Chương 1 là tiền đề để tác giả có cơ sở hoạch định các bước cần thực hiện để hoàn thiện luận văn và lấp đầy 1 phần khoảng trống tri thức. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở lý thuyết nghiên cứu Theo McMahon (1995) cho rằng hiệu quả hoạt động như là một chỉ số được tính toán dựa trên các số liệu kế toán. Nó đánh giá hiệu quả quá trình tạo ra các giá trị tối đa cho các cổ đông.
Theo định nghĩa của Nguyễn Khắc Minh (2004, trang 255) cho rằng "Hiệu quả- efficiency" trong kinh tế được định nghĩa là "mối tương quan giữa đầu vào các yếu tố khan hiếm với đầu ra hàng hóa và dịch vụ" và “khái niệm hiệu quả được dùng để xem xét các tài nguyên được các thị trường phân phối tốt như thế nào”. Hay hiệu quả hoạt động được hiểu là khả năng biến đổi các đầu vào có tính chất khan hiếm thành khả năng sinh lời hoặc giảm thiểu chi phí so với các đối thủ cạnh tranh (Daft, 2008). Rose (2004), về mặt lý thuyết, giá trị thị trường (hay thị giá) của cổ phiếu là chỉ số tốt nhất phản ánh tình hình hoạt động kinh doanh của công ty bởi vì nó thể hiện sự đánh giá của thị trường đối với công ty đó. Tuy nhiên chỉ số này thường không đáng tin cậy trong lĩnh vực ngân hàng.
Lý do ở đây là hầu hết cổ phiếu ngân hàng, đặc biệt là cổ phiếu của các ngân hàng nhỏ không được giao dịch tích cực trên thị trường quốc tế cũng như thị trường trong nước. Thực tế này buộc các nhà phân tích tài chính phải sử dụng các tỷ lệ về khả năng sinh lời để thay thế cho chỉ số giá trị thị trường. Theo Bashir và Hassan (2005), ROA phụ thuộc vào các quyết định chính sách của ngân hàng cũng như các yếu tố không thể kiểm soát được liên quan đến nền kinh tế và các quy định của chính phủ. Nhiều cơ quan quản lý cũng như theo nghiên cứu Rivard và Thomas (1997) đã đề xuất rằng lợi nhuận trên tài sản là thước đo tốt nhất hiệu quả ngân hàng thông qua đo lường khả năng tạo ra lợi nhuận từ danh mục tài sản.
Theo các nghiên cứu về hiệu quả hoạt động ngân hàng của các nghiên cứu trước trong nước và trên thế giới thì dựa trên hai lý thuyết cơ bản là lý thuyết quyền lực 7 thị trường (MP – Market Power) và lý thuyết cấu trúc hiệu quả (ES – Efficient Structure). Lý thuyết quyền lực thị trường MP. MP có hai hướng tiếp cận chính: Lý thuyết về cấu trúc – hành vi – hiệu quả (SCP) và lý thuyết quyền lực tương đối (RMP). Lý thuyết SCP cho rằng cấu trúc thị trường quyết định đến hành vi của công ty và từ đó quyết định hiệu quả hoạt động, tiến bộ và tăng trưởng.
Dựa trên lý thuyết SCP thì thị trường ngành ngân hàng càng tập trung, càng độc quyền thì lãi suất cho vay càng cao, lãi suất huy động càng thấp, dẫn đến thiệt hại cho người vay, người gửi tiền và nền kinh tế. Theo lý thuyết SCP thì có thể chia làm 2 nhóm để đo lường hiệu quả hoạt động. Nhóm thứ nhất đo lường giá cả một số sản phẩm và dịch vụ ngân hàng cụ thể, điều này có thể làm sai lệch tính đa dạng sản phẩm của ngân hàng. Nhóm thứ hai, sử dụng thước đo hiệu quả hoạt động như tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE).
Biện pháp này có thể cung cấp nhiều thông tin hơn, nhưng cũng có thể giải thích khó khăn vì tính phức tạp của các thủ tục kế toán. Trong một số trường hợp, theo Berger (1995) thì lý thuyết quyền lực thị trường tương đối (RMP) cho rằng những công ty có thị phần lớn và sản phẩm khác biệt có thể sử dụng quyền lực thị trường, độc quyền để kiếm lợi nhuận không cạnh tranh. Đặc biệt với các ngân hàng lớn, ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước với lợi thế thương hiệu, chất lượng sản phẩm có thể tăng giá sản phẩm dịch vụ để thu lợi nhuận đáng kể. Lý thuyết ES Lý thuyết ES ngược lại với lý thuyết MP, lý thuyết ES cho rằng cấu trúc thị trường được xác định bởi hiệu suất của công ty, nghĩa là hiệu suất công ty tạo nên cấu trúc thị trường.
Lý thuyết ES cũng được đề xuất với hai hướng tiếp cận. Theo hướng tiếp cận hiệu quả X (X-Efficiency) thì những công ty đạt được hiệu quả cao hơn thường thì có lợi nhuận cao, thị phần lớn bởi vì họ có khả năng giảm thiểu chi phí sản xuất, chi phí quản lý. Hướng tiếp cận hiệu quả theo quy mô (Scale – Efficiency). Mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt động và quy mô được giải thích dựa 8 trên nguyên lý tính kinh tế theo quy mô.
Theo Olweny và Shipho (2011) cho rằng, ngân hàng càng lớn chi phí hoạt động càng thấp nhờ đó lợi nhuận thu được cao hơn. Ngoài hai lý thuyết MP và ES các nhà nghiên cứu còn dựa trên lý thuyết đầu tư cân bằng (Balanced Porfolio Theory) để nghiên cứu về hiệu quả hoạt động ngân hàng. Lý thuyết này còn được biết đến với cái tên là lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại, lý thuyết cho rằng nhà đầu tư có thể giảm thiểu rủi ro thị trường thông qua đa dạng hóa danh mục đầu tư để đạt được lợi nhuận kỳ vọng. Hiệu quả tổng thể của việc đa dạng hóa này có thể giảm thiểu biến động của lợi nhuận kỳ vọng.
Tóm lại, quan điểm về đánh giá hiệu quả hoạt động rất đa dạng, tùy theo mục đích nghiên cứu có thể xét hiệu quả theo những khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên, xuất phát từ những hạn chế về thời gian và nguồn số liệu, do vậy tác giả lựa chọn đo lường hiệu quả hoạt động của các NHTM theo phương pháp chỉ số tài chính, cụ thể gồm đo lường hiệu quả hoạt động các NHTM bằng tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE). Tổng quan các nghiên cứu trước 2. Các nghiên cứu ở nước ngoài Nghiên cứu của Sehrish Gul và cộng sự (2011) Tác giả sử dụng các chỉ số kinh tế vĩ mô và bộ dữ liệu của 15 ngân hàng lớn nhất, chiếm trên 80% tổng tài sản các ngân hàng tại Pakistan giai đoạn từ 2005- 2009 để đánh giá hiệu quả hoạt động các ngân hàng.
Bằng phương pháp OLS với các biến độc lập như quy mô, vốn vay, vốn chủ sở hữu, tiền gửi, tăng trưởng kinh tế, mức vốn hóa thị trường, lạm phát để đo lường tác động lên ROA, ROE, ROCE, NIM. Với mô hình nghiên cứu: Yi,t = β0 + β1SIZEi,t + β2i,tCAPi,t + β3LOANi,t + DEPOSITi,t + β5GDPi,t + β6INFi,t + β7MCi,t + εi,t Biến phụ thuộc: Πi,t = ROA, ROE, ROCE, NIM Biến độc lập: SIZEi,t (quy mô tài sản); CAPi,t (tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tổng tài sản); LOANi,t (tỷ lệ cho vay tổng tài sản), DEPOSITi,t (tỷ lệ huy động/tổng tài sản); 9 GDPi,t (GDP hàng năm); INFi,t (lạm phát hàng năm); MCi,t (mức vốn hóa thị trường). Kết quả nghiên cứu cho thấy các biến độc lập giải thích được 54% cho các biến phụ thuộc. Quy mô tài sản, tỷ lệ huy động trên tổng tài sản và cho vay trên tổng tài sản, tăng trưởng GDP tác động tích cực đến ROA.
Nhóm nghiên cứu cũng đưa ra kết luận khi ngân hàng kỳ vọng về mức lạm phát sẽ tăng trong tương lai, họ tin rằng họ có thể cho vay với lãi suất cao hơn mà vẫn không ảnh hưởng xấu đến hiệu quả hoạt động. Trong khi đó tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản và vốn hóa thị thị trường lại không ảnh hưởng đến hiệu quả ngân hàng. Nghiên cứu của Rami Zeitun (2012) Nghiên cứu phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Hồi giáo và NHTM tại các nước vùng Vịnh (GCC), trong giai đoạn 2002-2009. Bằng sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng với hai mẫu nghiên cứu, mẫu đầu tiên gồm 38 NHTM, mẫu thứ hai gồm 13 ngân hàng hồi giáo.
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng hai chỉ số đo lường hiệu quả hoạt động ngân hàng là lợi nhuận trên tài sản (ROA) và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE). Với mô hình nghiên cứu: Πi,t = β0+β1AGEi,t+ β2EQUITYi,t+ β3SIZEi,t+ β4RES-LOANi,t+ β5FIRAi,t+ β6COS-INCi,t+ β7FORi,t + β8GDPi,t+ β9INFi,t+µi,t Biến phụ thuộc: Πi,t= ROA, ROE Biến độc lập: AGEi,t (tuổi ngân hàng); EQUITYi,t (vốn chủ sở hữu); SIZEi,t (quy mô tài sản); RES-LOANi,t (dự trữ thanh khoản trên cho vay); FIRAi,t (tổng tài sản trên GDP); COS-INCit (chi phí trên thu nhập); FORit (sở hữu nước ngoài), GDPi,t (GDP hàng năm); INFi,t (lạm phát hàng năm). Kết quả cho thấy ROA trung bình các ngân hàng hồi giáo là 3. Mặt khác, giá trị trung bình của ROE đối với các ngân hàng hồi giáo là 16.16% trong khi các NHTM là 17.
Đồng thời, tỷ lệ dự trữ thanh khoản trên cho vay, chi phí trên thu nhập và sở hữu nước ngoài của các ngân hàng hồi giáo lớn hơn so với các NHTM. Kết quả cũng cho thấy rằng vốn chủ sở hữu của ngân 10 hàng là biến có tác động tích cực nhất đến tỷ suất sinh lời của các NHTM, trong khi mức tác động đến các ngân hàng hồi giáo là ít hơn, do có sự khác biệt về cấu trúc vốn của hai loại hình ngân hàng này. Ngoài ra, hiệu quả hoạt động theo quy mô có ý nghĩa đối với ROE trong ngân hàng hồi giáo, trong khi đó không có ý nghĩa đối với các NHTM. Cuối cùng, GDP có tương quan thuận đối với hiệu quả ngân hàng trong khi lạm phát, chi phí trên thu nhập, dự trữ thanh khoản trên cho vay có tương quan nghịch với ROA và ROE.
Sở hữu nước ngoài không tác động đáng kể, phát triển tài chính hầu như không có tác động, hơn nữa, tuổi ngân hàng cũng không ảnh hưởng đến hiệu quả ngân hàng. Thu thập dữ liệu là giới hạn chính của nghiên cứu do dữ liệu về ngân hàng ở Trung Đông không dễ tiếp cận, nhiều ngân hàng không được đưa vào mẫu số liệu vì thiếu dữ liệu trong nhiều năm. Nghiên cứu của Ongore và Kusa (2013) Bằng phương pháp sử dụng dữ liệu bảng, nhóm tác giả nghiên cứu các yếu tố tác động đến hiệu quả của 37 NHTM tại Kenya gồm 13 ngân hàng nước ngoài và 24 ngân hàng trong nước giai đoạn 2001-2010 với 370 quan sát.