CHƯƠNG 1 Chương này đã nêu ra các phần quan trọng của đề tài như giải thích việc chọn ngành điện để nghiên cứu, nêu ra các phần liên quan như mục tiêu, câu hỏi, phương pháp, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Ở chương này, tác giả trình bày tổng quan về các nội dung trọng tâm của đề tài nghiên cứu. Đầu tiên, các khái niệm, lý thuyết gắn liền với nghiên cứu được tác giả nêu ra. Bên cạnh đó, tác giả lược khảo các nghiên cứu được sử dụng trong bài và phát hiện ra khoảng trống nghiên cứu đề tài.
KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA DOANH NGHIỆP NGÀNH ĐIỆN 2. Khái niệm Theo Al-Jafari và Samman (2015), KNSL đề cập đến thu nhập của DN được tạo ra từ doanh thu và sau đó trừ đi mọi chi phí nảy sinh tại mỗi giai đoạn cụ thể. Theo Fareed và cộng sự (2016), KNSL đồng nghĩa với khả năng tạo ra thu nhập của DN, đây được xem là điều cơ bản để đảm bảo một DN có thể vận hành ổn định. Theo Nishanthini và Nimalathasan (2013), KNSL còn nói đến việc DN triển khai các khoản đầu tư như thế nào để số tiền thu được vượt qua giá trị của các khoản đầu tư này.
Ngoài ra, theo Durrah và cộng sự (2016), KNSL còn đề cập đến khả năng DN tạo ra thu nhập như một khoản hoàn trả từ số tiền đầu tư, qua đó thể hiện sự thành công hay thất bại của DN. Theo Moussa & Boubaker (2023), KNSL thể hiện khả năng tận dụng tài sản của DN trong quá trình kinh doanh để có thể đem lại lợi ích cho DN. Tóm lại, có thể hiểu KNSL là khả năng một DN có thể thu lợi. Bên cạnh đó, KNSL còn thể hiện triển vọng hoạt động của một DN.
Theo Bhutta và Hasan (2013), KNSL đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu và sự phát triển của DN. Do đó, cải thiện và gia tăng KNSL là mục tiêu thiết yếu của mỗi DN. Một số chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời 2. Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (Return on Assets – ROA) Chỉ tiêu ROA đo lường mức độ tạo ra lợi nhuận của một DN dựa trên một mức tài sản nhất định.
Theo Dewi và cộng sự (2019), tỷ lệ này minh họa năng lực tạo ra 7 thu nhập từ mỗi tài sản được DN sử dụng. Theo Markonah và cộng sự (2020), khi ROA càng lớn chứng tỏ DN sử dụng tài sản đạt mức tối ưu. Lợi nhuận sau thuế ROA = Tổng tài sản Trong đó, lợi nhuận sau thuế (LNST) được lấy từ báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và tổng tài sản (TTS) được lấy từ bảng cân đối kế toán trong BCTC của DN. Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (Return on Equity – ROE) Theo Kothari và Sodha (2019) ROE minh chứng cho số lợi nhuận mà DN kiếm được so với số vốn DN đang sở hữu được phản ánh trên BCTC trong một thời gian cụ thể.
Theo Kontesa (2015), khi ROE tăng, nói lên việc nguồn vốn đang được DN điều hành một cách thành công và có thể hỗ trợ cho các hoạt động khác của DN. Lợi nhuận sau thuế ROE = Vốn chủ sở hữu Trong đó, LNST được lấy từ báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, còn vốn chủ sở hữu được lấy từ bảng cân đối kế toán trong BCTC của DN. Trong bài nghiên cứu này, tác giả sử dụng chỉ tiêu ROA để đo lường KNSL của DN ngành điện. Vì tác giả đa phần thảo luận tình trạng tài chính và đánh giá năng lực hoạt động của các DN điện nên sử dụng ROA sẽ phù hợp hơn.
Trong khi, ROE sẽ dễ bị ảnh hưởng bởi các định hướng tài chính của các ban quản trị DN. CÁC LÝ THUYẾT NỀN TẢNG 2. Quan điểm dựa trên nguồn lực Dựa trên những lý luận đầu tiên của Penrose (1959), Quan điểm dựa trên nguồn lực tiếp tục được phát triển bởi Wernerfelt (1984) và sau đó là Barney (1991). Theo Wernerflet (1984), nguồn lực bên trong DN chính là yếu tố giúp DN tăng cường hiệu suất hoạt động và nâng cao sức cạnh tranh.
Ngoài ra, Barney (1991) cho rằng để giữ vững lợi thế cạnh tranh, nguồn lực DN cần có bốn đặc điểm như sau: phải có giá 8 trị, có tính chất khan hiếm, khó bị bắt chước và không thể thay thế. Nguồn lực có giá trị giúp DN có lợi thế hơn trong lĩnh vực kinh doanh so với các đối thủ. Nguồn lực có tính khan hiếm giúp cho giá trị DN nâng cao khi sở hữu nguồn lực khan hiếm và có ít đối thủ cạnh tranh sở hữu. Nguồn lực khó bắt chước hàm ý rằng các DN khác khó bắt chước nguồn lực mà DN đang sở hữu.
Nguồn lực khó thay thế nghĩa là nguồn lực của DN khó bị thay thế bởi nguồn lực DN khác. Nhìn chung, quan điểm dựa trên nguồn lực xem nguồn lực của DN là yếu tố then chốt để tăng KNSL và các nguồn lực đều có thể trở thành lợi thế cạnh tranh. Tóm lại, quan điểm dựa trên nguồn lực giúp KNSL tăng lên thông qua việc DN tập trung, quản lý và tận dụng tốt các nguồn lực mà DN đang sở hữu. Lý thuyết trật tự phân hạng Lý thuyết trật tự phân hạng được phát triển và hoàn thiện bởi Myers và Majluf (1984).
Lý thuyết trật tự phân hạng cho rằng các DN thường ưu tiên các nguồn vốn bên trong hơn các khoản vay vì sẽ không phát sinh thêm chi phí. Lý thuyết này nói đến việc các DN thường tuân thủ một hệ thống phân cấp các nguồn vốn và ưu tiên nguồn vốn nội bộ có sẵn, và nợ chỉ được ưu tiên hơn vốn chủ sở hữu nếu DN thực sự cần nguồn tài trợ từ bên ngoài. Theo lý thuyết này, những DN có KNSL cao hay ưu tiên việc dùng lợi nhuận giữ lại để phục vụ cho nhu cầu đầu tư thay vì phải tìm kiếm nguồn tài chính từ bên ngoài. Tóm lại, lý thuyết này cho rằng DN có thể tăng tiềm năng sinh lời bằng cách tối ưu hóa cấu trúc vốn và giảm thiểu phí tài chính.
Lý thuyết đánh đổi Lý thuyết đánh đổi được phát triển bởi Modigliani và Miller (1963). Lý thuyết này giải thích việc DN sử dụng vốn và nợ như thế nào để có thể cân đối giữa lợi ích nhận được và chi phí bỏ ra. Lý thuyết này giải thích rằng khi DN sử dụng nợ vay sẽ được hưởng lợi ích từ tấm lá chắn thuế, góp phần tăng thêm KNSL. Vì vậy, điều này thúc đẩy các DN sử dụng nợ vay nhiều hơn và hướng tới tỷ lệ nợ tối ưu.
Tuy nhiên, nếu DN vay nợ quá nhiều sẽ phát sinh các loại chi phí khác kéo theo nhiều nguy cơ ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh và làm giảm KNSL. Tóm lại, lý thuyết đánh đổi giúp DN hiểu và điều tiết mối quan hệ của vốn và nợ. Lợi thế kinh tế theo quy mô Lợi thế kinh tế theo quy mô là một khái niệm quen thuộc trong lĩnh vực kinh tế học được nghiên cứu lần đầu bởi Adam Smith. Lợi thế kinh tế theo quy mô ngụ ý rằng các DN lớn sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí và có ưu thế hơn khi cạnh tranh với các DN nhỏ.
Theo Khemani và Shapiro (1993), lợi thế này đề cập đến việc khi quy mô tăng lên thì chi phí trung bình trên một đơn vị hàng hóa hoặc dịch vụ sẽ giảm xuống. Khi DN có quy mô càng lớn thì chi phí sản xuất sẽ giảm xuống và DN sẽ bán được sản phẩm có giá rẻ hơn sản phẩm của các DN khác. Ngoài ra, DN lớn ít bị tổn thương bởi các mối đe dọa bên ngoài. Nếu DN quản lý và tận dụng tốt lợi thế này, KNSL sẽ được nâng lên.
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA DOANH NGHIỆP NGÀNH ĐIỆN KNSL của DN chịu ảnh hưởng bởi hai nhóm yếu tố chính, đó là yếu tố cụ thể và yếu tố bên ngoài DN. Nhóm yếu tố bên ngoài, nằm ngoài tầm kiểm soát của DN. Trong khi đối với nhóm yếu tố cụ thể lại nằm dưới sự kiểm soát của DN. Những thay đổi xảy ra đối với các yếu tố bên ngoài DN sẽ gây tác động tích cực hoặc tiêu cực đến KNSL.
Tương tự, nếu có bất kỳ thay đổi nào xảy ra đối với nhóm yếu tố cụ thể, KNSL cũng sẽ chịu những sự tác động tương tự như khi chịu ảnh hưởng từ nhóm yếu bên ngoài DN. Quy mô doanh nghiệp Quy mô doanh nghiệp là một chỉ tiêu được dùng rộng rãi trong các phân tích về KNSL. Theo Kartikasari và Merianti (2016), quy mô DN có thể được đo lường bằng tổng doanh thu, tổng tài sản, số lượng nhân viên và vốn hóa thị trường. Dựa vào lợi thế kinh tế theo quy mô, DN có quy mô càng lớn, khả năng đa dạng hóa sản phẩm và hoạt động sản xuất của DN càng cao.
Tuy nhiên, khi DN càng lớn thì việc quản lý cũng như kiểm soát sẽ trở nên khó khăn hơn, và điều này cũng sẽ ảnh hưởng đến KNSL của DN. Đòn bẩy tài chính Theo Prasetyo và cộng sự (2021), đòn bẩy tài chính tương ứng với việc DN nhận được bao nhiêu tài trợ từ nợ. Mặc dù, đòn bẩy tài chính có khả năng nâng cao KNSL nhưng cũng khiến DN đối mặt với nhiều mối đe dọa tiềm ẩn. Tận dụng đòn bẩy tài chính đúng cách sẽ tăng nguồn vốn của DN.
Nhưng nếu DN dựa vào đòn bẩy tài chính quá mức, DN có thể đối diện với khả năng không trả được nợ. Tính thanh khoản Tính thanh khoản thể hiện năng lực tài chính của DN thông qua việc hoàn tất các trách nhiệm thanh toán. Có hai chiều ý kiến trái ngược nhau khi nói đến tính thanh khoản và KNSL. Khi tính thanh khoản cao thể hiện DN có tài chính ổn định và có khả năng thanh toán tốt.
Nhưng cứ giữ tính thanh khoản cao sẽ khiến chi phí của DN tăng lên, điều này ảnh hưởng đến KNSL. Mặt khác, khi tính thanh khoản thấp, DN không có khả năng đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán, dẫn đến nguy cơ vỡ nợ cao và điều này ảnh hưởng tiêu cực đến KNSL. Nói tóm lại, trong ngắn hạn việc duy trì tính thanh khoản có thể ảnh hưởng tiêu cực đến KNSL. Tuy nhiên, theo Nanda và Panda (2018), nếu tăng thanh khoản có thể làm gia tăng KNSL trong trung và dài hạn.
Tăng trưởng doanh nghiệp Tăng trưởng DN là phần không thể thiếu để DN tiếp tục tồn tại trong môi trường cạnh tranh. Theo Sari và Patrisia (2020) tăng trưởng DN là sự thay đổi (tăng hoặc giảm) trong TTS mà DN sở hữu. Tăng trưởng doanh nghiệp được thể hiện bằng sự tăng trưởng của TTS.