Tổng quan luận án
Đề tài luận án tiến sĩ: "Các nhân tố ảnh hưởng đến tính hấp dẫn của điểm đến du lịch trong việc thu hút vốn đầu tư du lịch tại vùng Duyên hải Nam Trung Bộ", do nghiên cứu sinh Trần Thanh Phong thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Văn Mạnh, bảo vệ tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân năm 2020. Luận án thuộc chuyên ngành Kinh tế du lịch (mã số: 9310110), ngành Quản lý kinh tế.
Tính cấp thiết của nghiên cứu được xác định xuất phát từ cả hai phương diện lý luận và thực tiễn:
- Về mặt lý luận: Nguồn vốn tư nhân từ bên ngoài giữ vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dài hạn, tạo việc làm và chuyển giao công nghệ (Grossman và Helpman, 1991; Hermes và Lensink, 2003; OECD, 2008). Để thu hút nguồn vốn này, các địa phương cần hiểu rõ động cơ của nhà đầu tư như tìm kiếm lợi nhuận (Agarwal, 1980; Moosa, 2002), đa dạng hóa danh mục (Markowitz, 1991; Rose-Ackerman và Tobin, 2005) hay khai thác tiềm năng thị trường (Moore, 1993; Kreinin và cộng sự, 1999). Tại Việt Nam, phần lớn công trình trước đây tập trung đo lường các nhân tố thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực công nghiệp hoặc dịch vụ chung tại một tỉnh, thành phố cụ thể (Nguyễn Mạnh Toàn, 2010; Trương Bá Thanh và cộng sự, 2010; Hà Nam Khánh Giao và cộng sự, 2015; Huyen, 2015). Các nghiên cứu này còn tản mạn, thiếu sự thống nhất khoa học do chưa xuất phát từ lý thuyết động cơ đầu tư gốc (Dunning, 1988), thường bỏ sót khía cạnh tài nguyên văn hóa và chưa bao quát đầy đủ môi trường đầu tư theo cấu phần của chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI). Trên thế giới, các công trình về đầu tư khách sạn, khu nghỉ dưỡng đa phần nhấn mạnh quy mô thị trường mà ít tích hợp tài nguyên văn hóa và các khía cạnh thể chế địa phương; đồng thời hầu hết các nghiên cứu chỉ xem xét tính hấp dẫn của điểm đến đối với khách du lịch thay vì đối với nhà đầu tư.
- Về mặt thực tiễn: Theo "Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030", vốn ngân sách nhà nước (gồm ODA) chỉ chiếm từ 8% đến 10%, nguồn vốn đóng vai trò chủ đạo là khu vực tư nhân (bao gồm FDI). Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ có bờ biển dài, khí hậu thuận lợi và là nơi giao thoa của 4 nền văn hóa (Chăm Pa, Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ). Tuy nhiên, mức độ thu hút khách du lịch và vốn đầu tư giữa các tỉnh trong vùng có sự chênh lệch lớn (các địa phương như Đà Nẵng, Quảng Nam, Khánh Hòa, Bình Thuận phát triển mạnh; trong khi Ninh Thuận, Phú Yên, Bình Định, Quảng Ngãi còn hạn chế). Thực tế số liệu lũy kế đến năm 2017 cho thấy chỉ số PCI chưa giải thích tương thích với lượng vốn thu hút được:
| Tỉnh |
Số lượng dự án |
Vốn lũy kế đến 2017 (triệu USD) |
Điểm PCI năm 2017 |
| Đà Nẵng |
526 |
4.449,6 |
63,16 |
| Bình Định |
73 |
671,8 |
64,08 |
| Phú Yên |
44 |
4.566,8 |
63,34 |
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát là xác định các nhân tố và phát hiện thành phần mới tác động đến tính hấp dẫn của điểm đến để thu hút nhà đầu tư du lịch. Các mục tiêu cụ thể gồm:
- Chỉ ra lý thuyết cơ sở cho việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến tính hấp dẫn điểm đến; xác định cơ sở lý thuyết để làm rõ mối quan hệ giữa tính hấp dẫn điểm đến và ý định đầu tư du lịch của nhà đầu tư.
- Chỉ ra các nhân tố quan trọng tạo nên tính hấp dẫn của điểm đến trong việc thu hút vốn đầu tư du lịch; lượng hóa mức độ tác động của các nhân tố; lượng hóa mức độ hấp dẫn của mỗi tỉnh thuộc khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ.
- Dựa trên kết quả nghiên cứu định tính và định lượng để chỉ ra phần mới trong các nhân tố có ảnh hưởng đến việc thu hút vốn đầu tư du lịch, phù hợp bối cảnh Việt Nam.
- Xác định mối quan hệ giữa tính hấp dẫn của điểm đến và ý định đầu tư du lịch.
- Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá tính hấp dẫn của điểm đến du lịch ở mỗi tỉnh, thành phố.
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu được đặt ra:
- Những nhân tố nào tác động đến tính hấp dẫn của điểm đến du lịch trong việc thu hút vốn đầu tư du lịch? Môi trường đầu tư có tác động đến tính hấp dẫn điểm đến đầu tư hay không?
- Mối quan hệ giữa những nhân tố tạo nên tính hấp dẫn của điểm đến với ý định đầu tư của nhà đầu tư du lịch? Và cụ thể là ứng với trường hợp của vùng Duyên hải Nam Trung Bộ thì kết quả như thế nào?
- Mức độ tác động của các nhân tố đến tính hấp dẫn của điểm đến là như thế nào? Và mức độ tác động của tính hấp dẫn của điểm đến đối với ý định đầu tư là như thế nào?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố tác động đến tính hấp dẫn của điểm đến trong việc thu hút vốn đầu tư du lịch và mối quan hệ giữa tính hấp dẫn điểm đến tác động đến ý định đầu tư du lịch.
- Phạm vi không gian: 8 tỉnh, thành phố thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ (Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận).
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu khảo sát sơ cấp thu thập từ tháng 3 năm 2017 đến tháng 3 năm 2019.
- Phạm vi nội dung: Vốn đầu tư vào lĩnh vực khách sạn, resort, khu du lịch có tiêu chuẩn từ 3 sao trở lên; tập trung vào nguồn vốn FDI và vốn tư nhân trong nước; loại trừ vốn ODA, vốn vay nợ, kiều hối và vốn ngân sách nhà nước.
- Đối tượng khảo sát: Khảo sát định tính thực hiện trên các chuyên gia quản lý nhà nước về du lịch (Sở Kế hoạch và Đầu tư, Trung tâm Xúc tiến đầu tư), chuyên gia nghiên cứu tại các viện, trường đại học và các nhà đầu tư lớn; khảo sát định lượng thực hiện trên các nhà đầu tư, nhà quản lý khách sạn, resort, khu du lịch từ 3 sao trở lên tại vùng nghiên cứu.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu trong luận án phân loại các công trình nghiên cứu trước đây theo hai nhánh tiếp cận chính:
Nhánh tiếp cận dựa trên lý thuyết địa điểm sản xuất quốc tế:
Các nghiên cứu thực nghiệm tập trung vào lợi thế địa điểm tác động đến quyết định đầu tư nước ngoài (Dunning, 1973; Stobaugh, 1969). Nhóm nhân tố thị trường tiềm năng được chứng minh có tác động rõ rệt trong các nghiên cứu của Dunning và Kundu (1995), Kundu và Contractor (1999), Dunning (2002), Du Plessis (2002), Aykut và Ratha (2004), Johnson và Vanetti (2005), Newell và Seabrook (2006), Naude và Krugell (2007), Duanmu và Guney (2009), Masron và Shahbudin (2010), Anil và cộng sự (2014), Assaf và cộng sự (2015), Santos và cộng sự (2016), Tomohara (2016), Kristjánsdóttir (2016), Puciato và cộng sự (2017), Li và cộng sự (2017). Về nhân tố chi phí và nguồn nhân lực, các nghiên cứu tiêu biểu gồm Assaf và Josiassen (2012), Endo (2006), Lu và cộng sự (2011), Falk (2016). Về cơ sở hạ tầng, các công trình của UNESCAP (1991), Urata và Kawai (2000), Snyman và Saayman (2009), Nguyễn Mạnh Toàn (2010) khẳng định vai trò then chốt của giao thông và dịch vụ hỗ trợ. Về thể chế và môi trường đầu tư, các tác giả Brouthers và cộng sự (2000), Villaverde và Maza (2015), Li và cộng sự (2018) chỉ ra tác động của chính sách ưu đãi, mức độ rào cản và sự ổn định chính trị.
Nhánh tiếp cận dựa trên lý thuyết động cơ đầu tư:
Theo phân loại động cơ của Dunning (1988, 1998) và Dunning và Lundan (2008), các nghiên cứu trong ngành du lịch - khách sạn được tổng hợp theo ba nhóm:
- Động cơ tìm kiếm tài nguyên: Papatheodorou (2001), Polyzos và Arabatzis (2006), Polyzos và Minetos (2011) tập trung vào tài nguyên bờ biển, đảo; Polyzos (2002), Aykut và cộng sự phân tích hệ sinh thái rừng; Komilis (1986), Kavadias (1992) đề cập di tích lịch sử; Yang và Fik (2011), Zhang và cộng sự (2012), Puciato (2016) kiểm định vai trò của sự kiện văn hóa và lễ hội.
- Động cơ tìm kiếm thị trường: Sun (2002), Dunning (2002), Aykut và Ratha (2004), Anil và cộng sự (2014), Puciato và cộng sự (2017) đo lường lượng khách đến, tốc độ tăng trưởng ngành du lịch và khả năng sinh lợi.
- Động cơ tìm kiếm sự hiệu quả: Snyman và Saayman (2009), Ussi và Wei (2011), Guillet và cộng sự (2011), Adam và Amuquandoh (2013), Villaverde và Maza (2015) kiểm định tổng hợp các khía cạnh chi phí lao động, hạ tầng kỹ thuật và quy định pháp lý.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết:
Thứ nhất, các nghiên cứu thực nghiệm trước đây phân nhóm nhân tố không nhất quán do không gắn kết chặt chẽ với lý thuyết gốc về động cơ đầu tư.
Thứ hai, nhóm nhân tố tài nguyên du lịch trong các nghiên cứu quốc tế và Việt Nam chủ yếu xem xét tài nguyên thiên nhiên (khí hậu, cảnh quan biển, vị trí), bỏ sót hoặc phân tích chưa đầy đủ tài nguyên du lịch văn hóa.
Thứ ba, nhân tố môi trường đầu tư mới chỉ dừng lại ở các khía cạnh riêng lẻ (ưu đãi thuế, sự ổn định chính trị), chưa được tích hợp đầy đủ theo hệ thống các tiêu chí đánh giá chất lượng điều hành kinh tế cấp địa phương như chỉ số PCI (đặc biệt là tính năng động của chính quyền, chi phí thời gian và chi phí gia nhập thị trường).
Thứ tư, phần lớn các công trình chỉ khảo sát tính hấp dẫn của điểm đến hoặc dừng lại ở việc xác định các nhân tố thu hút đầu tư, chưa kiểm định mô hình liên kết giữa tính hấp dẫn điểm đến đối với ý định đầu tư của nhà đầu tư du lịch.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên ba lý thuyết nền tảng:
- Lý thuyết địa điểm sản xuất quốc tế (Greenhut, 1952; Stobaugh, 1969; Dunning, 1973): Giải thích sự phân bổ không gian của hoạt động sản xuất dựa trên tối ưu hóa chi phí (tìm nơi có chi phí thấp) và tiếp cận thị trường (gần khách hàng để giảm chi phí vận chuyển, tăng doanh thu).
- Lý thuyết động cơ đầu tư (Dunning, 1988, 1998; Dunning và Lundan, 2008): Xác định 3 nhóm động cơ cốt lõi thúc đẩy doanh nghiệp lựa chọn địa điểm đầu tư: Động cơ tìm kiếm tài nguyên (tài nguyên tự nhiên và tài nguyên văn hóa); Động cơ tìm kiếm thị trường (quy mô, tốc độ tăng trưởng); Động cơ tìm kiếm sự hiệu quả (lợi thế chi phí, cơ sở hạ tầng du lịch và môi trường đầu tư).
- Lý thuyết hành vi dự định (TPB - Ajzen, 1991) phát triển từ lý thuyết hành động hợp lý (TRA - Fishbein và Ajzen, 1975; Ajzen và Fishbein, 1980): Luận án vận dụng thành phần thái độ đối với hành vi để giải thích mối quan hệ: thái độ, nhận thức của nhà đầu tư về tính hấp dẫn của điểm đến sẽ tác động trực tiếp và cùng chiều đến ý định đầu tư du lịch (Alleyne và Broome, 2010; Ali và cộng sự, 2014; Cuccinelli và cộng sự, 2016). Các thành phần chuẩn chủ quan và kiểm soát hành vi nhận thức không đưa vào mô hình khảo sát.
Mô hình nghiên cứu đề xuất gồm 5 nhóm biến độc lập tác động đến biến trung gian "Tính hấp dẫn của điểm đến đối với nhà đầu tư" (HD), qua đó tác động đến biến phụ thuộc "Ý định đầu tư du lịch":
- Lợi thế tài nguyên du lịch (TN): gồm tài nguyên tự nhiên và tài nguyên văn hóa.
- Thị trường du lịch tiềm năng (KT): quy mô khách, tốc độ tăng trưởng ngành.
- Cơ sở hạ tầng du lịch (HT): hạ tầng giao thông kết nối, dịch vụ công cộng, dịch vụ tài chính ngân hàng.
- Môi trường đầu tư (MT): sự minh bạch, tính năng động, giải quyết khiếu nại, chi phí thời gian, chi phí gia nhập thị trường.
- Lợi thế chi phí (CP): chi phí lao động, sự sẵn có của nhân lực có trình độ, ưu đãi tài chính và chi phí mặt bằng.
Quy trình và phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa định tính và định lượng:
- Nghiên cứu sơ bộ định tính: Triển khai qua 4 công đoạn: (1) Nghiên cứu khám phá dùng phiếu hỏi mở phi cấu trúc gửi nhà quản lý và chủ đầu tư; (2) Phỏng vấn sâu chuyên gia Sở Kế hoạch và Đầu tư, Trung tâm Xúc tiến đầu tư, các nhà khoa học và nhà đầu tư lớn; (3) Thảo luận nhóm chuyên gia để hoàn thiện thang đo; (4) Khảo sát thử nghiệm bằng chọn mẫu thuận tiện để kiểm tra độ rõ ràng của bảng câu hỏi.
- Nghiên cứu sơ bộ định lượng: Thu thập dữ liệu thử nghiệm, kiểm tra hệ số Cronbach's Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA để sàng lọc biến quan sát trước khi khảo sát diện rộng (Hair và cộng sự, 2010; Meyers và cộng sự, 2016).
- Nghiên cứu chính thức định lượng: Điều tra khảo sát trực tiếp bằng bảng câu hỏi với cỡ mẫu dự kiến phát ra khoảng 500 phiếu tại các khách sạn, resort, khu du lịch từ 3 sao trở lên thuộc 8 tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ.
- Công cụ và kỹ thuật phân tích: Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 22 và AMOS. Kỹ thuật phân tích bao gồm:
- Đánh giá độ tin cậy thang đo qua hệ số Cronbach's Alpha và tương quan biến tổng (TQBT).
- Phân tích nhân tố khám phá EFA (kiểm định KMO, Bartlett, hệ số tải Factor Loadings, phương sai trích Total Variance Explained).
- Phân tích nhân tố khẳng định CFA để kiểm định tính đơn hướng, độ tin cậy tổng hợp (CR), tổng phương sai trích (AVE), giá trị hội tụ và giá trị phân biệt; đánh giá độ thích hợp của mô hình qua CMIN/df, GFI, TLI, CFI, RMSEA.
- Phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM (Structural Equation Modeling) để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu.
- Phân tích cấu trúc đa nhóm trong SEM nhằm kiểm định sự khác biệt giữa mô hình bất biến từng phần và mô hình khả biến theo danh mục đầu tư (Khách sạn vs Khu du lịch) và theo nguồn vốn (Trong nước vs Ngoài nước).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Giới thiệu chung về nghiên cứu
Chương 1 thiết lập tổng thể nghiên cứu thông qua việc phân tích bối cảnh phát triển du lịch và sự cần thiết thu hút vốn đầu tư tư nhân. Tác giả luận giải tính cấp thiết lý luận từ các khoảng trống nghiên cứu tại Việt Nam và quốc tế, đồng thời chỉ ra tính cấp thiết thực tiễn tại vùng Duyên hải Nam Trung Bộ thông qua các số liệu thống kê dự án và chỉ số PCI năm 2017. Chương này xác định rõ 5 mục tiêu nghiên cứu cụ thể, 3 câu hỏi nghiên cứu cốt lõi; giới hạn phạm vi nghiên cứu tại 8 tỉnh, thành phố từ tháng 3/2017 đến tháng 3/2019 đối với các cơ sở lưu trú, khu du lịch từ 3 sao trở lên thuộc nguồn vốn tư nhân trong nước và vốn FDI. Tác giả trình bày tóm tắt phương pháp nghiên cứu 2 giai đoạn (sơ bộ và chính thức), phác thảo 6 điểm mới về mặt lý luận và 2 điểm mới về mặt thực tiễn, đồng thời giới thiệu kết cấu luận án gồm 5 chương.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Chương 2 thực hiện hệ thống hóa các khái niệm khoa học: du lịch (đối chiếu các định nghĩa của Hunziker và Kraft, Kalfiotis, Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa, Luật Du lịch 2017, Hội nghị Ottawa 1991); điểm đến du lịch (Van Raaij, 1986; Hu và Ritchie, 1993; Kim, 1998; Park và Gretzel, 2007; Cracolici và Nijkamp, 2009); tính hấp dẫn của điểm đến (Laws, 1995; Lumsdon, 1997; Gunn, 2002); khái niệm đầu tư (Sachs và Larrain, 1993) và tính hấp dẫn điểm đến thu hút đầu tư (Dunning, 1981; Van de Ven và Walker, 1984; Harris và cộng sự, 2003). Tiếp đó, chương phân tích ba nền tảng lý thuyết: Lý thuyết địa điểm sản xuất quốc tế, Lý thuyết động cơ đầu tư và Lý thuyết hành vi dự định. Tác giả tổng hợp các biến đo lường từ các công trình nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước qua hệ thống các bảng biểu chuyên đề (Bảng 2.1 đến Bảng 2.9). Từ đó, tác giả thiết lập mô hình nghiên cứu đề xuất gồm 5 biến độc lập (Lợi thế tài nguyên, Thị trường tiềm năng, Cơ sở hạ tầng du lịch, Môi trường đầu tư, Lợi thế chi phí), biến trung gian (Tính hấp dẫn của điểm đến đối với nhà đầu tư) và biến phụ thuộc (Ý định đầu tư du lịch), đi kèm hệ thống các giả thuyết nghiên cứu về mối quan hệ giữa các cấu phần trong mô hình.
Chương 3: Thiết kế nghiên cứu
Chương 3 trình bày chi tiết quy trình nghiên cứu gồm hai bước sơ bộ và chính thức. Trong nghiên cứu định tính, tác giả báo cáo kết quả khảo sát khám phá, phỏng vấn sâu chuyên gia và thảo luận nhóm, dẫn đến việc điều chỉnh, bổ sung các biến quan sát mới phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Các thang đo sau đó được kiểm định sơ bộ qua phân tích Cronbach's Alpha và EFA để loại các biến không đạt tiêu chuẩn, xây dựng lại cấu trúc thang đo hoàn chỉnh trước khi khảo sát diện rộng. Tác giả trình bày chi tiết kết quả phát triển thang đo định tính và định lượng sơ bộ cho từng nhân tố:
- Lợi thế tài nguyên du lịch (bổ sung biến về khí hậu mát mẻ và sự kiện/hoạt động giải trí văn hóa).
- Thị trường du lịch tiềm năng (quy mô khách, doanh thu, tốc độ tăng trưởng).
- Cơ sở hạ tầng du lịch (giao thông đối nội, giao thông kết nối liên vùng, dịch vụ công cộng, hạ tầng thanh toán ngân hàng).
- Môi trường đầu tư (bổ sung 4 biến đo lường định tính về tính năng động, giải quyết khiếu nại, chi phí thời gian và chi phí gia nhập thị trường).
- Lợi thế chi phí (chi phí lao động, nguồn lao động có tay nghề, các chính sách ưu đãi tài chính, chi phí sản xuất).
- Tính hấp dẫn điểm đến đầu tư và Ý định đầu tư du lịch.
Chương này cũng thiết lập hệ thống các chỉ số kiểm định chất lượng thang đo (hệ số tải, KMO, Bartlett, giá trị kiểm định tính đơn hướng).
Chương 4: Kết quả nghiên cứu định lượng
Chương 4 trình bày toàn bộ kết quả phân tích thống kê từ tập dữ liệu khảo sát chính thức:
- Tổng hợp kết quả sơ bộ và tiến hành kiểm định độ tin cậy thang đo chính thức bằng Cronbach's Alpha cho 7 cấu phần: Lợi thế tài nguyên, Thị trường du lịch tiềm năng, Cơ sở hạ tầng du lịch, Môi trường đầu tư, Lợi thế chi phí, Tính hấp dẫn điểm đến và Ý định đầu tư du lịch (đánh giá qua hệ số tương quan biến tổng và Cronbach's Alpha nếu loại biến).
- Kiểm định thang đo bằng phân tích nhân tố khám phá EFA: Báo cáo kết quả kiểm định KMO và Bartlett, ma trận xoay nhân tố (Rotated Component Matrix) cho nhóm các biến độc lập và ma trận nhân tố cho các biến phụ thuộc, xác nhận các biến hội tụ vào đúng cấu trúc lý thuyết.
- Phân tích nhân tố khẳng định CFA: Kiểm tra tính đơn hướng, độ tin cậy tổng hợp (CR), tổng phương sai trích (AVE), kiểm định giá trị hội tụ và giá trị phân biệt giữa các khái niệm nghiên cứu. Đánh giá mức độ phù hợp của mô hình đo lường qua hệ thống chỉ số CMIN/df, GFI, TLI, CFI, RMSEA.
- Kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính SEM: Đánh giá các trọng số hồi quy chuẩn hóa, giá trị sai số chuẩn (S.E.), giá trị tới hạn (C.R.) và mức ý nghĩa p-value để kết luận về việc chấp nhận hay bác bỏ các giả thuyết nghiên cứu H1, H2, H3, H4, H5 (tác động của 5 nhân tố đến tính hấp dẫn điểm đến) và giả thuyết về tác động của tính hấp dẫn điểm đến tới ý định đầu tư du lịch.
- Phân tích cấu trúc đa nhóm bằng SEM: Đánh giá sự khác biệt giữa mô hình khả biến và mô hình bất biến từng phần trên hai nhóm phân loại: (1) Theo danh mục đầu tư (Khu du lịch và Khách sạn); (2) Theo nguồn gốc vốn (Nhà đầu tư trong nước và Nhà đầu tư ngoài nước).
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách
Chương 5 đúc kết các phát hiện nghiên cứu từ kết quả mô hình SEM và phân tích cấu trúc đa nhóm. Trên cơ sở đó, tác giả xây dựng 4 nhóm hàm ý chính sách nhằm nâng cao tính hấp dẫn của điểm đến trong thu hút vốn đầu tư du lịch:
- Xây dựng chỉ số đo lường tính hấp dẫn đầu tư du lịch của từng địa phương: Cung cấp phương pháp luận và bảng tính minh họa điểm hấp dẫn tổng thể cấp tỉnh cũng như tính điểm theo lượng vốn đầu tư thực tế.
- Tạo ra thị trường du lịch tiềm năng: Chiến lược quảng bá điểm đến, mở rộng thị trường khách du lịch trong và ngoài nước.
- Tạo ra lợi thế chi phí: Chính sách hỗ trợ mặt bằng, giá thuê đất, ưu đãi thuế và đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch tại chỗ.
- Hoàn thiện môi trường đầu tư: Phân định nhiệm vụ cụ thể đối với Chính phủ (hoàn thiện khung pháp lý, cơ chế giám sát vĩ mô) và đối với Chính quyền địa phương (nâng cao tính năng động, cắt giảm chi phí thời gian giải quyết thủ tục hành chính, minh bạch hóa thông tin quy hoạch, giải quyết nhanh chóng tranh chấp khiếu nại của doanh nghiệp).
Cuối chương, tác giả nêu rõ các hạn chế của luận án và định hướng các nghiên cứu tiếp theo.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới về mặt lý luận và phương pháp nghiên cứu:
- Thứ nhất: Luận án hệ thống hóa cơ sở lý thuyết đặc thù về tính hấp dẫn của điểm đến trong việc thu hút nhà đầu tư du lịch bằng cách kết hợp Lý thuyết động cơ đầu tư (Dunning) và Lý thuyết hành vi dự định (Ajzen), khắc phục tình trạng phân loại tản mạn trong các nghiên cứu trước đây.
- Thứ hai: Phát hiện và đưa vào mô hình nhân tố "Môi trường đầu tư" với 4 biến đo lường mới được lượng hóa dựa trên các chỉ số thành phần của PCI mà các nghiên cứu trước chưa đề cập hoặc chỉ dừng ở định tính: (1) Chính quyền, tòa án địa phương giải quyết tranh chấp và xử lý khiếu nại nhanh chóng, công bằng; (2) Chính quyền địa phương năng động và linh hoạt trong các hoạt động pháp lý, thủ tục hành chính; (3) Chi phí thời gian thực hiện các quy định nhà nước ngắn ngày; (4) Chi phí gia nhập thị trường thấp.
- Thứ ba: Hoàn thiện thang đo "Lợi thế tài nguyên du lịch" thông qua việc bổ sung cấu phần tài nguyên du lịch văn hóa bên cạnh tài nguyên du lịch tự nhiên, với 2 biến quan sát được kiểm định thực nghiệm: (1) Địa phương có khí hậu mát mẻ thích hợp cho phát triển du lịch; (2) Địa phương có nhiều hoạt động giải trí dựa trên các tài nguyên du lịch văn hóa thu hút khách.
- Thứ tư: Mở rộng nghiên cứu từ việc chỉ xác định các nhân tố tác động đến tính hấp dẫn sang lượng hóa mối quan hệ tác động trực tiếp của tính hấp dẫn điểm đến tới ý định đầu tư du lịch của nhà đầu tư.
- Thứ năm: Ứng dụng quy trình phân tích định lượng kết hợp EFA, CFA, mô hình cấu trúc tuyến tính SEM và phân tích cấu trúc đa nhóm (so sánh giữa Khách sạn vs Khu du lịch, Vốn trong nước vs Ngoài nước), đảm bảo độ tin cậy trong kiểm định mô hình.
Những đóng góp mới về mặt thực tiễn:
- Cung cấp luận cứ thực chứng giúp chính quyền các địa phương vùng Duyên hải Nam Trung Bộ xác định chính xác nhu cầu cốt lõi của nhà đầu tư du lịch để ban hành chính sách hạ tầng, lao động, môi trường đầu tư phù hợp.
- Đề xuất mô hình và bộ chỉ tiêu đo lường tính hấp dẫn điểm đến du lịch cấp tỉnh định kỳ (tương tự như chỉ số PCI), tạo công cụ giúp chính quyền địa phương tự đánh giá điểm mạnh, điểm yếu và giúp các doanh nghiệp so sánh, lựa chọn địa bàn đầu tư.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Các hạn chế được văn bản đề cập và suy luận từ phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu giới hạn dữ liệu khảo sát tại 8 tỉnh, thành phố thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, chưa mở rộng ra các vùng du lịch trọng điểm khác trong cả nước.
- Đối tượng và phân khúc khảo sát: Luận án chỉ tập trung vào phân khúc khách sạn, resort, khu du lịch đạt tiêu chuẩn từ 3 sao trở lên; chưa bao quát các dự án du lịch quy mô nhỏ, homestay hay các loại hình du lịch cộng đồng.
- Phạm vi nguồn vốn: Nghiên cứu chỉ xem xét nguồn vốn tư nhân trong nước và vốn FDI; không thu thập và đánh giá nguồn vốn ODA, vốn vay nợ, kiều hối và vốn đầu tư công của nhà nước.
- Mô hình lý thuyết hành vi: Nghiên cứu mới chỉ tập trung khai thác thành phần thái độ của nhà đầu tư theo lý thuyết hành vi dự định (TPB), chưa tích hợp hai thành phần "chuẩn chủ quan" và "kiểm soát hành vi nhận thức" vào mô hình giải thích ý định đầu tư.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được xác định là mở rộng địa bàn khảo sát sang các vùng kinh tế du lịch khác, mở rộng đa dạng các loại hình cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch, đồng thời bổ sung các biến kiểm soát và các thành phần tâm lý xã hội khác vào mô hình nghiên cứu ý định đầu tư.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên: Luận án là tài liệu tham khảo về phương pháp luận kết hợp lý thuyết kinh tế (Động cơ đầu tư của Dunning, Địa điểm sản xuất quốc tế của Greenhut) với lý thuyết tâm lý hành vi (Lý thuyết hành vi dự định của Ajzen). Quy trình thiết kế nghiên cứu 2 giai đoạn, 4 công đoạn định tính và các bước kiểm định dữ liệu định lượng (Cronbach's Alpha, EFA, CFA, SEM, phân tích đa nhóm bằng phần mềm SPSS 22 và AMOS) cung cấp khung mẫu thực hành nghiên cứu thực nghiệm.
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước và các nhà hoạch định chính sách: Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Du lịch và Trung tâm Xúc tiến đầu tư tại các địa phương có thể sử dụng Bộ chỉ số đo lường tính hấp dẫn điểm đến (Chương 5) để rà soát, đo lường năng lực cạnh tranh thu hút đầu tư du lịch của địa phương mình, từ đó điều chỉnh các thủ tục hành chính, cải thiện chi phí thời gian và tính minh bạch.
- Đối với các nhà đầu tư và doanh nghiệp du lịch: Bảng tổng hợp các tiêu chí và mô hình đánh giá giúp các nhà đầu tư có thước đo tham chiếu khách quan về tiềm năng thị trường, cơ sở hạ tầng, lợi thế chi phí và môi trường thể chế giữa các địa phương trước khi ra quyết định giải ngân vốn.
Các phần nội dung đáng tham khảo nhất trong luận án gồm: Hệ thống bảng tổng hợp biến quan sát các nghiên cứu thực nghiệm quốc tế (Bảng 2.3 đến Bảng 2.7); Quy trình phân tích mô hình SEM đa nhóm kiểm định tính bất biến giữa nguồn vốn trong nước và ngoài nước (Chương 4); Khung chỉ số và phương pháp tính điểm hấp dẫn tổng thể cấp tỉnh (Chương 5).
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án giải quyết nghịch lý thực tiễn nào liên quan đến chỉ số PCI tại vùng Duyên hải Nam Trung Bộ?
Luận án chỉ ra rằng chỉ số PCI tổng thể của một tỉnh không đồng nhất tuyệt đối với kết quả thu hút vốn đầu tư du lịch thực tế. Cụ thể theo số liệu thống kê năm 2017: tỉnh Bình Định có điểm PCI đạt 64,08 (cao hơn Khánh Hòa và Bình Thuận) nhưng vốn đầu tư du lịch lũy kế chỉ đạt 671,8 triệu USD (thấp nhất vùng); trong khi Phú Yên có điểm PCI là 63,34 nhưng thu hút tới 4.566,8 triệu USD. Tương tự, Đà Nẵng có chỉ số PCI cao trong nhóm đầu (63,16 điểm với 526 dự án, 4.449,6 triệu USD) nhưng lượng vốn lũy kế lại thấp hơn Quảng Nam. Thực tế này khẳng định sự cần thiết phải nghiên cứu một hệ thống các nhân tố chuyên biệt cho ngành du lịch thay vì chỉ dựa vào chỉ số PCI chung.
2. Luận án đã bổ sung những biến đo lường mới nào cho nhân tố "Môi trường đầu tư"?
Dựa trên các chỉ số thành phần của PCI, tác giả bổ sung và định lượng hóa 4 biến đo lường mới mà các nghiên cứu trước đây về du lịch bỏ sót hoặc chỉ dừng ở mức định tính: (1) Chính quyền, tòa án địa phương giải quyết tranh chấp và xử lý khiếu nại nhanh chóng và công bằng; (2) Chính quyền địa phương năng động và linh hoạt trong các hoạt động pháp lý, thủ tục hành chính nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhanh nhất có thể; (3) Chi phí thời gian để thực hiện các quy định nhà nước ngắn ngày (thủ tục hành chính, thanh kiểm tra); (4) Chi phí gia nhập thị trường thấp (thời gian hoàn thành thủ tục, xin cấp phép).
3. Thành phần tài nguyên du lịch được hoàn thiện như thế nào so với các nghiên cứu trước đây?
Các công trình trước đây đa phần chỉ tiếp cận tài nguyên du lịch ở góc độ tự nhiên (vị trí, bờ biển, cảnh quan rừng). Luận án bổ sung cấu phần tài nguyên du lịch văn hóa dựa trên định nghĩa của Luật Du lịch 2017 và đặc thù văn hóa 4 dân tộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, bổ sung 2 biến đo lường cụ thể được kiểm định định lượng: (1) Địa phương có khí hậu mát mẻ, thích hợp cho phát triển du lịch; (2) Địa phương có nhiều hoạt động giải trí dựa trên các tài nguyên du lịch văn hóa thu hút khách.
4. Luận án loại trừ những nguồn vốn đầu tư nào trong phạm vi nghiên cứu và lý do tại sao?
Luận án loại trừ nguồn vốn viện trợ ODA, các khoản vay nợ và kiều hối vì các nguồn vốn này rất ít đầu tư trực tiếp vào cơ sở lưu trú du lịch, chủ yếu mang tính chất hỗ trợ hoặc ngoại giao chính trị nên không phản ánh tính khách quan của thị trường. Nguồn vốn ngân sách nhà nước cũng bị loại trừ vì đa phần tập trung vào hạ tầng công cộng và dịch vụ hỗ trợ chung, tính hiệu quả và khách quan trong thu hút đầu tư du lịch kinh doanh không rõ ràng. Do đó, luận án chỉ tập trung vào nguồn vốn FDI và vốn tư nhân trong nước đầu tư vào cơ sở từ 3 sao trở lên.
5. Kỹ thuật phân tích cấu trúc đa nhóm SEM trong Chương 4 kiểm định sự khác biệt giữa các nhóm đối tượng nào?
Kỹ thuật phân tích cấu trúc đa nhóm SEM được tác giả sử dụng để so sánh mô hình khả biến và mô hình bất biến từng phần nhằm kiểm định sự khác biệt trên hai tiêu chí: (1) Theo danh mục đầu tư: giữa nhóm dự án Khách sạn (KS) và nhóm dự án Khu du lịch (KDL); (2) Theo nguồn gốc dòng vốn: giữa nhóm Nhà đầu tư trong nước và nhóm Nhà đầu tư ngoài nước.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Thanh Phong đã hoàn thiện khung phân tích về tính hấp dẫn của điểm đến trong thu hút vốn đầu tư du lịch bằng cách tích hợp Lý thuyết động cơ đầu tư và Lý thuyết hành vi dự định. Nghiên cứu xác định và lượng hóa mối quan hệ giữa 5 nhóm nhân tố độc lập (Tài nguyên du lịch, Thị trường tiềm năng, Cơ sở hạ tầng du lịch, Môi trường đầu tư, Lợi thế chi phí) với Tính hấp dẫn điểm đến, cũng như tác động của Tính hấp dẫn điểm đến tới Ý định đầu tư của doanh nghiệp tại 8 tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ. Kết quả nghiên cứu bổ sung các biến đo lường mới về tài nguyên văn hóa và môi trường đầu tư theo chuẩn PCI, đồng thời cung cấp phương pháp xây dựng bộ chỉ số đánh giá điểm đến cấp tỉnh phục vụ công tác quản lý nhà nước và định hướng đầu tư thực tiễn.