Đặt vấn đề Kiểm tra là một hoạt động cần thiết trong lĩnh vực giáo dục, nhằm đánh giá chất lƣợng học tập của học sinh, sinh viên, là một trong những căn cứ để đánh giá chất lƣợng dạy học và tuyển chọn những học sinh có trình độ tốt, đủ năng lực đáp ứng mục tiêu đào tạo nhất định. hiệu quả của chƣơng trình học tập. Vì vậy, có không ít học sinh không tránh đƣợc nỗi lo lắng mồi khi phải đối mặt với hoạt động này, tức chịu đựng lo âu thi cử. Theo tổng họp của Von der Embse, Barterian và Segool (2013) từ nhiều nghiên cứu khác nhau về lo âu thi cử, hiện tƣợng tâm lý này bắt đầu xuất hiện ở học sinh lớp 2, tỷ lệ học sinh có lo âu thi cử tăng dần theo bậc học trong hệ thống giáo dục phổ thông.
Sinh viên cao đẳng, đại học vẫn có trải nghiệm lo âu thi cử. Xem xét trên học sinh cả tiểu học và trung học, có khoảng 33% trải nghiệm lo âu thi cử, riêng trên học sinh trung học có khoảng 10 đến 40% có trải nghiệm hiện tƣợng này. Putwain and Daly (2014) nghiên cứu trên mẫu khá lớn (2.435 học sinh của 11 trƣờng trung học) ở Anh, phát hiện ra rằng có 16,4% học sinh có lo âu thi cử ở mức độ cao. Tạp chí tâm lý học, số 11 – 2021, kết quả nghiên cứu tác động của lo âu thi cử cho thấy, ngƣời có trải nghiệm lo âu thi cử ở mức trên trung bình không nhừng có thành tích thi và học tập không tốt, mà còn chịu nhiều tác động, tiêu cực về tâm lý và sinh lý.
Học sinh có lo âu thi cử cao có thể bị rối nhiễu nhận thức trong khi chuẩn bị thi, trong khi thi hoặc cả hai (hệ thống hóa hoặc sắp xếp nội dung kém, hạn chế khả năng truy xuất thông tin cơ bản, quan trọng phục vụ cho hoàn thành bài thi, sự tập trung để hoàn thành nhiệm vụ chính - thực hiện bài thi - bị phân tán bởi những suy nghĩ tiêu cực khác) (Ahmadpanah và cộng sự, 2016). Tổng hợp các nghiên cứu về hệ quả của lo âu thi cử, Lowe và Lee (2007) phát hiện thấy rằng, học sinh có lo âu thi cử 1 cao không thể hoàn thành tốt các nhiệm vụ học tập, có tỷ lệ ở lại lớp cao hơn, bỏ học giữa chừng nhiều hơn những học sinh có lo âu thi cử trung bình trở xuống. Các em cũng báo cáo có mức độ cao hơn cùa lo âu tổng quát, trầm cảm, tự tử và cảm giác vô vọng. Là một trong những ngƣời tiên phong trong nghiên cứu lo âu thi cử, Sarason (1977) đã xác định khái niệm và xây dựng thang đo Lo âu thi cử (TAS) đầu tiên dành cho học sinh.
Bà cho rằng, lo âu thi cử là trạng thái lo âu của cá nhân gắn với sự kiện thi cử hoặc hoàn cảnh họ bị đánh giá chính thức. Trƣớc đó, bà đã tìm hiểu cơ chế xuất hiện lo âu và nhận thấy rằng, lo âu về cơ bản bắt nguồn từ nhận thức của cá nhân về năng lực của bản thân họ và về cách họ xử lý hệ thống thông tin mà hoàn cảnh khách quan đƣa đến (ý nghĩ liệu bản thân mình đã lựa chọn cách xử lý thông tin tốt nhất hay chƣa, liệu cách xử lý của mình có phù họp không, có mang lại lợi ích cao nhất không là yếu tố tác động đến lo âu của họ). Theo bà, lo âu không bắt nguồn từ hoàn cảnh khách quan (trong cùng một hoàn cảnh, có ngƣời lo âu, có ngƣời không lo âu; có ngƣời coi kỳ thi là sự kiện nguy hiểm; trái lại, những ngƣời khác cho rằng đây là cơ hội để kiểm tra tri thức của bản thân). Sarason xác định lo âu thi cử là một đặc tính đơn nhất, có thể đo bằng thang đo 1 thành tố.
Đó là cơ sở để nhà nghiên cứu này hoàn thiện thang đo Lo âu thi cử. Tuy nhiên, tìm hiểu về cấu trúc của thang đo Lo âu thi cử, Cassady Jerrell và Johnson Ronald (2002) nhận thấy rằng, mặc dù, các nghiên cứu trƣớc đây của Sarason dùng thang đo 1 thành tố để đo lo âu thi cử nhƣng Sarason lại đề xuất rằng những lo lắng gây nhiễu đƣợc chú ý đến trong các tình huống đánh giá có khả năng là sự kết hợp của “hoạt động sinh lý cao” và “sự suy ngẫm tự ti về bản thân”. Putwain và Daly (2014), Thomas và cộng sự (2017) cho rằng, lo âu thi cử ở học sinh khác với những lo âu khác ở chỗ nó chủ yếu xuất hiện ở các tình huống có tính chất đánh giá chính thức, có nghĩa là sự xuất hiện của nó gắn với những hoàn cảnh các em chịu áp lực trong học 2 tập. Môi trƣờng học tập trong đại học luôn yêu cầu khả năng tự học và sự tự giác nỗ lực rất cao, những đòi hỏi về một tấm bằng tốt, một bảng điểm đẹp để sau này có nhiều cơ hội việc làm hơn đang vô hình trung tạo áp lực rất lớn cho sinh viên.
Có một nghiên cứu về gánh nặng bệnh tật toàn cầu cho ta thấy số ngƣời mắc chứng rối loạn lo âu tăng từ 232,6 triệu ngƣời năm 2005 lên 267,2 triệu ngƣời năm 2015 (GBD, 2015). Vì những điều lo lắng trên nên xuất hiện một tình trạng là lo âu thi cử của sinh viên. Lo âu thi cử là một dạng lo lắng hỗn hợp, đặc hiệu với nguyên là do sự kết hợp giữa nhận thức của cá nhân, điểm điểm trong nhân cách, hoàn cảnh và các nguyên nhân khác dẫn đến việc cá nhân coi các cuộc thi, kiểm tra nhƣ một kích thích gây nguy hại cho bản thân, từ đó dẫn đến lo lắng quá mức về các kì thi. Các vấn đề liên quan đến lo âu thi cử rất nhiều, lại chứng kiến nhiều bạn sinh viên vì áp lực quá mà ảnh hƣởng đến thành tích cá nhân nên trong luận văn này em muốn nghiên cứu về “Các yếu tố tác động đến lo âu thi cử của sinh viên Trƣờng Đại học Giáo Dục – ĐHQGHN”.
Mục đích nghiên cứu Tìm hiểu các yếu tố tác động đến lo âu thi cử của sinh viên trƣờng Đại học Giáo Dục – Đại học Quốc Gia Hà Nội. Câu hỏi nghiên cứu - Các yếu tố nào tác động đến lo âu thi cử của sinh viên Trƣờng Đại học Giáo Dục? - Mức độ ảnh hƣởng của các yếu tố đó đến lo âu thi cử của sinh viên ĐHGD nhƣ thế nào? 4. Phƣơng pháp nghiên cứu - Phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu Ngƣời nghiên cứu tìm kiếm, thu thập và nghiên cứu tài liệu từ nhiều nguồn 3 khác nhau. Cơ sở của vấn đề nghiên cứu sẽ đƣợc rút ra từ những kết luận khoa học, quá trình phân tích, tổng hợp lý thuyết và hệ thống lý thuyết đó.
- Phƣơng pháp khảo sát Dựa vào mô hình nghiên cứu, ngƣời nghiên cứu xây dựng bảng câu hỏi dựa trên mô hình nghiên cứu để thu thập thông tin và kiểm tra giả thuyết của mình. Bảng khảo sát đƣợc phát phiếu trực tiếp tại trƣờng và gửi link online cho sinh viên. - Phƣơng pháp thống kê toán học Kiểm định thang đo và mô hình nghiên cứu, sử dụng phƣơng pháp thống lê toán học để xử lý số liệu, đánh giá độ tin cậy của thang đo và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu theo mô hình nghiên cứu của vấn đề nghiên cứu. Chạy mô hình SEM để nghiên cứu đƣợc sử dụng cho vấn đề để đánh giá sự tƣơng tác giữa các yếu tố cho mô hình.
Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu - Khách thể là sinh viên trƣờng Đại học Giáo Dục – ĐHQGHN. - Đối tƣợng: Các yếu tố tác động đến lo âu thi cử của sinh viên Trƣờng Đại học Giáo Dục – ĐHQGHN. Phạm vi nghiên cứu - Về nội dung nghiên cứu Nghiên cứu này thực hiện nghiên cứu về các yếu tố tác động đến lo âu thi cử của sinh viên Trƣờng Đại học Giáo dục – ĐHQGHN. - Phạm vi khảo sát nghiên cứu Nghiên cứu này đƣợc thực hiện đối với các sinh viên đƣợc lựa chọn ngẫu nhiên từ các khoa thuộc Trƣờng Đại học Giáo dục - ĐHQGHN 4 CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu Chứng lo âu đƣợc biết đến từ rất sớm, thời Hy Lạp cổ đại - vào thế kỷ IV trƣớc công nguyên do Hypocrates (460- 377 trƣớc công nguyên) mô tả, với một dạng phổ biến mà biểu hiện là cảm giác co thắt và nghẹt thở, là cuộc đấu tranh của tâm hồn - khái niệm này tồn tại nhiều thập kỷ sau đó. Lúc bấy giờ ngƣời ta bàn tán nhiều về lo âu, nhƣng chủ yếu là trong lĩnh vực tƣ tƣởng, đạo đức và văn học; xem xét những ham muốn của tâm hồn, những suy nghĩ của ma quỷ. Ngƣời ta không chú ý nghiên cứu về bản chất của các cảm xúc mà chỉ tìm cách kiểm soát chúng.
Sự lo lắng đƣợc lãng mạn hóa và thần thoại hóa, đƣợc coi là biểu hiện của nỗi buồn hơn một là bệnh lý cần nghiên cứu. Charles Darwin - Ông tổ của ngành sinh vật trong tác phẩm: “Biểu hiện của cảm xúc ở ngƣời và động vật” (1872) đã mô tả “Con ngƣời đã trải qua các thế hệ đã cố gắng chạy trốn khỏi những kẻ thù nguy hiểm với niềm sợ hãi, lo âu ngày một tăng lên”. Lo âu thông thƣờng gặp là một cảm giác sợ hãi, bối rối, khó chịu và đau khổ về thể chất lan rộng ở bất cứ bộ phận nào của cơ thể. Năm 1844, Kerkgard - nhà tâm thần học và y học ngƣời Đan Mạch đã sử dụng thuật ngữ Angest để chỉ trạng thái lo âu ở con ngƣời.
Năm 1866, Morel đã gộp những trạng thái lo âu lại với nhau và ông gọi là “Hoang tƣởng cảm xúc”, trạng thái này khác với chứng Hysteria và bệnh hypochondria. Năm 1895, trên cơ sở phân tích các hiện tƣợng lâm sàng rối loạn ám ảnh, Freud đã đề xuất thuật ngữ “nhiễu tâm lo âu”, ông cho rằng sở dĩ các bệnh nhân có chứng nhiễu tâm lo âu là do sự xung đột của nội tâm vô thức. Thuật ngữ này của của Sigmund Freud đã đƣợc khá nhiều ngƣời chấp nhận và đƣợc sử dụng trong thời gian dài từ đầu thế kỷ XX cho đến những năm 60 của thế kỷ này. 5 Thuyết tiến hóa của Charles Darwin (1872) đã nêu rõ nguồn gốc và bản chất của nỗi sợ hãi và lo âu.
Các nhà tâm lý học và bác sĩ tâm thần bắt đầu nghiên cứu sự lo âu và bản chất của nó.