CHƯƠNG 1 Thông qua, bức tranh tổng thể về các nghiên cứu khác nhau trong nước cũng như ngoài nước có liên quan trực tiếp cũng như gián tiếp đến những nội dung của luận văn mà tác giả thực hiện.Từ đó giúp tác giả nhận thấy khoảng trống cần nghiên cứu và làm nền tảng thực hiện các bước tiếp theo của luận văn. Việc tổng hợp và đánh giá các công trình nghiên cứu được tác giả trình bày theo hai phần lần lượt trong nước và ngoài nước trên cơ sở chọn lọc các công trình tiêu biểu đã công bố có liên quan đến nội dung của luận văn. Qua những nội dung đã trình bày trong chương này cho thấy nâng cao công tác lập báo cáo dự toán ngân sách tại các doanh nghiệp nhà nướclà vấn đề mới và cần thiết cho hướng nghiên cứu của luận văn. Chương 2 sẽ tiếp tục trình bày về cơ sở lý thuyết của nghiên cứu này.
11 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2. Tổng quan doanh nghiệp nhà nước 2.1 Khái niệm doanh nghiệp nhà nước Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn (Wikipedia, 2016). So với Doanh nghiệp tư nhân, Doanh nghiệp Nhà nước thường được cho là kém hiệu quả hơn, lợi nhuận thấp hơn. Tuy nhiên, trong khi các công ty tư nhân chỉ phải tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông, Doanh nghiệp Nhà nước thường phải gồng gánh một số trách nhiệm xã hội, hoạt động vì lợi ích của người dân, được thành lập để đối phó với những thất bại của thị trường.
Điều đó dẫn đến việc các Doanh nghiệp Nhà nước không hướng đến và cũng không cần cố gắng tối đa hóa lợi nhuận như các công ty tư nhân (Wikipedia, 2016). Theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước của Quốc hội nước Việt Nam: Công ty nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, thành lập, tổ chức quản lý, đăng ký hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp Nhà nước. Công ty nhà nước được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước độc lập, tổng công ty nhà nước. Công ty cổ phần nhà nước là công ty cổ phần mà toàn bộ cổ đông là các công ty nhà nước hoặc tổ chức được Nhà nước uỷ quyền góp vốn, được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp.
Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên là công ty trách nhiệm hữu hạn do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, được tổ chức quản lý và đăng ký hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp. Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước có hai thành viên trở lên là công ty trách nhiệm hữu hạn trong đó tất cả các thành viên đều là công ty nhà nước hoặc có thành viên là công ty nhà nước và thành viên khác là tổ chức được Nhà nước uỷ quyền góp vốn, được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp. 12 Doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước là doanh nghiệp mà cổ phần hoặc vốn góp của Nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ, Nhà nước giữ quyền chi phối đối với doanh nghiệp đó. Doanh nghiệp có một phần vốn của Nhà nước là doanh nghiệp mà phần vốn góp của Nhà nước trong vốn điều lệ chiếm từ 50% trở xuống.
Công ty nhà nước giữ quyền chi phối doanh nghiệp khác là công ty sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chiếm trên 50% vốn điều lệ của doanh nghiệp khác, giữ quyền chi phối đối với doanh nghiệp đó. Công ty nhà nước độc lập là công ty nhà nước không thuộc cơ cấu tổ chức của tổng công ty nhà nước.2 Vai trò, vị trí của doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam Vai trò và vị trí của doanh nghiệp nhà nước ( DNNN) ở nước ta, trước hết, được xác định và định hướng bởi chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển kinh tế nhà nước ( KTNN) và sắp xếp, đổi mới, phát triển DNNN. KTNN giữ vai trò chủ đạo là chủ trương nhất quán của Đảng tại các kỳ đại hội. trong khoảng 10 năm trở lại đây, vai trò và vị trí của DNNN chủ yếu vẫn theo định hướng của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa IX ban hành năm 2001 là “ DNNN giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế, làm công cụ vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết kinh tế, làm lực lượng nòng cốt, góp phần chủ yếu để kinh tế nhà nước thực hiện vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, là chủ lực trong hội nhập kinh tế quốc tế”.
Vị trí của DNNN theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa IX được xác định là “ tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt và địa bàn quan trọng, chiếm thị phần đủ lớn đối với các sản phẩm và dịch vụ chủ yếu không nhất thiết phải giữ tỷ trọng lớn trong tất cả các ngành, lĩnh vực sản phẩm của nền kinh tế” Đại hội X có sự điều chỉnh nhất định về vị trí của DNNN, đó là “ xóa bỏ độc quyền và đặc quyền sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước” và “ tập trung chủ yếu vào một số lĩnh vực kết cấu hạ tầng, sản xuất tư liệu sản xuất và dịch vụ quan trọng của nền kinh tế vào một số lĩnh vực công ích” Đại hội IX chỉ khẳng định vai trò chủ đạo của KTNN mà không khẳng định rõ ràng, trực tiếp và cụ 13 thể về vai trò, vị trí của DNNN nắm giữ trong nền kinh tế như Hội nghị Trung ương 3 khóa IX và các văn kiện trước đây. Trên thực tế, khu vực DNNN đang được sắp xếp, đổi mới theo hướng thu hẹp dần, giảm bớt ở nhiều vị trí không cần đến sự hiện diện DNNN kể cả về diện hoạt động ( tức phạm vi ngành, lĩnh vực có DNNN) và mật độ hiện diện của DNNN ( tức số lượng DNNN cùng kinh doanh trong ngành, lĩnh vực). Cụ thể như sau: Số ngành, lĩnh vực Nhà nước giữ 100% vốn đã giảm từ 43 ngành, lĩnh vực (năm 2002, theo Quyết định 58/2002/QĐ-TTg) xuống 20 ngành, lĩnh vực ( Năm 2011, theo Quyết định 14/2011/QĐ-TTg). Số doanh nghiệp 100% vốn nhà nước từ 12.300 doanh nghiệp ( 1992) giảm xuống 56.55 doanh nghiệp ( 2001) và 1309 doanh nghiệp vào cuối năm 2011.
Số lượng doanh nghiệp nhà nước trong nhiều ngành, lĩnh vực đã giảm đi rất nhiều so với trước đây. Tuy nhiên vai trò và vị trí do doanh nghiệp nhà nước hiện đang nắm giữ chưa tạo môi trường và điều kiện để các chủ thể tham gia thị trường đều được cạnh tranh bình đẳng, phát huy mạnh mẽ và có hiệu quả mọi nguồn lực. Một mặt, DNNN 100% vốn nhà nước trên thực tế vẫn đang nắm giữ nhiều vị trí quan trọng mà việc DNNN đảm trách các vị trí này điều ảnh hưởng trong nhiều ngành, lĩnh vực và cả nền kinh tế. Trong số 1309 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước có 452 doanh nghiệp (34,5%) thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh và tham gia hoạt động công ích.
Số 857 doanh nghiệp còn lại ( 65,5%) là hoạt động kinh doanh, trong đó có một số giữ vị trí quan trọng trong lĩnh vực hạ tầng. Đây là những vị trí định hướng cần tập trung DNNN để phát triển. Một số DNNN kinh doanh khác được giữ vị trí quan trọng trong SX công nghiệp, giao thông vận tải, nông lâm nghiệp, thương mại dịch vụ. Những vị trí này cũng chủ yếu do các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước nắm giữ.
Cũng do nắm giữ vị trí chi phối nên DNNN giữ vị thế độc quyền như truyền tải điện, đường sắt, cấp thoát nước. 14 Mặt khác DNNN được sử dụng để điều tiết vĩ mô, bình ổn thị trường, bình ổn nền kinh tế. DNNN gần đây thể hiện vai trò này như sử dụng nguồn vốn nhà nước hoặc nguồn vốn tự huy động để tăng đầu tư, chống suy giảm kinh tế, để thực hiện chính sách kiềm chế lạm phát không tăng giá bán sản phẩm dịch vụ ( điện, than, xăng, dầu, sắt thép…) theo yêu cầu của nhà nước.2 Tổng quan về dự toán ngân sách 2.1 Khái niệm dự toán ngân sách Hiện nay, có rất nhiều những khái niệm về dự toán (Budget): Dự toán ngân sách (Budget) là một kế hoạch cho các hoạt động trong tương lai của doanh nghiệp, thường thể hiện dưới dạng những dữ liệu tài chính. Dự toán ngân sách là một bản kế hoạch thể hiện dưới hình thức tiền tệ được chuẩn bị trước cho thời gian sắp tới, thường là một năm.
Quá trình hoạch định và kiểm soát bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau: Xác định mục tiêu của doanh nghiệp, nhận diện các chiến lược. đánh giá và lựa chọn chiến lược, thực thi chiến lược, quan sát kết quả và điều chỉnh hoạt động hướng về mục tiêu ban đầu. Trong quá trình thực thi chiến lược, nhà quản trị phải cụ thể hóa các mục tiêu cho từng giai đoạn cụ thể thành những chỉ tiêu có thể đo lường được. Công cụ lượng hóa các mục tiêu quản trị cho từng giai đoạn thực hiện chiến lược được gọi là dự toán ngân sách.
Theo khái niệm này, dự toán có 3 loại: Dự toán vốn, dự toán linh hoạt và dự toán chủ đạo. Dự toán là những tính toán, dự kiến, phối hợp một cách chi tiết, tỉ mỉ và toàn diện nguồn lực, cách thức huy động và sử dụng nguồn lực để thực hiện một khối lượng công việc nhất định trong một khoảng thời gian nhất định được biểu hiện bằng một hệ thống các chỉ tiêu về số lượng và giá trị. Theo khái niệm này, dự toán bao gồm các thành phần chủ yếu là sự tính toán, dự kiến; sự phối hợp chi tiết và toàn diện, các nguồn lực, thời gian thực hiện; hệ thống các chỉ tiêu về lượng và giá trị. Như vậy, dự toán ngân sách là một kế hoạch toàn diện và phối hợp của các hoạt động và các nguồn lực của một doanh nghiệp trong tương lai.
Dự toán cụ thể 15 hóa các mục tiêu mà các tổ chức cần phải đạt được thành những chỉ tiêu có thể đo lường được đồng thời chỉ rõ cách thức huy động và sử dụng các nguồn lực để thực hiện các mục tiêu đó. Dự toán được xác định bằng một hệ thống các chỉ tiêu về số lượng và giá trị cho một khoảng thời gian xác định trong tương lai. Dự toán là cơ sở, là trung tâm của kế hoạch và dự báo chính là tiền đề cho việc dự toán.