phần mở đầu, tài liệu tham khảo và phụ lục nghiên cứu, đề tài này bao gồm các chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan các nghiên cứu trƣớc Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận Chƣơng 5: Kết luận và kiến nghị 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC 1. Các công trình nghiên cứu trong nƣớc Hồ Thị Huệ (2011) với nghiên cứu “Xây dựng KTQT trong DN sản xuất tại thành phố Hồ Chí Minh”. Luận văn thạc sĩ kinh tế, trƣờng đại học kinh tế TP. Hồ Chí Minh.
Nghiên cứu đã chứng minh tầm quan trọng của KTQT trong các DN Sản xuất, KTQT đƣa ra tất cả các thông tin đã đƣợc đo lƣờng xử lý và cung cấp cho ban lãnh đạo DN để điều hành các hoạt động trong quá trình kinh doanh. Luận văn sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu định tính. Luận văn đã đi sâu tìm hiểu thực trạng vận dụng kế toán quản trị trong các DN sản xuất tại TP. HCM, đồng thời cũng nêu lên một số nguyên nhân ảnh hƣởng đến xây dựng mô hình KTQT và thông tin cung cấp cho nhà quản lý do bộ phận KTQT cung cấp chƣa đƣợc đầy đủ và rõ ràng.
Trên cơ sở đó luận văn đƣa ra mô hình xây dựng KTQT sử dụng cho các DN Sản xuất tại Thành phố Hồ Chí Minh. Cụ thể, nghiên cứu trình bày một số nguyên nhân dẫn đến việc chƣa xây dựng mô hình KTQT trong các DN sản xuất nhƣ: chƣa có quan điểm chính thống về nội dung và phƣơng pháp KTQT, trình độ quản lý, trình độ chuyên môn nhân viên kế toán còn hạn chế, chƣa ứng dụng khoa học kỹ thuật. Đặng Thị Hồng Nhƣ (2013) với nghiên cứu “Ứng dụng các công cụ kỹ thuật KTQT trong các DNNVV”. Luận văn thạc sĩ kinh tế, trƣờng đại học Kinh tế TP.
Hồ Chí Minh. Nghiên cứu này góp phần trình bày cơ sở lý luận về tổ chức kế toán quản trị trong các DNNVV; dựa trên nền tảng cơ sở lý luận vừa trình bày, luận văn khảo sát tình hình ứng dụng các công cụ kỹ thuật KTQT trong các DNNVV; từ đó đề xuất các kiến nghị về ứng dụng các công cụ kỹ thuật KTQT trong các DN. Cụ thể với nhóm DN siêu nhỏ thì công cụ kỹ thuật KTQT đƣợc áp dụng chủ yếu là: phân tích chi phí và chi phí tiêu chuẩn. Với nhóm DN nhỏ thì công cụ kỹ thuật KTQT đƣợc áp dụng chủ yếu là dự toán và kiểm soát chi phí bằng dự toán.
Với nhóm DN vừa thì công cụ kỹ thuật KTQT đƣợc áp dụng chủ yếu là dự toán và phân tích chi phí - khối lƣợng - lợi nhuận, dự toán và kiểm soát chi phí bằng dự toán, kế toán trách nhiệm. Qua nghiên cứu, một số các đề xuất, giải pháp đƣợc tác giả đƣa ra có thể kể đến nhƣ: xây dựng các dự toán ngân sách 5 mẫu cho các loại hình kinh doanh hàng hóa, sản xuất, dịch vụ; lập dự toán dòng tiền; lập bảng phân tích mối liên hệ giữa quyết định và các công cụ kỹ thuật KTQT; tích hợp công cụ, kỹ thuật KTQT và phần mềm kế toán. Đào Khánh Trí (2015), “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT cho các DNVVN tại Thành phố Hồ Chí Minh”. Luận văn thạc sĩ trƣờng Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh.
Thông qua dữ liệu thu thập từ 150 DNVVN tại địa bàn TP. Hồ Chí Minh, kết quả cũng cho thấy tỷ lệ vận dụng KTQT ở các DN vừa cao hơn các DN nhỏ. Bằng phƣơng pháp hồi qui binary logistic cho thấy có 3 yếu tố là trình độ của nhân viên kế toán; sự quan tâm đến KTQT của chủ DN và chi phí cho việc tổ chức một hệ thống KTQT trong DN là có ý nghĩa thống kê và có mối quan hệ tích cực đến mức độ vận dụng KTQT của các DNVVN tại địa bàn TP Hồ Chí Minh. Trần Ngọc Hùng (2016) với nghiên cứu “Các nhân tố tác động đến việc vận dụng KTTQ trong các DNNVV tại Việt Nam”.
Luận văn Tiến sĩ trƣờng đại học kinh tế TP. Hồ Chí Minh. Thông qua việc tổng hợp thực tiễn vận dụng KTQT trong các DNNVV tại một số quốc gia khu vực và rút ra đƣợc một số kinh nghiệm cho việc vận dụng KTQT trong các DNNVV tại Việt Nam. Đồng thời tác giả cũng khảo sát xây dựng mô hình các yếu tố tác động đến việc vận dụng KTQT trong DNNVV Tại Việt Nam gồm có 7 biến độc lập là: Mức độ sở hữu nhà nƣớc, mức độ cạnh tranh thị trƣờng, văn hóa DN, nhận thức của ngƣời chủ, ngƣời điều hành DN, quy mô DN, chi phí cho việc tổ chức KTQT và chiến lƣợc DN và kết quả nghiên cứu đã chỉ ra đƣợc sự tác động cùng chiều của các nhân tố nhận thức của ngƣời điều hành DN, quy mô, chi phí tổ chức và chiến lƣợc đến vận dụng KTQT ở các DN này.
Qua đó đƣa ra các gợi ý chính sách hữu ích cho các nhà quản lý DN. Nguyễn Ngọc Vũ (2017) với nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng KTQT trong các DNNVV thuộc lĩnh vực phi tài chính ở Thành phố Hồ Chí Minh”. Luận văn thạc sĩ kinh tế, trƣờng đại học kinh tế TP. Hồ Chí Minh.
Nghiên cứu này đƣợc thực hiện nhằm giải quyết những mục tiêu nghiên cứu nhƣ nhận diện các nhân tố và đo lƣờng mức độ ảnh hƣởng của các nhân tố 6 đến việc áp dụng công tác KTQT tại các DNNVV ở thành phố Hồ Chí Minh. Đề tài này sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu định lƣợng. Dựa trên các nghiên cứu trƣớc đây, tác giả đƣa ra mô hình nghiên cứu đề xuất và kiểm định mô hình thông qua dữ liệu thu thập đƣợc từ việc khảo sát. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc áp dụng KTQT trong các DNNVV thuộc lĩnh vực phi tài chính ở Thành phố Hồ Chí Minh chịu ảnh hƣởng bởi các nhân tố nhƣ: Quy mô, trình độ nhân viên kế toán, mức độ cạnh tranh trong ngành, áp dụng công nghệ sản xuất tiên tiến.
Ngoài ra nghiên cứu này còn cung cấp cái nhìn tổng quát về tình hình áp dụng KTQT tại các DN đang hoạt động trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh, theo đó tỷ lệ các DN vận dụng KTQT còn thấp, các DN chƣa chú trọng và quan tâm nhiều đến KTQT. Huỳnh Cao Khải (2018) với nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT trong các DNXD ở Thành phố Hồ Chí Minh”. Luận văn thạc sĩ kinh tế, trƣờng đại học kinh tế TP.
Hồ Chí Minh. Qua việc nghiên cứu tổng quan các nghiên cứu trƣớc đây trên thế giới cũng nhƣ tại Việt Nam có liên quan đến đề tài, tác giả một lần nữa khẳng định lại vai trò quan trọng của việc vận dụng KTQT nhƣ là một công cụ kỹ thuật quản trị hữu hiệu trong các DN tại Việt Nam. Xuất phát từ lợi ích của việc vận dụng KTQT, tác giả đã tiến hành phân tích nhằm tìm ra các nhân tố tác động đến vận dụng KTQT trong các DNXD tại TP.HCM để từ đó đƣa ra các kiến nghị đề xuất và giải pháp. Bằng phƣơng pháp định lƣợng (thống kê mô tả, ma trận hệ số tƣơng quan, phân tích nhân tố khám phá, hồi quy binary logistic), tác giả đã xác định đƣợc các nhân tố ảnh hƣởng đến việc vận dụng KTQT trong các DNXD tại TP.
HCM theo mức độ ảnh hƣởng giảm dần, bao gồm: quy mô DN, trình độ của nhân viên kế toán, mức độ cạnh tranh trong ngành, áp dụng công nghệ sản xuất tiên tiến và chi phí tổ chức KTQT. Các công trình nghiên cứu nƣớc ngoài Tác giả Ronald W. Hilton (2005) đã đƣa ra năm yếu tố làm tăng giá trị cho các DN khi áp dụng KTQT bao gồm cung cấp thông tin cho việc ra quyết định, lập kế hoạch; cơ sở để nhà quản lý đƣa ra quyết định; hỗ trợ các nhà quản lý trong việc chỉ đạo và kiểm soát các hoạt động; thúc đẩy nhà quản lý và nhân 7 viên đạt đƣợc mục tiêu của doanh nghiệp; đo lƣờng việc thực hiện các hoạt động, nhà quản lý và các nhân viên trong DN; đánh giá vị thế cạnh tranh của DN, đảm bảo khả năng cạnh tranh dài hạn của DN trong ngành. Để dễ dàng nắm bắt tác giả biểu diễn các yếu tố này theo sơ đồ dƣới đây: Giá trị cho các doanh nghiệp khi áp dụng KTQT Cung cấp Cơ sở để Hỗ trợ các Đo lƣờng việc Đánh giá vị thế thông tin nhà quản nhà quản lý thực hiện các cạnh tranh của cho việc lý đƣa ra trong việc hoạt động, DN, đảm bảo ra quyết quyết chỉ đạo và nhà quản lý khả năng cạnh định, lập định kiểm soát và các nhân tranh dài hạn của kế hoạch các hoạt viên trong DN trong ngành động DN Sơ đồ 1.1: Giá trị cho các DN khi áp dụng KTQT theo Ronald W.
Hilton (2005) Nguồn: Tác giả sưu tầm Khaled Abed Hutaibat (2005) trong luận án tiến sỹ nghiên cứu về việc vận dụng KTQT tại Jordan đã kiểm định thành công mô hình các nhân tố tác động đến việc vận dụng KTQT trong DN bao gồm các nhân tố sau: - Quy mô DN (tổng doanh thu hàng năm) - Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tƣ ngoại trong DN - Ngành nghề kinh doanh của DN - Mức độ cạnh tranh thị trƣờng (nội địa & quốc tế) 8 Vận dụng KTQT tại Jordan Quy mô DN Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tƣ ngoại trong DN Ngành nghề Mức độ cạnh kinh doanh tranh thị của DN trƣờng Sơ đồ 1.2: Các nhân tố ảnh hƣởng đến vi c vận dụng KTQT tại Jordan Nguồn: Tác giả sưu tầm Để xác định các nhân tố trên, tác giả chủ yếu sử dụng nghiên cứu định tính, tuy nhiên để áp dụng mô hình này ngƣời dùng cần cân nhắc cũng nhƣ điều chỉnh một vài đặc điểm trong chính sách của Nhà nƣớc về ngành nghề, địa lý, … tại nơi đó nhằm phù hợp với tình hình thực tế của DN, mà tại đó tồn tại sự khác biệt với đặc điểm của các đơn vị tại Jordan.