Chương 1 trình bày tổng quát về “Các yếu tố tác động đến chất lượng nguồn nhân lực trong các khu công nghiệp – trường hợp khảo sát trên địa bàn tỉnh Đồng Nai”; tính cấp thiết của đề tài, tiếp đến lược khảo các công trình nghiên cứu để làm rõ những vấn đề liên quan, xác định khoảng trống, từ đó xác định mục tiêu, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu.1 Sự cấp thiết của đề tài Nguồn nhân lực là một trong những nguồn lực, nguồn tài nguyên giữ vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển bền vững của bất kỳ một tổ chức hay một quốc gia. Nguồn lực tài chính mạnh, hay hệ thống phương tiện, kỹ thuật hiện đại đến đâu cũng là vô nghĩa nếu không có nguồn nhân lực có kỹ năng, có chuyên môn cao. Vai trò quan trọng của nguồn nhân lực đã được minh chứng và khẳng định qua nhiều công trình nghiên cứu ở nhiều nước và được chứng thực qua hoạt động kinh tế - xã hội của xã hội loài người qua các giai đoạn lịch sử. (2020) đã cho thấy nguồn nhân lực trở thành yếu tố quan trọng quyết định đến sự tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo.
Bối cảnh thực tiễn, Đồng Nai là tỉnh công nghiệp với 31 khu công nghiệp đang hoạt động, nhiều nhất trong cả nước. Đến tháng 11/2021, các khu công nghiệp (KCN) của tỉnh Đồng Nai thu hút 2.011 dự án, bao gồm 1.377 dự án có vốn đầu tư nước ngoài (thuộc 43 quốc gia và vùng lãnh thổ) và 634 dự án trong nước; tổng số lao động làm việc tại các doanh nghiệp trong các KCN là 607.502 người (chiếm hơn 30% lao động trong các DN của tỉnh), lao động là người nước ngoài có 7. Hàng năm, tỉnh Đồng Nai đã thu hút một lượng lớn vốn đầu tư trong và ngoài nước vào các KCN, riêng năm 2021 đầu tư (cấp mới, tăng vốn) 1.059,8 triệu USD và 2.837,6 tỷ đồng, thu hút thêm hằng chục nghìn lao động (Ban quản lý các KCN, 2021), đóng góp trên 50% ngân sách của tỉnh và là 1 trong 5 tỉnh có nguồn thu lớn nhất cho ngân sách nhà nước từ các KCN trên cả nước. Các KCN đã cho thấy rõ vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy tiến bộ khoa học, công nghệ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao đời sống của người dân địa phương, khu vực và cả nước.
Tuy nhiên, nguồn nhân lực trong cả nước nói chung còn thể hiện hạn chế, khó 2 khăn trong thu hút, trong việc đào tạo cũng như sử dụng nguồn nhân lực (Lê Lan Hương và c., 2021), thiếu về số lượng và hạn chế về chất lượng (Vũ Thị Mai Oanh, 2011), vấn đề đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực còn khá nhiều bất cập: trình độ qua đào tạo còn thấp và mất cân đối, thiếu chuyên môn, hạn chế kỹ năng hành nghề, mất cân đối giữa các ngành nghề …. cho nên chưa theo kịp quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa của đất nước (Nguyễn Lộc và c., 2010; Nguyễn Giác Trí, 2014). Cụ thể: Lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ từ sơ cấp trở lên của cả nước đến quý II năm 2021 chiếm tỷ lệ là 26,1%, năm 2020 là 23,6% (Tổng cục Thống kê, 2020, 2021); nhiều doanh nghiệp thiếu hụt lao động lại đang gặp khó khăn trong việc tuyển dụng lao động kỹ thuật cao, nhất là nhóm doanh nghiệp FDI xuất khẩu với gần 75% cho rằng đang khó khăn trong tuyển dụng nhân lực (VCCI, 2021), cũng như thực trạng về nguồn nhân lực của các doanh nghiệp trong các KCN ở tỉnh Đồng Nai đang tồn tại những khó khăn, bất cập như chất lượng nguồn nhân lực chưa cao, sự thiếu cân đối giữa các thành phần lao động, nguồn nhân lực thiếu sức cạnh tranh trong khu vực; phân tích từ dữ liệu các báo cáo về tình hình kinh tế - xã hội các KCN tỉnh Đồng Nai 2019 -2021 cho thấy cơ cấu lao động trong các KCN tỷ lện lớn là lao động phổ thông, sơ cấp trên 65%; nhiều doanh nghiệp đang thiếu nhân lực sau dịch Covid-19, tổng số lao động các KCN của tỉnh giảm 28.521 người so với năm 2020 (Ban Quản lý các KCN, 2021). Những điều này, đã tác động tiêu cực đến việc triển khai và thực thi chính sách phát triển các KCN, phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Trong khi quá trình công nghiệp hóa và hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra nhanh chóng, việc hình thành khối cộng đồng Đông Nam Á năm 2015, Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại tự do EU - Việt Nam (EVFTA) lần lượt có hiệu lực ngày 14/1/2019 và ngày 1/8/2020 với những quy định và tiêu chuẩn về lao động trong thương mại, nhất là Việt Nam đang ở “thời kỳ dân số vàng” (Lê Doãn Sơn, 2018; Nguyễn Thị Vân, 2010; Nguyễn Ngọc Vinh, 2012) cùng với nhiều dự án trọng điểm của quốc gia mang tầm quốc tế đã và sẽ được triển khai trên địa bàn tỉnh Đồng Nai như Dự Cảng hàng không Quốc tế Long Thành đang triển khai, Dự án Cảng thủy – nội địa Cái Mép, Dự án Cao tốc Long Thành - Dầu Giây, Dự án Cao tốc Đồng Nai – Bà Rịa Vũng Tàu … cùng với đề án quy hoạch phát triển vệ tinh vành đai kinh tế quanh TP Hồ Chí Minh, trong đó có tỉnh Đồng Nai, đã mở ra nhiều cơ hội nhưng đồng thời cũng đặt ra những thách thức cho tỉnh Đồng Nai trong việc phải 3 sớm có những giải pháp để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng theo các tiêu chuẩn quốc tế. Đặc biệt quy hoạch tổng thể giai đoạn 2021-2030, tỉnh Đồng Nai hiện có 40 KCN, gồm 31 KCN đang hoạt động, 1 KCN chưa hoàn thiện cơ sở hạ tầng, 08 KCN sẽ đi vào hoạt động chậm nhất là năm 2030. Bên cạnh đó sự đẩy mạnh triển khai ứng dụng của khoa học công nghệ 4.0, công nghệ kỹ thuật số, dịch vụ kỹ thuật cao đã đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cũng như bổ sung nguồn nhân lực để đáp ứng nhu cầu của tỉnh cũng như các KCN của tỉnh Đồng Nai và đây được xem là một trong những tiền đề quan trọng tạo động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của Đồng Nai, của khu vực Đông Nam bộ và cả nước nói chung. Bối cảnh lý thuyết, dưới góc độ chuyên sâu, tác giả qua lược khảo hơn 150 tài liệu, công trình khoa học của các tác giả trong và ngoài nước hiện chưa thấy có nghiên cứu chuyên sâu nào xác định và hệ thống các yếu tố tác động đến chất lượng nguồn nhân lực trong các KCN của tỉnh Đồng Nai để làm cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc đề ra các hàm ý giúp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong các KCN của tỉnh Đồng Nai.
Do đó, việc để xác định, phân tích, làm rõ và đo lường mức độ tác động của các yếu tố đến chất lượng nguồn nhân lực trong các KCN của tỉnh Đồng Nai là thật sự cấp thiết, vì vậy tác giả đã lựa chọn đề tài “Các yếu tố tác động đến chất lượng nguồn nhân lực trong các khu công nghiệp– trường hợp khảo sát trên địa bàn tỉnh Đồng Nai” để nghiên cứu.2 Tổng quan nghiên cứu ngoài nước và trong nước 1.1 Tổng quan các nghiên cứu ngoài nước Đến nay, đã có nhiều nghiên cứu liên quan về các yếu tố tác động đến chất lượng nguồn nhân lực (CLNNL) ở những phạm vi, lĩnh vực, quy mô, phương diện khác nhau. Các nghiên cứu kết hợp khảo sát, tổng hợp, thống kê với việc mô hình phân tích kinh tế lượng, tiến hành kiểm định kết hợp phân tích hồi quy hay sử dụng các nguyên lý về toán học, các ngành khoa học để làm các chỉ tiêu đo lường CLNNL và thu thập dữ liệu nhận diện các yếu tố tác động đến CLNNL ở phạm vi khu vực, địa phương trong đó đặc biệt quan tâm đến vai trò của giáo dục đến CLNNL, đến phát triển kinh tế - xã hội như: Khan (2005) cho thấy tác động của các biến chính sách, thể chế, trình độ giáo dục và thể lực của nguồn nhân lực (NNL) đối với tăng trưởng kinh tế của các nước có 4 mức thu nhập trung bình và thấp trong giai đoạn 1980-2002 bằng các mô hình phân tích kinh tế lượng để đánh giá sự tương quan giữa vốn con người và sự tăng trưởng kinh tế của các nước đó. Cụ thể, tốc độ tăng trưởng hàng năm GDP thực tế bình quân đầu người chịu tác động bởi các chỉ số: (1) Tỷ lệ đầu tư/GDP, (2) Thu nhập khởi điểm tại năm 1980, (3) Chất lượng thể chế, (4) Số năm đi học trung bình, (5) Tỷ lệ học Trung học cơ sở, (6) Tỷ lệ biết chữ của người học, và (7) Tuổi thọ. Dựa trên kết quả hồi quy, Khan (2005) đã kết luận: trình độ giáo dục và thể lực (sức khỏe) của nguồn nhân lực tác động đến mức gia tăng thu nhập bình quân đầu người; do đó, Chính phủ cần có chiến lược, tập trung nguồn lực nhiều hơn đến giáo dục đào tạo để nâng cao CLNNL, để thúc đẩy kinh tế tăng trưởng đạt được mức cao và bền vững hơn.
Kết quả này tuy thực hiện trước đây nhưng hiện vẫn như phù hợp ở nhiều quốc gia thu nhập thấp và trung bình trong đó có Việt Nam. Cũng như để có được lợi thế cạnh tranh, Raymond (2013) chỉ ra rằng cần: hoàn thiện giáo dục chính thống tại các trường đại học, đánh giá được thực trạng NNL, các kỹ năng xã hội, cộng tác của NNL, kinh nghiệm làm việc. Cùng quan điểm xác định tầm quan trọng của giáo dục đến NNL (Zhang và Kong, 2010) qua việc phân tích dữ liệu kinh tế vĩ mô từ 1979-2004 của Trung Quốc cho thấy sự bình đẳng trong giáo dục (đo bằng hệ số GINI) có mối tương quan thuận chiều với tăng trưởng kinh tế (đo bằng TFP- Total Factor Productivity); sự bình đẳng trong giáo dục sẽ gia tăng sự tích lũy cũng như tối ưu hoá tư bản nhân lực, nâng cao kết quả của đầu tư vào giáo dục, cải thiện các quan hệ kết nối xã hội, gia tăng hiệu quả của TFP và theo Campbell và Kuncel (2001) đào tạo là cách can thiệp thông dụng nhất đến việc nâng cao CLNNL. Cùng quan điểm đó Pebrida Saputri và c.