Chương 1. Giới thiệu – Bối cảnh của vấn đề nghiên cứu. Tổng quan cơ sở lý thuyết về Động viên và Sự hài lòng đối với công việc. Phương pháp nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu. Kết luận- kiến nghị LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐỘNG VIÊN VÀ SỰ HÀI LÒNG 2.1 Lý thuyết về động viên 2.1 Khái niệm động viên Trong nghiên cứu “Understanding Motivation” của Mike Baker (2003), đã đề cập đến câu hỏi động viên là gì? Ông đã cung cấp lời giải thích hợp lý về động cơ như sau: Có nguồn cảm hứng để làm bất cứ điều gì. Một cái gì đó, hay bất cứ điều gì. Hoặc mong muốn.
Đó là mong muốn làm một cái gì đó, phải có năng lượng. Đó là năng lượng để làm một điều gì đó. Theo đuổi mục tiêu. Bạn có thể không đạt được nó, nhưng bạn vẫn có động viên.
Hay động viên cho tôi là những điều làm cho tôi muốn làm việc gì đó (Jay Van de Wint, 2003). Động viên đề cập đến lý do làm nền tảng cho hành vi, nó được đặc trưng bởi sự sẵn sàng và ý chí, động viên nội tại được sinh ra bởi sở thích cá nhân hay việc giải trí, trong khi động viên bên ngoài có lẽ được điều chỉnh bởi tình huống. Khi đề cập đến động viên (Motivation), trên thế giới có rất nhiều khái niệm. “Động cơ thúc đẩy nhân viên nỗ lực và sử dụng khả năng của mình để đạt được mục tiêu của tổ chức” (Robbins, 1998).
Ngoài ra, Herzberg (1959) trong tác phẩm “The motivation to work”, Herzberg cho rằng “Động viên là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức”. “Xu hướng rộng để nỗ lực đạt đến mục tiêu” (Johson in Schmidt, Boraie & Kassabgy, 1996). “Động viên trong bối cảnh hiện nay đề cập đến sự kết hợp của nỗ lực cộng với mong muốn đạt được mục tiêu học ngôn ngữ cộng với thái độ thuận lợi hướng tới việc học ngôn ngữ” (Gardner, 1985). Trong một ý nghĩa chung, động viên có thể được định nghĩa là tự động thay LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 đổi kích thích tích lũy trong một con người, qua đó sẽ khởi tạo, chỉ đạo, phối hợp, khuếch đại, đánh giá hay chấm dứt nhận thức và động viên theo quy trình là những lời chúc và mong muốn lựa chọn, ưu tiên, vận hành, tạo ra hành động (Dornyei & Otto, 1998).
Động viên liên quan mật thiết với nhau đến niềm tin, nhận thức, giá trị, lợi ích và các hành động. Kết quả là, các cách tiếp cận khác nhau để động viên có thể tập trung vào các hành vi nhận thức. Ví dụ như theo Gottfied (1990) định nghĩa động viên trong lĩnh vực y khoa là thụ hưởng việc học tập đặc trưng bởi định hướng tự chủ, sự tò mò và lòng kiên trì.2 Tầm quan trọng của động viên làm việc Điều gì đã tạo ra tầm quan trọng của động viên làm việc? Chỉ có một từ, câu trả lời là hiệu suất. Theo Ahlstrom và Bruton, 2009, động viên làm việc không xác định cấp độ hiệu suất của nhân viên, nhưng nó ảnh hưởng đến nỗ lực của người lao động hướng về thực hiện nhiệm vụ.
Vai trò động viên trong hiệu suất có thể được tóm tắt trong các công thức sau đây: Hiệu suất = khả năng * sự hiểu biết về công việc* động viên * môi trường Nhân viên được động viên cảm thấy ít căng thẳng hơn, tận hưởng công việc của họ, và kết quả là có sức khỏe thể chất và tinh thần tốt hơn (Robison, 2010). Hơn nữa, nhân viên được động viên là cam kết nhiều hơn với các tổ chức của họ và ít không phục tùng và khiếu nại (Jurkiewicz & Cs, 1998). Họ cũng có nhiều sáng tạo và đáp ứng cho khách hàng, do đó gián tiếp góp phần vào sự thành công lâu dài của tổ chức (MANforum, 2009). Trong ngắn hạn, nhân viên năng động là những tài sản lớn nhất của bất kỳ tổ chức nào.
Thêm vào đó, khu vực công với hiệu suất của chính phủ và chính quyền ảnh hưởng rất nhiều đến xã hội hơn các tổ chức khu vực tư nhân. Điều này càng làm cho vấn đề động viên làm việc của các nhân viên trong khu vực công càng trở nên quan trọng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3 Các lý thuyết về động viên Bao gồm các học thuyết của Maslow (1943), thuyết hai nhân tố của Herzberg (1959), Lý thuyết ERG của Alderfer (1969), thuyết nhu cầu thành đạt của Maclelland (1985).1 Lý thuyết của Maslow Lý thuyết của Maslow về sự phát triển cá nhân và động viên được công bố vào năm 1943. Theo Maslow, hành vi của con người bắt nguồn từ mong muốn thỏa mãn các nhu cầu cá nhân.
Nhu cầu của con người được chia thành năm bậc từ thấp (cấp thiết nhất) đến cao (ít cấp thiết) gồm: nhu cầu sinh học - nhu cầu an toàn - nhu cầu xã hội - nhu cầu được tôn trọng - nhu cầu tự thể hiện bản thân. Nhu cầu cơ bản hay nhu cầu sinh học là những nhu cầu đảm bảo cho con người tồn tại như ăn, uống, mặc, tồn tài và phát triển nòi giống và các nhu cầu của con người khác. Nhu cầu về an toàn (an ninh) là những nhu cầu như an toàn, không bị đe doạ, an ninh, chuẩn mực, luật lệ. Nhu cầu xã hội là các nhu cầu về tình yêu, được chấp nhận, bạn bè, xã hội.
Nhu cầu được tôn trọng là các nhu cầu về tự trọng, tôn trọng người khác và được người khác tôn trọng. Nhu cầu tự thể hiện là các nhu cầu chân, thiện, mỹ, tự chủ, sáng tạo, hài hước. Thuyết cấp bậc nhu cầu của Maslow đã có một ẩn ý quan trọng là muốn động viên người lao động thì điều quan trọng là phải hiểu người lao động đang ở cấp độ nhu cầu nào, để từ đó đưa ra các giải pháp cho phù hợp.2 Thuyết hai nhân tố của Herzberg Theo lý thuyết hai nhân tố của Herzberg, ông đã đề nghị các chuyên gia làm trong các xí nghiệp công nghiệp liệt kê các nhân tố làm họ thoả mãn và các nhân tố làm cho họ động viên cao. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Các nhân tố ảnh hưởng theo Herzberg Các nhân tố duy trì Các nhân tố động viên Phương pháp giám sát Hệ thống phân phối thu nhập Sự thách thức của công việc Quan hệ với đồng nghiệp Các cơ hội thăng tiến Điều kiện làm việc Ý nghĩa của các thành tựu Chính sách của công ty Sự nhận dạng khi công việc Cuộc sống cá nhân được thực hiện Địa vị Ý nghĩa của các trách nhiệm Quan hệ qua lại giữa các cá nhân Yếu tố động viên: Công việc thử thách, thành tích, trách nhiệm, trưởng thành trong công việc, sự tiến bộ, địa vị và sự công nhận.
Yếu tố duy trì: Quan hệ giữa các cá nhân, chính sách và quản trị, các điều kiện làm việc, an toàn nghệ nghiệp, tiền lương và cuộc sống riêng tư.3 Lý thuyết ERG cuả Alderfer Thuyết nhu cầu Tồn tại/Quan hệ/Phát triển của Clayton Alderfer (1969) đặt ra ba nhóm nhu cầu khác nhau: Nhu cầu tồn tại – Nhóm nhu cầu này liên quan đến việc đáp ứng đầy đủ những yêu cầu sinh tồn cơ bản như nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn,. Những nhu cầu này có thể được thoả mãn khi một cá nhân sử dụng tiền của mình để chi trả cho các khoản phí sinh hoạt như ăn uống, nơi ở, quần áo,v. Nhu cầu về các mối quan hệ - Nhóm nhu cầu này tập trung vào những mong muốn thiết lập và duy trì mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau. Thông thường mỗi ngày bạn chỉ dành một nửa thời gian để làm việc, còn lại thì bạn sẽ dùng để giao tiếp với người khác nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu về mối quan hệ của mình.
Nhu cầu phát triển - Những nhu cầu này thường được thoả mãn bằng sự tiến bộ và phát triển của cá nhân. Đặc biệt thì thành công trong công việc hay sự nghiệp sẽ là những yếu tố giúp thoả mãn nhu cầu này. Học thuyết ERG của Alderfer cũng chỉ ra rằng tại một thời điểm nhất định, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 con người không chỉ có một nhu cầu duy nhất mà có thể có nhiều nhu cầu khác nhau. Trong đó, nếu một người không được đáp ứng nhu cầu mà họ mong muốn nhất thì niềm khao khát được thoả mãn những nhu cầu còn lại sẽ tăng cao.
Alderfer gọi hiện tượng này là “mức độ lấn át của nỗi lo sợ và thất vọng” (frustration & shy aggression dimension). Điều này có nghĩa là nếu một người rơi vào hoàn cảnh như trên và có một biến cố xảy ra đe doạ đến những nhu cầu cơ bản như công việc của người đó thì anh ta sẽ rất dễ bị rơi vào tình trạng tuyệt vọng và hoảng loạn.4 Thuyết nhu cầu thành đạt của McClelland (1985) Ông quan niệm động cơ thúc đẩy bằng cách xác định ba loại nhu cầu thúc đẩy con người trong tổ chức như sau: Nhu cầu về quyền lực: là nhu cầu tác động lên người khác, tới hoàn cảnh, kiểm soát và thay đổi hoàn cảnh. Nhu cầu về liên minh: là các nhu cầu về quan hệ xã hội, quan hệ giúp đỡ qua lại. Nhu cầu liên minh giống như nhu cầu xã hội của Maslow, được chấp nhận, bạn bè.
Những người có nhu cầu liên minh rất thích những công việc mà qua đó tạo ra sự thân thiện và các quan hệ xã hội. Nhu cầu về thành tích: là nhu cầu vươn tới những thành tựu và thắng lợi. Người có nhu cầu thành tựu cao là người luôn theo đuổi việc giải quyết công việc tốt hơn. Họ muốn vượt qua các khó khăn, trở ngại.
Họ cảm thấy rằng thành công hay thất bị của họ là do kết quả những hành động của họ. Theo ông thì những người thành đạt trong xã hội và trong các doanh nghiệp thường là những người có nhu cầu cao về thành tích, khá cao về quyền lực và không quá thấp về nhu cầu liên kết.5 Học thuyết về nhận thức Các thuyết thuộc học thuyết về nhận thức có thể kể đến như thuyết kỳ vọng của Vroom (1964), thuyết công bằng của Adam (193). Thuyết kỳ vọng của Vroom (1964) Ông cho rằng hành vi và hành động làm việc của con người được quyết định bởi nhận thức và kỳ vọng của họ trong tương lai. Vroom cho rằng người lao động chỉ được động viên khi nhận thức của họ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 về cả ba khái niệm: kỳ vọng, tính chất công cụ, hoá trị.