Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Thị trường chứng khoán giữ vai trò là kênh huy động vốn dài hạn và là cơ chế cảnh báo, thúc đẩy quản trị doanh nghiệp trong nền kinh tế. Tại Việt Nam, thị trường chứng khoán ghi nhận sự mở rộng về số lượng doanh nghiệp niêm yết và quy mô giao dịch. Theo số liệu từ Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam được tác giả trích dẫn, tính đến hết tháng 01/2024, số lượng tài khoản của nhà đầu tư trong nước tăng thêm 126.169 tài khoản (gấp hơn 3 lần so với tháng 12/2023), nâng tổng số tài khoản giao dịch tương đương khoảng 7,4% dân số. Báo cáo từ Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho thấy dòng tiền từ nhà đầu tư cá nhân trong nước đóng vai trò là động lực dẫn dắt chính của thị trường, làm gia tăng biên độ dao động giá theo cả chiều tăng và chiều giảm.
Mặc dù quy mô tham gia của nhà đầu tư cá nhân tăng nhanh, hiểu biết về các yếu tố tâm lý và tài chính hành vi tác động đến quá trình ra quyết định đầu tư vẫn còn nhiều hạn chế, dẫn đến nguy cơ thua lỗ tài chính. Các nghiên cứu học thuật về tài chính hành vi trên thế giới phần lớn tập trung vào thị trường phát triển hoặc phân tích hành vi của nhà đầu tư tổ chức. Tại Việt Nam, số lượng công trình nghiên cứu chuyên sâu về các thiên lệch hành vi của nhà đầu tư cá nhân tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh còn tương đối hạn chế. Xuất phát từ thực tế đó, tác giả Dương Việt Anh đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Tài chính – Ngân hàng tại Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh nhằm lượng hóa các yếu tố này.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của đề tài là: Nghiên cứu các yếu tố tài chính hành vi ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư tại Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM.
Các mục tiêu cụ thể bao gồm:
- Xác định các yếu tố tài chính hành vi ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư chứng khoán.
- Đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đã xác định đối với quyết định đầu tư.
- Đề xuất các giải pháp giúp ích cho bối cảnh thị trường chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh.
Nhiệm vụ nghiên cứu được cụ thể hóa qua hai câu hỏi nghiên cứu:
- Những yếu tố tài chính hành vi nào ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư tại Sở Giao dịch Chứng khoán TP. HCM?
- Giải pháp mà các nhà đầu tư có thể áp dụng để giảm thiểu tác động tiêu cực của các yếu tố tài chính hành vi lên quyết định đầu tư?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố tài chính hành vi tác động đến quyết định của nhà đầu tư cá nhân tham gia thị trường chứng khoán.
- Phạm vi không gian: Thị trường chứng khoán tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu và khảo sát được thu thập từ tháng 01/2024 đến tháng 05/2024.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được xây dựng dựa trên sự kết hợp giữa lý thuyết tài chính truyền thống và các lý thuyết tài chính hành vi:
- Lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại (MPT) của Harry Markowitz (1952) và phát triển của James Tobin (1958): Cung cấp nền tảng về tối ưu hóa danh mục dựa trên mối quan hệ đánh đổi giữa tỷ suất sinh lời kỳ vọng và rủi ro phương sai trong điều kiện giả định chủ thể hành động duy lý.
- Mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) và Mô hình định giá tài sản hành vi (BAPM).
- Lý thuyết triển vọng (Prospect Theory) của Daniel Kahneman và Amos Tversky (1979): Giải thích quá trình ra quyết định trong điều kiện rủi ro và không chắc chắn thông qua hiệu ứng chắc chắn (certainty effect), hiệu ứng đóng khung (framing effect) và tâm lý ác cảm mất mát (loss aversion) – nơi mức độ đau khổ trước một khoản lỗ được ước tính lớn gấp đôi niềm vui nhận được từ một khoản lãi tương đương.
- Khái niệm và mô hình tài chính hành vi của Chaudhary (2013), Shefrin (2001), Forbes (2009), Subash (2012), Babajide & Adetiloye (2012): Phân tích sự can thiệp của các thiên lệch nhận thức và cảm xúc dẫn tới quyết định tài chính phi lý trí.
Tác giả đã tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước để định hình mô hình nghiên cứu:
| Tác giả (Năm) |
Địa bàn & Cỡ mẫu |
Phương pháp |
Các nhân tố tác động |
| Areiqat và cộng sự (2019) |
Sở Giao dịch Chứng khoán Amman (ASE), Jordan (N = 165) |
Hồi quy SPSS |
Tự tin quá mức (+), Tránh mất mát (+), Tâm lý bầy đàn (+); Tự tin quá mức có ý nghĩa cao nhất. |
| Kengatharan & Kengatharan (2014) |
Sở Giao dịch Chứng khoán Colombo, Sri Lanka (N = 128) |
Hồi quy SPSS |
Bầy đàn (+), Thuật toán kinh nghiệm (+), Triển vọng (+), Thị trường (+). |
| Sochi (2018) |
Thị trường Dhaka, Bangladesh (N = 203) |
Phân tích CFA |
Bầy đàn (+), Dựa trên kinh nghiệm (+), Triển vọng (+), Thị trường (+). |
| Kartini và cộng sự (2021) |
Indonesia (N = 165) |
One-Sample t-test |
Neo (+), Xu hướng đại diện (+), Ác cảm mất mát (+), Tự tin thái quá (+), Lạc quan (+), Bầy đàn (+). |
| Anthony & Joseph (2017) |
Kerala, Ấn Độ |
Phân tích AHP |
Tự tin quá mức (+), Tính đại diện (+), Hối tiếc (+), Tính toán tâm lý (+), Bầy đàn (+). |
| Almansour và cộng sự (2023) |
Saudi Arabia (N = 134) |
Mô hình SEM |
Đám đông (+), Cổ phiếu Blue Chip (+), Tự tin quá mức (+), Nhận thức rủi ro (+). |
| Lương & Hà (2011) |
Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (N = 300) |
SPSS & AMOS |
Bầy đàn (+), Triển vọng (-), Kinh nghiệm (+); Yếu tố thị trường có ảnh hưởng mạnh nhất. |
| Hiếu, Phước & Vượng (2020) |
Việt Nam |
Hồi quy SPSS 20.0 |
Quá tự tin (+), Đám đông (+), Neo quyết định (+), Khuynh hướng sẵn có (+), Tình huống điển hình (+). |
Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa nghiên cứu định tính và định lượng:
- Nghiên cứu định tính: Hệ thống hóa lý thuyết, tổng quan tài liệu và xin ý kiến giảng viên hướng dẫn để điều chỉnh bảng câu hỏi khảo sát và thang đo cho phù hợp với thị trường TP.HCM.
- Nghiên cứu định lượng: Thu thập dữ liệu thông qua khảo sát bằng bảng câu hỏi với thang đo Likert 5 mức độ (1 = Hoàn toàn không đồng ý đến 5 = Hoàn toàn đồng ý).
- Quy mô mẫu và kỹ thuật lấy mẫu: Áp dụng quy tắc của Hair và cộng sự (2010), cỡ mẫu tối thiểu bằng 10 lần số biến quan sát. Đề tài có 24 biến quan sát, do đó cỡ mẫu yêu cầu là 24 x 10 = 240 quan sát. Tác giả phát ra 280 phiếu khảo sát thông qua hai hình thức: trực tuyến qua Google Forms (gửi qua email, mạng xã hội Facebook, Zalo) và trực tiếp (phát phiếu tại một số quán cà phê tại TP.HCM). Số phiếu hợp lệ thu về đạt 240 mẫu.
- Thang đo nghiên cứu gồm 24 biến quan sát thuộc 6 nhóm:
- Tâm lý quá tự tin (T1–T4): Kế thừa từ Areiqat và cộng sự (2019).
- Hiệu ứng đám đông (H1–H4): Kế thừa từ Areiqat và cộng sự (2019).
- Nhận thức rủi ro (R1–R4): Kế thừa từ Areiqat và cộng sự (2019).
- Yếu tố thị trường (MK1–MK4): Kế thừa từ Sochi (2018), Kiều & Diệu (2023).
- Kiến thức chuyên môn (P1–P4): Kế thừa từ Kiều & Diệu (2023).
- Quyết định đầu tư (DS1–DS4, biến phụ thuộc): Kế thừa từ Ngahu (2017).
- Kỹ thuật phân tích dữ liệu trên phần mềm SPSS 25.0: Thống kê mô tả; Đánh giá độ tin cậy thang đo Cronbach's Alpha (điều kiện Alpha > 0,7 và hệ số tương quan biến - tổng >= 0,3); Phân tích nhân tố khám phá EFA (tiêu chuẩn KMO trong khoảng 0,5 - 1,0, kiểm định Bartlett có p < 0,05, hệ số tải Factor Loading > 0,5, tổng phương sai trích >= 50%); Phân tích tương quan Pearson; Phân tích hồi quy tuyến tính bội và kiểm tra các vi phạm giả định (phần dư chuẩn hóa, đa cộng tuyến qua hệ số phóng đại phương sai VIF, tính độc lập của phần dư).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tính cấp thiết của đề tài
Chương này thiết lập bối cảnh thực tiễn của thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn đầu năm 2024, nổi bật là sự bùng nổ tài khoản cá nhân mới mở (tháng 01/2024 tăng 126.169 tài khoản). Chương 1 xác định rõ khoảng trống nghiên cứu khi các nghiên cứu hiện tại chủ yếu tập trung vào nhà đầu tư tổ chức hoặc thị trường quốc tế, thiếu các bằng chứng thực nghiệm cụ thể đối với nhà đầu tư cá nhân tại TP.HCM. Tác giả xác lập hệ thống 3 mục tiêu nghiên cứu, 2 câu hỏi nghiên cứu, định vị đối tượng là nhà đầu tư cá nhân tại TP.HCM trong khung thời gian từ tháng 01/2024 đến tháng 05/2024, cùng kết cấu 5 chương của khóa luận.
Chương 2. Khung lý thuyết về tài chính hành vi và tổng quan các nghiên cứu trước
Chương 2 trình bày cơ sở lý luận về tài chính hành vi, đối chiếu với lý thuyết tài chính truyền thống thông qua Lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại (MPT), mô hình CAPM, BAPM và Lý thuyết triển vọng (Prospect Theory). Tác giả tổng hợp 8 nghiên cứu quốc tế và trong nước, làm rõ bản chất của các yếu tố hành vi:
- Tâm lý quá tự tin (Nevins, 2004; Bhandari & Deaves, 2006): Nhà đầu tư phóng đại kỹ năng và độ chính xác của thông tin cá nhân.
- Nhận thức rủi ro (Ricciardi, 2004; Rana và cộng sự, 2011): Đánh giá chủ quan của nhà đầu tư về sự không chắc chắn và nguy cơ tổn thất.
- Hiệu ứng đám đông (Hirshleifer & Teoh, 2003; Bakar & Yi, 2016): Hành vi chạy theo giao dịch tập thể do tin rằng người khác có thông tin vượt trội.
- Yếu tố thị trường (Waweru và cộng sự, 2008): Biến động giá, tin tức truyền thông và lịch sử giao dịch tác động tới phản ứng của nhà đầu tư.
- Kiến thức chuyên môn (Brucks, 1985; Klapper và cộng sự, 2015): Mức độ hiểu biết về sản phẩm, tỷ lệ đòn bẩy, chi phí và quản trị danh mục.
Chương 3. Mô hình và phương pháp nghiên cứu
Chương này xây dựng mô hình nghiên cứu gồm 5 biến độc lập tác động đến biến phụ thuộc Quyết định đầu tư (DS) thông qua 5 giả thuyết nghiên cứu (H1: Tâm lý quá tự tin tác động cùng chiều; H2: Hiệu ứng đám đông tác động cùng chiều; H3: Nhận thức rủi ro tác động cùng chiều; H4: Yếu tố thị trường tác động cùng chiều; H5: Kiến thức chuyên môn tác động cùng chiều). Chương 3 trình bày chi tiết thang đo 24 biến quan sát, thiết kế quy trình lấy mẫu đạt quy mô N = 240 theo tiêu chuẩn Hair và cộng sự (2010), cùng các tiêu chuẩn kiểm định định lượng trên SPSS 25.0 (Cronbach's Alpha, EFA, phân tích tương quan và hồi quy).
Chương 4. Kết quả nghiên cứu
Chương 4 cung cấp số liệu thực tế về thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2023 và đầu năm 2024:
- Chỉ số VN-Index cuối năm 2023 đạt 1.129,93 điểm (+12,2%), HNX-Index đạt 231,04 điểm (+12,5%).
- Giá trị giao dịch bình quân đạt 17.579 tỷ đồng/phiên. Vốn hóa đạt 5.937 nghìn tỷ đồng (+13,6%, bằng 58,1% GDP năm 2023). Toàn thị trường có 739 cổ phiếu/chứng chỉ quỹ niêm yết và 862 cổ phiếu UPCoM, với gần 2.300 doanh nghiệp niêm yết/đăng ký giao dịch thuộc 82 công ty chứng khoán. Tổng số tài khoản đạt trên 7,29 triệu vào cuối năm 2023.
- Dẫn chứng diễn biến phiên ngày 26/02/2024 khi nhóm cổ phiếu chứng khoán (SSI, VND, VCI, MBS, SHS, BSI, CTS, AGR) phục hồi mạnh mẽ; riêng cổ phiếu HCM tăng kịch trần lên 28.300 đồng/cổ phiếu với thanh khoản kỷ lục gần 32 triệu đơn vị, nâng vốn hóa vượt 21.300 tỷ đồng.
Về phân tích thống kê mô tả mẫu nghiên cứu (N = 240):
- Giới tính: Nam giới chiếm 53,75% (129 người), nữ giới chiếm 46,25% (111 người).
- Cơ cấu nghề nghiệp:
- Quản lý / Chủ kinh doanh: 82 người (chiếm tỷ trọng cao nhất, 34,17%).
- Nhân viên kinh doanh: 76 người (chiếm 31,67%).
- Khác (lao động tự do, hưu trí, giáo viên, bác sĩ,...): 42 người (chiếm 17,50%).
- Nhân viên văn phòng: 35 người (chiếm 14,58%).
- Sinh viên: 5 người (chiếm 2,08%).
Chương này trình bày các bước phân tích Cronbach's Alpha cho 6 thang đo, kiểm định EFA cho biến độc lập và biến phụ thuộc, phân tích tương quan Pearson, ước lượng mô hình hồi quy bội, kiểm định vi phạm giả định (phân phối chuẩn, kiểm định phần dư, hiện tượng đa cộng tuyến) và thảo luận kết quả kiểm định 5 giả thuyết nghiên cứu.
Chương 5. Kết luận và hàm ý quản trị
Chương 5 tóm lược các phát hiện cốt lõi từ kết quả hồi quy, xác nhận sự ảnh hưởng của 5 yếu tố tài chính hành vi đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân tại TP.HCM. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra hệ thống hàm ý quản trị cụ thể nhằm giúp nhà đầu tư kiểm soát các sai lệch tâm lý, đồng thời nêu rõ các hạn chế về mẫu và gợi ý hướng nghiên cứu tiếp theo.
Kết quả và đóng góp nghiên cứu
Khóa luận đã kiểm định thực nghiệm và đi đến các kết luận định lượng chính:
- Mô hình phân tích hồi quy bội bằng phần mềm SPSS 25.0 trên cỡ mẫu 240 nhà đầu tư cá nhân tại thị trường chứng khoán TP.HCM xác định có 05 yếu tố tài chính hành vi tác động đến quyết định đầu tư: (1) Tâm lý quá tự tin, (2) Hiệu ứng đám đông, (3) Nhận thức rủi ro, (4) Yếu tố thị trường, và (5) Kiến thức chuyên môn.
Bảng cơ cấu nhân khẩu học của mẫu khảo sát thực tế:
| Tiêu chí |
Phân nhóm |
Số lượng (N = 240) |
Tỷ lệ (%) |
| Giới tính |
Nam |
129 |
53,75% |
|
Nữ |
111 |
46,25% |
| Nghề nghiệp |
Quản lý / Chủ kinh doanh |
82 |
34,17% |
|
Nhân viên kinh doanh |
76 |
31,67% |
|
Khác (tự do, hưu trí, giáo viên,...) |
42 |
17,50% |
|
Nhân viên văn phòng |
35 |
14,58% |
|
Sinh viên |
5 |
2,08% |
Các hàm ý quản trị và giải pháp do tác giả đề xuất:
- Đối với Tâm lý quá tự tin: Nhà đầu tư cá nhân cần nhận diện xu hướng đánh giá quá cao năng lực cá nhân; tránh giao dịch quá mức hoặc chỉ tập trung vào các cổ phiếu quen thuộc mà bỏ qua việc đa dạng hóa danh mục đầu tư.
- Đối với Hiệu ứng đám đông: Nhà đầu tư cần duy trì sự độc lập trong việc phân tích thông tin cơ bản; hạn chế chạy theo các làn sóng mua bán quy mô lớn hoặc tin đồn từ đám đông để tránh mua đỉnh bán đáy.
- Đối với Nhận thức rủi ro: Cần thiết lập giới hạn chịu đựng rủi ro rõ ràng trước khi giao dịch; không nên đánh đồng các biến động giá ngắn hạn với cơ hội sinh lời chắc chắn.
- Đối với Yếu tố thị trường: Nâng cao năng lực sàng lọc và xử lý thông tin từ các phương tiện truyền thông chính thống, phân tích nguyên tắc cơ bản của doanh nghiệp thay vì chỉ phản ứng theo cảm xúc trước biến động chỉ số.
- Đối với Kiến thức chuyên môn: Chủ động trau dồi kiến thức tài chính nền tảng, nắm vững vai trò của công cụ đòn bẩy tài chính, hiểu rõ chi phí rủi ro và các công cụ quản trị danh mục hiện đại.
Đóng góp của nghiên cứu so với các công trình trước:
- Khóa luận góp phần lấp đầy khoảng trống dữ liệu thực nghiệm về tài chính hành vi tại thị trường chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh – nơi có đặc thù tỷ trọng nhà đầu tư cá nhân chi phối giao dịch nhưng trước đây chủ yếu được nghiên cứu chung với nhà đầu tư tổ chức.
- Hệ thống hóa và kiểm định bộ thang đo gồm 24 biến quan sát kế thừa từ các công trình quốc tế (Areiqat et al., 2019; Sochi, 2018; Ngahu, 2017) và nghiên cứu trong nước (Kiều & Diệu, 2023), tạo tài liệu đối chiếu cho các nghiên cứu tiếp theo về tâm lý nhà đầu tư cá nhân tại các thị trường cận biên và mới nổi.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo
Dựa trên phạm vi và nội dung văn bản, đề tài có các hạn chế sau:
- Phạm vi không gian hẹp: Dữ liệu khảo sát chỉ thu thập tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, chưa phản ánh đầy đủ hành vi của nhà đầu tư cá nhân tại các vùng miền khác hoặc trên phạm vi toàn quốc.
- Quy mô và phương pháp lấy mẫu: Cỡ mẫu đạt 240 quan sát hợp lệ (phát ra 280 phiếu); phương pháp lấy mẫu thuận tiện kết hợp khảo sát trực tiếp tại quán cà phê và trực tuyến có thể làm giảm tính đại diện tổng thể của toàn bộ thị trường.
- Giới hạn về thời gian khảo sát: Nghiên cứu thực hiện thu thập dữ liệu trong khung thời gian ngắn (từ tháng 01/2024 đến tháng 05/2024), chưa đánh giá được sự thay đổi hành vi của nhà đầu tư qua các chu kỳ thị trường biến động dài hạn.
- Số lượng biến số: Khóa luận chỉ tập trung vào 5 nhân tố hành vi cụ thể, chưa bao quát toàn bộ các độ chệch tâm lý khác như thiên kiến sẵn có, tính đại diện, hay ác cảm hối tiếc.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng quy mô mẫu khảo sát và triển khai trên nhiều tỉnh thành để tăng tính đại diện thống kê.
- Kéo dài thời gian quan sát qua các giai đoạn thăng trầm khác nhau của thị trường chứng khoán.
- Bổ sung thêm các nhân tố hành vi chuyên sâu khác và phân tích sâu hơn tác động điều tiết của các biến nhân khẩu học (độ tuổi, mức thu nhập, số năm kinh nghiệm giao dịch).
Giá trị tham khảo
Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:
- Sinh viên và học viên cao học ngành Tài chính – Ngân hàng, Quản trị Kinh doanh: Tham khảo cấu trúc nghiên cứu định lượng hoàn chỉnh, quy trình xây dựng thang đo Likert, kỹ thuật kiểm định mô hình hồi quy đa biến trên SPSS 25.0 theo chuẩn của Hair và cộng sự (2010).
- Các nhà nghiên cứu về tài chính hành vi: Tham khảo bảng tổng quan tài liệu phong phú với các nghiên cứu so sánh quốc tế (Jordan, Sri Lanka, Bangladesh, Indonesia, Saudi Arabia) và trong nước.
- Nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán: Tiếp cận các cảnh báo thực tế về 5 thiên lệch tâm lý phổ biến, từ đó xây dựng kỷ luật giao dịch và quản trị danh mục đầu tư hiệu quả hơn.
- Các công ty chứng khoán và chuyên viên tư vấn đầu tư: Sử dụng kết quả nghiên cứu để nắm bắt đặc điểm tâm lý, hành vi của khách hàng cá nhân, từ đó thiết kế các chương trình đào tạo kiến thức và dịch vụ tư vấn phù hợp.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận sử dụng cỡ mẫu bao nhiêu và quy tắc tính cỡ mẫu được áp dụng như thế nào?
Khóa luận sử dụng dữ liệu từ 240 nhà đầu tư cá nhân hợp lệ (thu về từ 280 phiếu khảo sát phát ra). Tác giả căn cứ theo tiêu chuẩn của Hair và cộng sự (2010), yêu cầu cỡ mẫu tối thiểu gấp 10 lần số biến quan sát. Với mô hình gồm 24 biến quan sát, kích thước mẫu tối thiểu cần đạt là 24 x 10 = 240 quan sát.
2. Cơ cấu nghề nghiệp của 240 nhà đầu tư tham gia khảo sát được phân bổ ra sao?
Trong 240 nhà đầu tư khảo sát, nhóm Quản lý / Chủ kinh doanh chiếm số lượng lớn nhất với 82 người (34,17%); tiếp theo là Nhân viên kinh doanh với 76 người (31,67%); nhóm Khác (người làm tự do, hưu trí, giáo viên, bác sĩ,...) có 42 người (17,50%); Nhân viên văn phòng có 35 người (14,58%); và nhóm Sinh viên có 5 người (2,08%).
3. Mô hình nghiên cứu đề xuất gồm những yếu tố tài chính hành vi nào và thang đo được kế thừa từ nguồn nào?
Mô hình đề xuất gồm 05 yếu tố độc lập tác động đến quyết định đầu tư: (1) Tâm lý quá tự tin (biến T1-T4, kế thừa từ Areiqat và cộng sự, 2019); (2) Hiệu ứng đám đông (H1-H4, kế thừa từ Areiqat và cộng sự, 2019); (3) Nhận thức rủi ro (R1-R4, kế thừa từ Areiqat và cộng sự, 2019); (4) Yếu tố thị trường (MK1-MK4, kế thừa từ Sochi, 2018; Kiều & Diệu, 2023); và (5) Kiến thức chuyên môn (P1-P4, kế thừa từ Kiều & Diệu, 2023). Biến phụ thuộc là Quyết định đầu tư (DS1-DS4, kế thừa từ Ngahu, 2017).
4. Bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2023 và đầu năm 2024 được tác giả ghi nhận với những số liệu cụ thể nào?
Tính đến ngày 29/12/2023, chỉ số VN-Index đạt 1.129,93 điểm (+12,2%), HNX-Index đạt 231,04 điểm (+12,5%), giá trị giao dịch bình quân đạt 17.579 tỷ đồng/phiên. Vốn hóa thị trường đạt 5.937 nghìn tỷ đồng (+13,6%, tương đương 58,1% GDP), với 739 cổ phiếu/chứng chỉ quỹ niêm yết và 862 cổ phiếu UPCoM. Số lượng tài khoản đạt trên 7,29 triệu vào cuối năm 2023 (tương đương 7,5% dân số) và tăng thêm 126.169 tài khoản trong tháng 01/2024.
5. Lý thuyết triển vọng (Prospect Theory) được khóa luận giải thích và áp dụng như thế nào?
Theo Kahneman và Tversky (1979), lý thuyết triển vọng chỉ ra rằng con người không duy lý nhất quán: họ có xu hướng sợ rủi ro khi đối mặt với lợi nhuận (chọn phương án chắc chắn) nhưng lại sẵn sàng chấp nhận rủi ro khi đối mặt với tổn thất nhằm tìm kiếm cơ hội hoàn vốn. Nhà đầu tư chịu nỗi đau mất mát gấp đôi niềm vui nhận được từ khoản lãi tương đương, dẫn đến việc ra quyết định bị chi phối mạnh mẽ bởi hiệu ứng đóng khung và điểm tham chiếu tâm lý.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Dương Việt Anh đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về tài chính hành vi và kiểm định thành công mô hình ảnh hưởng của 05 yếu tố (Tâm lý quá tự tin, Hiệu ứng đám đông, Nhận thức rủi ro, Yếu tố thị trường và Kiến thức chuyên môn) đến quyết định của 240 nhà đầu tư cá nhân tại TP.HCM. Công trình kết hợp phương pháp khảo sát thực nghiệm với kỹ thuật xử lý định lượng trên SPSS 25.0, cung cấp những bằng chứng thực chứng phản ánh thực trạng giao dịch chứng khoán tại Việt Nam giai đoạn đầu năm 2024. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nghiên cứu học thuật định lượng tiếp theo, đồng thời mang lại những gợi ý thiết thực giúp nhà đầu tư cá nhân kiểm soát thiên lệch nhận thức và nâng cao hiệu quả đầu tư.