Luận văn thạc sĩ ueh các nhân tố quản trị công ty tác động đến mức độ công bố thông tin tự nguyện trên báo cáo thương niên trường hợp các công ty niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán tphcm

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ueh các nhân tố quản trị công ty tác động đến mức độ công bố thông tin tự nguyện trên báo cáo, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp

Chuyên ngành

Kế Toán

Tác giả

Ngô Văn Thống

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2016

108
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Các nghiên cứu trên thế giới

1.2. Các nghiên cứu trong nước

1.3. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1. Một số vấn đề chung về CBTT tự nguyện

2.2. Khái niệm về CBTT tự nguyện

2.3. Yêu cầu về công bố thông tin trên BCTN

2.4. Đo lường mức độ CBTT

2.5. Phương pháp phân tích nội dung

2.6. Phương pháp chỉ số CBTT

2.7. Quản trị công ty

2.7.1. Khái niệm về quản trị công ty

2.7.2. Nguyên tắc quản trị công ty của OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế)

2.8. Các nhân tố QTCT tác động đến mức độ CBTT tự nguyện trên BCTN

2.8.1. Quyền sở hữu

2.8.2. Tỷ lệ thành viên độc lập trong HĐQT

2.8.3. Tần suất các cuộc họp HĐQT

2.8.4. Chất lượng kiểm toán

2.8.5. Sự tách biệt giữa vị trí Tổng giám đốc và chủ tịch HĐQT

2.8.6. Quy mô, lợi nhuận và đòn bẩy tài chính

2.9. Một số lý thuyết nền liên quan đến CBTT

2.9.1. Lý thuyết đại diện

2.9.2. Lý thuyết các bên liên quan

2.10. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Quy trình nghiên cứu

3.2. Mô hình và giả thuyết nghiên cứu

3.2.1. Mô hình nghiên cứu

3.2.2. Giả thuyết nghiên cứu trong mô hình

3.2.2.1. Quyền sở hữu (MOwn)
3.2.2.2. Tỷ lệ thành viên độc lập trong HĐQT (BIndp)
3.2.2.3. Tần suất các cuộc họp HĐQT (BMeet)
3.2.2.4. Chất lượng kiểm toán (Big-4)
3.2.2.5. Sự tách biệt giữa vị trí Tổng giám đốc và Chủ tịch HĐQT (ChairMan)
3.2.2.6. Quy mô, lợi nhuận và đòn bẩy tài chính (Size, Profit và Dept)

3.3. Xác định phương pháp đo lường và tính toán các nhân tố trong mô hình

3.3.1. Đo lường mức độ CBTT tự nguyện

3.3.2. Thang đo mức độ CBTT tự nguyện trên BCTN của CTNY

3.3.3. Tính chỉ số CBTT tự nguyện

3.3.4. Đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT tự nguyện trên BCTN của các CTNY

3.4. Thiết kế chương trình nghiên cứu

3.5. Phương pháp nghiên cứu

3.5.1. Thống kê mô tả

3.5.2. Phân tích tương quan

3.5.3. Phân tích hồi quy bội

3.6. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

4.1. Giới thiệu tình hình QTCT và mức độ CBTT tự nguyện trên BCTN của các CTNY trên sàn HOSE

4.1.1. Giới thiệu sơ lược tình hình hoạt động của các CTNY trên Sàn HOSE

4.1.1.1. Theo quy mô vốn
4.1.1.2. Theo ngành nghề

4.1.2. Đánh giá tình hình QTCT và CBTT tự nguyện trên BCTN của các CTNY trên sàn HOSE

4.2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.2.1. Kết quả thống kê mô tả

4.2.2. Đánh giá mức độ CBTT tự nguyện trên BCTN của các CTNY

4.2.3. Phân tích các nhân tố QTCT ảnh hưởng đến mức độ CBTT tự nguyện trên BCTN của các CTNY

4.2.4. Kết quả phân tích hồi quy bội

4.2.5. Kiểm định ma trận hệ số tương quan

4.2.6. Kết quả hồi quy với mô hình Pooled OLS

4.2.7. Kết quả hồi quy với mô hình FEM (Fixed Effects Model)

4.2.8. Kết quả hồi quy với mô hình REM (Random Effects Model)

4.2.9. Kết quả hồi quy với mô hình REM khi loại bỏ biến thừa

4.3. MỘT SỐ BÀN LUẬN TỪ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 4

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

5.1. Đối với các CTNY

5.2. Hoàn thiện hệ thống QTCT. Tăng cường mức độ CBTT tự nguyện trên BCTN

5.3. Đối với nhà đầu tư

5.4. Đối với cơ quan quản lý Nhà nước

5.5. Hoàn thiện các quy định về CBTT và nội dung trình bày trên BCTN

5.6. Thiết kế tiêu chí đánh giá báo cáo thường niên

5.7. HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO

5.7.1. Hạn chế của nghiên cứu

5.7.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về các yếu tố quản trị công ty và công bố thông tin tự nguyện

Quản trị công ty (QTCT) là một yếu tố quan trọng trong việc xác định mức độ công bố thông tin tự nguyện trên báo cáo thường niên (BCTN). Các công ty niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán TP.Hồ Chí Minh (HOSE) đang ngày càng chú trọng đến việc công bố thông tin để thu hút nhà đầu tư. Việc công bố thông tin tự nguyện không chỉ giúp tăng cường tính minh bạch mà còn tạo dựng niềm tin từ phía các cổ đông và nhà đầu tư. Nghiên cứu này sẽ phân tích các yếu tố quản trị công ty ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện, từ đó đưa ra những khuyến nghị nhằm cải thiện chất lượng thông tin công bố.

1.1. Khái niệm về công bố thông tin tự nguyện

Công bố thông tin tự nguyện là hành động mà các công ty thực hiện để cung cấp thông tin không bắt buộc cho các bên liên quan. Thông tin này thường liên quan đến hoạt động kinh doanh, chiến lược phát triển và các yếu tố tài chính. Việc công bố thông tin tự nguyện giúp các công ty thể hiện sự minh bạch và trách nhiệm với các cổ đông.

1.2. Tầm quan trọng của công bố thông tin tự nguyện

Công bố thông tin tự nguyện đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng lòng tin của nhà đầu tư. Nó không chỉ giúp các công ty nâng cao uy tín mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động vốn. Các nhà đầu tư thường đánh giá cao những công ty có mức độ công bố thông tin cao, vì điều này cho thấy sự minh bạch và cam kết của công ty đối với các cổ đông.

II. Các thách thức trong công bố thông tin tự nguyện trên báo cáo thường niên

Mặc dù công bố thông tin tự nguyện mang lại nhiều lợi ích, nhưng các công ty vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức. Một trong những thách thức lớn nhất là việc xác định thông tin nào nên được công bố và cách thức công bố. Nhiều công ty vẫn còn e ngại về việc công khai thông tin nhạy cảm có thể ảnh hưởng đến lợi thế cạnh tranh. Hơn nữa, việc thiếu quy định rõ ràng về công bố thông tin tự nguyện cũng khiến các công ty gặp khó khăn trong việc thực hiện.

2.1. Khó khăn trong việc xác định thông tin cần công bố

Nhiều công ty gặp khó khăn trong việc xác định thông tin nào là cần thiết để công bố. Việc này thường phụ thuộc vào nhiều yếu tố như ngành nghề, quy mô công ty và nhu cầu của nhà đầu tư. Do đó, các công ty cần có một chiến lược rõ ràng để xác định thông tin cần công bố.

2.2. Rủi ro từ việc công bố thông tin nhạy cảm

Công bố thông tin nhạy cảm có thể dẫn đến rủi ro cho công ty, bao gồm việc mất lợi thế cạnh tranh hoặc bị các đối thủ khai thác thông tin. Do đó, các công ty cần cân nhắc kỹ lưỡng trước khi quyết định công bố thông tin nào.

III. Phương pháp nghiên cứu các yếu tố quản trị công ty ảnh hưởng đến công bố thông tin

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp định lượng để phân tích mối quan hệ giữa các yếu tố quản trị công ty và mức độ công bố thông tin tự nguyện. Dữ liệu được thu thập từ các báo cáo thường niên của các công ty niêm yết tại HOSE trong giai đoạn 2012-2014. Phân tích hồi quy bội sẽ được sử dụng để xác định mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến công bố thông tin tự nguyện.

3.1. Thiết kế nghiên cứu và thu thập dữ liệu

Nghiên cứu sẽ tiến hành thu thập dữ liệu từ các báo cáo thường niên của các công ty niêm yết. Dữ liệu sẽ được phân tích để xác định các yếu tố quản trị công ty như quyền sở hữu, tỷ lệ thành viên độc lập trong HĐQT và chất lượng kiểm toán.

3.2. Phân tích hồi quy bội để đánh giá ảnh hưởng

Phân tích hồi quy bội sẽ được sử dụng để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố quản trị công ty đến mức độ công bố thông tin tự nguyện. Kết quả phân tích sẽ giúp xác định các yếu tố nào có tác động mạnh nhất đến việc công bố thông tin.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các yếu tố quản trị công ty như quyền sở hữu, tỷ lệ thành viên độc lập trong HĐQT và chất lượng kiểm toán có ảnh hưởng tích cực đến mức độ công bố thông tin tự nguyện. Các công ty có tỷ lệ thành viên độc lập cao trong HĐQT thường có mức độ công bố thông tin cao hơn. Điều này cho thấy rằng sự minh bạch trong quản trị công ty có thể thúc đẩy việc công bố thông tin tự nguyện.

4.1. Phân tích kết quả công bố thông tin tự nguyện

Kết quả phân tích cho thấy rằng các công ty có sự tách biệt giữa Tổng giám đốc và Chủ tịch HĐQT có xu hướng công bố thông tin tự nguyện nhiều hơn. Điều này cho thấy rằng sự độc lập trong quản trị có thể thúc đẩy tính minh bạch.

4.2. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn

Các công ty có thể áp dụng các kết quả nghiên cứu này để cải thiện mức độ công bố thông tin tự nguyện. Việc tăng cường sự độc lập trong HĐQT và nâng cao chất lượng kiểm toán có thể giúp các công ty nâng cao uy tín và thu hút nhà đầu tư.

V. Kết luận và định hướng tương lai cho công bố thông tin tự nguyện

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng các yếu tố quản trị công ty có ảnh hưởng đáng kể đến mức độ công bố thông tin tự nguyện trên báo cáo thường niên. Để nâng cao chất lượng công bố thông tin, các công ty cần chú trọng đến việc cải thiện các yếu tố quản trị như quyền sở hữu và chất lượng kiểm toán. Tương lai của công bố thông tin tự nguyện sẽ phụ thuộc vào sự phát triển của các quy định và chính sách liên quan đến quản trị công ty.

5.1. Đề xuất cải thiện quản trị công ty

Các công ty cần xem xét lại cơ cấu quản trị của mình để đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm. Việc tăng cường sự tham gia của các thành viên độc lập trong HĐQT có thể giúp cải thiện chất lượng công bố thông tin.

5.2. Tương lai của công bố thông tin tự nguyện

Tương lai của công bố thông tin tự nguyện sẽ phụ thuộc vào sự thay đổi trong nhận thức của các công ty và nhà đầu tư về tầm quan trọng của tính minh bạch. Các công ty cần chủ động trong việc công bố thông tin để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh các nhân tố quản trị công ty tác động đến mức độ công bố thông tin tự nguyện trên báo cáo thương niên trường hợp các công ty niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán tphcm

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 Qua việc giới thiệu lý do, mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu, tác giả đã giúp người đọc có cái nhìn khái quát về vấn đề nghiên cứu.Trong chương này, luận văn đã giới thiệu tổng quan về các nghiên cứu có liên quan đến mức độ CBTT, nghiên cứu về QTCT cũng như các nghiên cứu kết hợp QTCT và mức độ CBTT.Đồng thời, luận văn khái quát hóa các nghiên cứu đã thực hiện trên thế giới và Việt Nam về QTCT và CBTT. Luận văn đã kế thừa những kếtquả nghiên cứu trước, cân nhắc xem xét vận dụng trong điều kiện của Việt Nam để hiệu chỉnh,kế thừa mô hình và cách thức nghiên cứu phù hợp.Thông qua các nghiên cứu đã thực hiện trong nước, luận văn rút ra kinh nghiệm cũngnhư kế thừa các kết quả nghiên cứu đó, khắc phục những tồn tại của các nghiên cứu đãthực hiện trong nước để kết quả nghiên cứu mang tính khác biệt hơn. Từ đó, luận văn đưara kết quả nghiên cứu có nhiều phát hiện mới với những minh chứng và cơ sở lập luận cótính thuyết phục cao hơn trong các phần tiếp theo. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương này, tác giả hệ thống hóa lý thuyết về CBTT tự nguyện và QTCT từnhững nghiên cứu trước đây trên thế giới và Việt Nam.

Nội dung này bao gồm việchệ thống hóa nền tảng lý thuyết CBTT tự nguyện và sự tác động của các nhân tố QTCT đến mức độ CBTT tự nguyện. Điều này giúp người đọc tiếp cận lý thuyết về CBTT tự nguyện và QTCT một cách có hệthống và dễ dàng hơn. Một số vấn đề chung về CBTT tự nguyện 2. Khái niệm về CBTT tự nguyện Ở Việt Nam, theo quan điểm của Bộ Tài chính được quy định trong “Sổ tay CBTT dành cho các CTNY”, CBTT được hiểu là phương thức để thực hiện quy trình minh bạch của DNnhằm đảm bảo các cổ đông và công chúng đầu tư có thể tiếp cận thông tin một cách công bằng và đồng thời.

CBTT kế toán là rất quan trọng đối với tất cả các bên liên quan; nó cung cấp cho họ các thông tin cần thiết để giảm sự không chắc chắn và giúp họ đưa ra quyết định kinh tế và tài chính phù hợp.Các báo cáo tài chính hàng năm được công bố bởi các công ty được coi là một trong những nguồn quan trọng nhất của thông tin cho bên ngoài (Betosan 1997). Báo cáo hàng năm được sử dụng như một công cụ truyền đạt để giao tiếp các thông tin của DN cả về số lượng và chất lượng với các bên liên quan hoặc với các bên liên quan khác (Barko, Hancock & Izan, 2006). Theo Francesca Citro (2013),CBTT bao gồm hai loại là CBTT bắt buộc và CBTT tự nguyện. CBTTbắt buộc (Madatory disclosure) là nhữngCBTT kế toán theo yêu cầu bởi luật pháp và những quy định của một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ.

Những công bố này phải được trình bày theo những quy định của Luật Kinh doanh,Ủy ban chứng khoán, các cơ quan quản lý về kế toán và các chuẩn mực kế toán. CBTT tự nguyện (Voluntary disclosure) được hiểu là các thông tin tài chính và phi tài chính được đề cập trên BCTN mà không bắt buộc phải công bố, luật pháp không yêu cầu. Việc CBTT tự nguyện bên cạnh các thông tin bắt buộc đã vàđang nhận được một LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 lượng ngày càng tăng của sự chú ý trong các nghiên cứu kế toán gần đây. Thông tin tự nguyện là các thông tin được công bố bên cạnh những thông tintài chính và phi tài chinh bắt buộc để nâng cao niềm tin và nhận thức của nhà đầu tư về tương lai của DN.

Thông tin tự nguyện giúp cho các nhà đầu tư quyết đoán hơn trong các quyết định của mình. Các thông tin tự nguyện được tiết lộ trong báo cáo hàng năm là một nguồn thông tintuyệt vời thu hút đối với các nhà nghiên cứu và các bên liên quan (Tufail et al. Một BCTN kết hợp cả thông tin bắt buộc và tự nguyện thì chúng liên tục tương tác với nhau. CBTT bắt buộc là nghĩa vụ của một công ty để CBTT trong báo cáo của công ty, trong khi đó tiết lộ tự nguyện là một điều khoản bổ sung thông tin khi CBTT bắt buộc không thể cung cấp một bức tranh trung thực về giá trị của công tyvà hoạt động quản lý.

Khi yêu cầu CBTT bắt buộc có những hạn chế hoặc quy định mơ hồ và khó khăn để giải thích, các công ty có thể bổsung bằng các thông tin tự nguyện. Việc lựa chọn thông tin để công bố tự nguyện là sự lựa chọn tự do của các công ty, nó phụ thuộc vào đặc điểm văn hóa, yếu tố kinh tế, xà hội, và tùy thuộc vào mỗi công ty. Tuy nhiên, không vì thế mà các thông tin tự nguyện trở thành bất kỳ thông tin nào, đa số các thông tin tự nguyện công bố là các thông tin hướng về mục đích cho người sử dụng hiểu rõ hơn về công ty, về khả năng sinh lời trong tương lai, các rủi ro và cơ hội của công ty, từ đó thu hút sự quan tâm đầu tư (Adina and lon, 2008). Công bố tự nguyện liên quan việc trình bày các thông tin vượt quá yêu cầu, bao gồm thông tin kế toán và các thông tin khác mà nhà quản lý cho là có liên quan đến nhu cầu của các bên liên quan.

Việc công bố như vậy nhằm mục đích giảm sự bất cân xứng thông tin giữa các nhà quản lý và các nhà đầu tư, và cung cấp thông tin nhằm giải thích cho nhu cầu thông tin của các bên liên quan khác nhau (Meek et al, 1995). Theo quan điểm của tác giả luận văn, CBTT tự nguyện đó là việc ngoài các thông tin cưỡng chế bắt buộc phải công bố theo quy định, thì người quản lý phải chủ động trong việc công bố rộng rãi các thông tin liên quan đến tình hình tài chính, các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 thông tin chiến lược cũng như các thông tin phi tài chính và thông tin quản trị của DN. Vì vậy, trong nghiên cứu này, tác giả chỉ nghiên cứu về các thông tin tự nguyênđược công bố trên BCTN để có một cái nhìn toàn diện, bao quát hơn về mức độ CBTTtrên TTCKtheo quy định hiện hành. Yêu cầu về công bố thông tin trên BCTN ViệcCBTT phải được thực hiện trên các ấn phẩm, trang thông tin điện tử của công ty đại chúng, phương tiện CBTT của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Sở giao dịch Chứng khoán được lưu trữ bằng văn bản và dữ liệu điện tử ít nhất mười năm tiếp theo tại trụ sở chính của công ty để nhà đầu tư tham khảo.

Trong đó, BCTN được coi là nguồn thông tin quan trọng nhất cho các đối tượng sử dụng khác nhau (như các nhà quản lý,cổ đông, nhà đầu tư, cơ quan chính phủ,nhà nghiên cứu. Báo cáo này cung cấp các thông tin định tính và định lượng, tài chính và phi tài chính, hiện tại và tương lai về các đơn vị kinh tế. Có nhiều lý do để lựa chọn BCTN như là một phương tiện thích hợp để nghiên cứu về CBTT. Thứ nhất,BCTN là tài liệu hàm chứa tình hình và kết quả hoạt động toàn diện về một công ty.

Thứ hai, các bên liên quan có thể truy cập thông tin trên BCTN một cách dễ dàng và vào bất cứ lúc nào, được công bốthường xuyên. Thứ ba, các thông tin trên báo cáo này đã được kiểm toán hoặc được đảm bảo ở mức đáng tin cậy. Hiện tại,BCTN được lập theo quy định tại mẫu BCTN ban hành kèm theo thông tư số155/2015/TT-BTC ngày 06/10/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn về việc CBTT trên TTCKcó hiệu lực từ ngày 01/01/2016. Nội dung cơ bản gồm: • Thông tin chung của Công ty; • Tình hình hoạt động trong năm; • Báo cáo và đánh giá của Ban giám đốc; • Đánh giá của HĐQT về hoạt động của Công ty; • Quản trị công ty; • Báo cáo tài chính; LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 • Các thông tin khác.

Các yêu cầu về CBTT được quy định tại thông tư này nhấn mạnh việc CBTT phải đầy đủ, chính xác và kịp thờitheo quy định của pháp luật, hoạt động CBTT phải do giám đốc hoặc người ủy quyền CBTT thực hiện. Giám đốc hoặc Tổng giám đốc phải chịu trách nhiệm về nội dung thông tin do người được ủy quyền. Tính đầy đủ thể hiện ở các quy định cụ thể về thể loại, nội dung và hình thức công bố, cả thông tin công bố thường niên và mang tính bất thường có khả năng ảnh hưởng đến quyết địng của người sử dụng. Tính chính xác tức là các thông tin phải hàm chứa tính trung thực, khách quan., và đáng tin cậy.

Đặc biệt ở đây quy định cụ thể việc công bố phải do người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền công bố thực hiện, chính là nhà quản trịDN. Ngoài ra, trong thị trường chứng khoán, mọi sự chậm trễ đều làm thông tin mất đi hoặc giảm phần tác dụng. Chính vì thế, yêu cầu về tính kịp thời của thông tinkhông thể chỉ mang tính tự nguyện từ các DN. Việc quy địnhchặt chẽ thời gian tối đa để CBTT trong các trường hợp, chẳng hạn trong CBTT định kỳ, công ty đại chúng phải lập BCTN và CBTTvề BCTNchậm nhất là 20 ngày sau ngày công bố báo cáo tài chính năm được kiểm toán nhưng không vượt quá 120 ngày, kể từ ngày kết thúc năm tài chính.

Đo lường mức độ CBTT Đo lường mức độ CBTT đóng một vai trò quan trọng trong các nghiên cứu. Theo nghiên cứu của Francesca Citro (2013) có hai cách tiếp cận chính để phát triển một bảnng chấm điểm mức độ CBTT của các công ty là: phân tích nội dung và chỉ số CBTT. Phương pháp phân tích nội dung Phân tích nội dung là phương pháp sử dụng các kỹ thuật nghiên cứu suy luận từ dữ liệu, nghiên cứu ngôn ngữ để mã hóa chúng và từ đó xếp hạng CBTT. Phân tích nội dung bao gồm hai phạm vi là phân tích từng phần hoặc phân tích toàn diện.

Trong LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 16 đó: phân tích từng phần chỉ tập trung phân tích một vài mục thông tin cụ thể hoặc các từ khóa được lựa chọn, còn phân tích toàn diện xét trên toàn bộ tài liệu. Sau khi lựa chọn được phạm vi phân tích: người nghiên cứu có thể tiến hành phân tích cú pháphoặc phân tích chuyên đề tùy theo mục tiêu và hướng nghiên cứu của từng đề tài.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ