruộng nước thung lũng), làm hạn chế việc ứng dụng tri thức bản địa lâu đời, đồng thời thúc đẩy sự xuất hiện của sinh kế mới là nuôi cá lồng bè trên lòng hồ thủy điện.
-
Tri thức bản địa của người Thái trong khai thác tài nguyên nước được thể hiện qua công trình truyền thống nào?
Tri thức bản địa về tài nguyên nước của người Thái được đúc kết qua hệ thống công trình thủy lợi truyền thống nổi tiếng mang tên "mương, phai, lái, lín". Hệ thống này bao gồm việc đắp phai chặn suối dâng nước, đào mương dẫn nước về đồng, dùng lái để điều tiết chia dòng và làm lín bằng cây tre, nứa để dẫn nước vượt qua các địa hình hiểm trở cung cấp cho ruộng bậc thang và thung lũng.
-
Hai hình thức tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp chính được luận án đi sâu phân tích là gì?
Luận án tập trung nghiên cứu 2 hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp phổ biến của người Thái ở Sơn La: (1) Kinh tế hộ gia đình (nông hộ) - hình thức sở hữu tư nhân truyền thống với quy mô nhỏ, vốn ít, đang chuyển dần từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa; và (2) Hợp tác xã nông nghiệp - hình thức liên kết kinh tế tập thể tự nguyện theo Luật Hợp tác xã năm 2012 nhằm hỗ trợ các dịch vụ đầu vào, kỹ thuật và tiêu thụ nông sản cho các nông hộ.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Đặng Thị Nhuần là công trình nghiên cứu địa lí kinh tế - xã hội chuyên sâu về mối quan hệ giữa sinh kế sản xuất nông, lâm nghiệp với sử dụng bền vững tài nguyên đất, nước, rừng của dân tộc Thái ở Sơn La. Luận án đã hệ thống hóa các nhân tố ảnh hưởng, đặc biệt nhấn mạnh vai trò của tri thức bản địa truyền thống và sự thích ứng của người dân trước các biến động lớn như tái định cư thủy điện và chuyển đổi cơ cấu kinh tế thị trường. Kết quả đánh giá thực nghiệm tại 103 xã tập trung và 6 xã điểm nghiên cứu đã lượng hóa hiệu quả kinh tế - sinh thái của các mô hình nông hộ và hợp tác xã. Các định hướng xây dựng mô hình nông lâm kết hợp, nuôi cá lồng hồ chứa cùng hệ thống giải pháp chính sách đề xuất trong luận án có giá trị khoa học và thực tiễn đối với công tác quy hoạch phát triển bền vững vùng dân tộc thiểu số và miền núi Tây Bắc.