chương 1 bao gồm: (1) Bối cảnh nghiên cứu, (2) Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu, (3) Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, (4) Đối tượng và phạm vi nghiên cứu, (5) Phương pháp nghiên cứu; (6) Ý nghĩa nghiên cứu và (7) Kết cấu luận án.1 Bối cảnh nghiên cứu Rau quả là ngành mũi nhọn chiến lược, đóng góp lớn vào xuất khẩu toàn ngành nông nghiệp Việt Nam, với nhiều lợi thế về kinh nghiệm sản xuất, điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu và lao động. Trong những năm vừa qua, kim ngạch xuất khẩu rau quả (XKRQ) giữ mức tăng trưởng cao với tốc độ trung bình ngành ở 24,5% (2011- 2019), là mức tăng trưởng nổi bật nhất khi đối sánh với các ngành nông nghiệp khác. Kim ngạch XKRQ đạt giá trị hơn 3,7 tỷ USD năm 2019 (VITIC, 2020), tăng gấp 65 lần kim ngạch năm 1995. Rau quả là mặt hàng dẫn đầu trong top 5 mặt hàng xuất khẩu nông sản chủ lực, tỷ trọng kim ngạch XKRQ trên tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản liên tục gia tăng từ 4,3% năm 2011 đến 21,2% năm 2019 (Bảng 2, Phụ lục 4).
Đây là thành công ấn tượng sau một thời gian cơ cấu lại ngành nông nghiệp Việt Nam. Mức tăng trưởng xuất khẩu của rau quả Việt Nam là điểm sáng nổi bật vượt trội các ngành hàng nông nghiệp khác đã tới hạn hoặc có dấu hiệu chững lại. Ngoài ra, thị trường xuất khẩu (TTXK) rau quả Việt Nam được mở rộng và phát triển mạnh. Đến nay, các mặt hàng rau quả Việt Nam đã có mặt tại hơn 60 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới (VCCI, 2019), từ 13 thị trường đạt kim ngạch trên 1 triệu USD năm 2014, đến năm 2019 đã có 16 thị trường trên 20 triệu USD, 4 thị trường đạt từ 10 đến 20 triệu USD và 38 thị trường đạt từ 1 đến 10 triệu USD (Tính toán theo số liệu VITIC, 2020).
Trong những năm qua, Trung Quốc liên tục là thị trường tiêu thụ nhiều nhất rau quả Việt Nam, chiếm tới 64,8% trong tổng kim ngạch XKRQ của cả nước, đạt 2,43 tỷ USD năm 2019 (VITIC, 2020), xếp sau đó là các thị trường chủ lực đạt kim ngạch trên 100 triệu USD như Đông Nam Á, Mỹ, EU, Hàn Quốc và Nhật Bản. Ưu điểm lớn của các doanh nghiệp XKRQ Việt Nam là: (1) Nhiều 2 loại rau quả đã chinh phục thị trường yêu cầu tiêu chuẩn kỹ thuật chất lượng cao như Mỹ, EU, Nhật Bản và Hàn Quốc; (2) Vấn đề quản lý và nâng cao chất lượng trong sản xuất và XKRQ đã được doanh nghiệp Việt Nam ý thức và thực hiện trong thời gian qua, một số doanh nghiệp chế biến XKRQ đã đáp ứng đủ các điều kiện tiêu chuẩn xuất khẩu; (3) Các sản phẩm rau quả đa dạng đã được đầu tư về mẫu mã và chủng loại phong phú phù hợp với từng đặc điểm TTXK (VCCI, 2019). Tuy nhiên, XKRQ của doanh nghiệp Việt Nam vẫn bộc lộ một số hạn chế: (1) Chưa đáp ứng tiêu chuẩn ATVSTP và truy xuất nguồn gốc, không đủ điều kiện vượt qua các rào cản kỹ thuật; (2) Công nghệ bảo quản sau thu hoạch rau quả tươi còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu vận chuyển xa; (3) Hiện còn nhiều cơ sở nhỏ lẻ, với công nghệ không phù hợp với điều kiện và tiêu chuẩn xuất khẩu nên khó kiểm soát chất lượng ATVSTP (VCCI, 2019). Mô hình sản xuất ngành rau quả còn đơn lẻ, quy hoạch và triển khai diện tích trồng trọt chuyên canh với mức độ tập trung thấp, vì thế còn nhiều khó khăn khi triển khai đồng bộ quy trình canh tác và kiểm soát chất lượng sản phẩm, dẫn đến việc không đáp ứng các quy định về ATVSTP và truy xuất nguồn gốc.
Đây là những hạn chế tác động đáng kể đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp XKRQ Việt Nam giai đoạn sắp tới (VinaFruit, 2019). Bên cạnh đó, doanh nghiệp XKRQ Việt Nam còn gặp một số khó khăn và thách thức. Xuất khẩu phụ thuộc nhiều vào Trung Quốc trong bối cảnh thị trường này từ năm 2019 đã có nhiều thay đổi: (1) Trung Quốc đã hoàn thiện và thực thi quy định về quản lý nông thuỷ sản nhập khẩu với hàng loạt các luật ban hành và yêu cầu siết chặt như sửa luật VSATTP 2018, ban hành thủ tục đăng ký doanh nghiệp chế biến nông sản, yêu cầu truy xuất nguồn gốc, đăng ký doanh nghiệp xuất khẩu, vùng trồng, yêu cầu về bao bì, nhãn mác; (2) Trung Quốc đã siết chặt thực thi pháp luật khi chỉ cho phép nhập khẩu chính ngạch; không cho thông quan nông sản chưa được mở cửa thị trường; rau quả chỉ được nhập khẩu qua một số cửa khẩu nhất định; (3) Trung Quốc đang dần trở thành thị trường khó tính khi thu nhập người dân gia tăng dẫn đến nhu cầu sử dụng rau quả chất lượng an toàn mẫu mã đẹp (VinaFruit, 2019). Các quốc gia lớn khác như Mỹ, EU, Nhật Bản và Hàn Quốc kim ngạch XKRQ của Việt Nam 3 còn hạn chế, chỉ có thể xuất một số mặt hàng nhất định (VCCI, 2019).
Tại Mỹ và EU, Việt Nam nhận được thông báo vi phạm điều kiện ATVSTP như rau quả bị nhiễm sâu, không đủ điều kiện về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. Thêm nữa, Nhật Bản và Hàn Quốc có quy tắc kiểm soát ATVSTP và quy trình đánh giá rủi ro khá phức tạp (Đại đoàn kết, 2019). Các sản phẩm XKRQ không đáp ứng tiêu chuẩn có thể bị áp dụng các biện pháp hạn chế xuất khẩu, từ đó ảnh hưởng đến kết quả hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp đến những khu vực thị trường này. Ngành XKRQ có nhiều cơ hội và chuyển biến tích cực mở rộng tăng trưởng trong thời gian tới.
Thứ nhất, thương mại rau quả thế giới chi phối bởi xu hướng tiêu dùng trái cây nhập khẩu, lạ, đặc sản gia tăng, phù hợp với đặc điểm sản phẩm rau quả Việt Nam thuộc loại nhiệt đới với tính đặc trưng hương vị. Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hiệp quốc, nhập khẩu rau quả có tỷ trọng lớn nhất trong nhóm thực phẩm toàn cầu, chiếm 59% và có tốc độ tăng trưởng 7% (2016-2021); thị trường thế giới vẫn còn nhiều cơ hội để mở rộng trong khi XKRQ Việt Nam chiếm khoảng 1,4% (2018) kim ngạch nhập khẩu toàn cầu, chưa phát huy được các lợi thế (VinaFruit, 2019). Thứ hai, hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU có hiệu lực, EU là thị trường lớn với sức mua chiếm ½ giá trị thương mại rau quả toàn cầu; đưa đến cơ hội lớn cho các doanh nghiệp XKRQ vào thị trường này, do bởi sẽ được hưởng lợi về thuế và bảo hộ chỉ dẫn địa lý. Thứ ba, XKRQ Việt Nam đến Châu Á tiếp tục gia tăng do các điều kiện thuận lợi về vị trí địa lý và ưu đãi thuế quan khi thực thi các FTA, đó là cánh cửa cơ hội cho XKRQ Việt Nam khi tỷ trọng tại thị trường này hiện chiếm tỷ lệ thấp trong khi sức tiêu thụ và quy mô vẫn tiếp tục tăng trưởng.
Vì vậy, đây là các cơ hội đầy tiềm năng để ngành rau quả Việt Nam tiếp tục tăng trưởng. Cơ hội lớn đã đến nhưng doanh nghiệp rau quả chưa khai thác triệt để, điểm yếu của các doanh nghiệp xuất khẩu rau quả Việt Nam chính là năng lực công nghệ, ứng dụng công nghệ vào các khâu tạo ra sản phẩm còn chưa được đầu tư cải thiện và triển khai đồng bộ (VinaFruit, 2019). Hơn nữa, mặc dù các FTA đã ký kết và thực thi dỡ bỏ hàng rào thuế quan, một số quốc gia đã cho phép nhập khẩu rau quả Việt Nam nhưng rau quả Việt Nam vẫn chưa thâm nhập vào được, bởi lẻ doanh nghiệp đang 4 gặp phải vấn đề mà FTA hầu như không thể can thiệp hay làm thay đổi, đó chính là các yêu cầu về rào cản kỹ thuật thương mại (TBT) (ví dụ các tiêu chuẩn VSATTP, các quy định về dán nhãn, ghi nhãn hàng hóa) (VCCI, 2019). Đây là thách thức rất lớn ngăn cản sự mở rộng thị trường xuất khẩu rau quả của doanh nghiệp Việt Nam.
Để có được sức cạnh tranh quốc tế, các doanh nghiệp XKRQ Việt Nam phải sử dụng nguồn lực, năng lực một cách hiệu quả, đồng thời kết hợp với chiến lược marketing xuất khẩu thích nghi phù hợp, để nắm bắt cơ hội và vượt qua khó khăn. Mức độ thành công của doanh nghiệp xuất khẩu được đo lường bởi kết quả xuất khẩu. Vì vậy, quan tâm đến kết quả xuất khẩu là ưu tiên hàng đầu của doanh nghiệp XKRQ Việt Nam khi tham gia thương mại toàn cầu. Tuy nhiên, trong khi XKRQ tăng trưởng mạnh và có nhiều đóng góp cho nền kinh tế trong thời gian qua, các yếu tố quyết định kết quả xuất khẩu lại rất ít được nghiên cứu.
Do đó, xuất phát từ thực tiễn cần phải xây dựng và kiểm tra kết quả xuất khẩu của các doanh nghiệp XKRQ Việt Nam chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố nào. Những phát hiện nghiên cứu sẽ góp phần cung cấp cái nhìn sâu sắc hữu ích cho các doanh nghiệp XKRQ về các vấn đề phải đối mặt với sự không chắc chắn từ môi trường bên ngoài và năng lực, nguồn lực tổ chức nào sẽ phát triển để tối ưu hóa kết quả xuất khẩu.2 Nhận dạng vấn đề nghiên cứu Trong quá trình quốc tế hóa, doanh nghiệp có thể đạt được lợi thế cạnh tranh (LTCT) tại các TTXK (Navarro và cộng sự, 2014), vì thế xuất khẩu trở thành chìa khóa đánh giá sự thành công. Xuất khẩu đem đến nhiều giá trị cho doanh nghiệp, tạo cơ hội trở nên ít phụ thuộc hơn vào nội địa. Hoạt động xuất khẩu hiệu quả hỗ trợ doanh nghiệp gia tăng mức độ hội nhập khu vực và thế giới cũng như tự do hóa thương mại (Sousa và cộng sự, 2008).
Xuất khẩu cung cấp cho doanh nghiệp cơ hội tăng trưởng vì sự gia tăng xuất khẩu giúp mở rộng thị trường, khi cạnh tranh thị trường trong nước (TTTN) trì trệ (Katsikeas và cộng sự, 2006). Doanh nghiệp cũng có thể sử dụng kinh nghiệm quốc tế để cải thiện năng lực cạnh tranh tại TTTN, bởi các năng lực quản lý tiếp nhận được từ TTXK (Griffith & Hoppner, 2013). Tóm lại, xuất khẩu chiếm vai trò quan trọng trong doanh nghiệp, là một phương tiện để giảm 5 chi phí sản xuất, tiếp cận thị trường mới và tích lũy kinh nghiệm; thu nhập từ xuất khẩu hỗ trợ doanh nghiệp tăng doanh số và năng suất để cải thiện lợi nhuận. Kết quả xuất khẩu được định nghĩa là “Kết quả của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tại TTXK, là sự thành công của xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ sang các quốc gia khác” (Shoham, 1996).