chương 1, tác giả trình bày lý do chọn đề tài nghiên cứu, nêu các mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, xác định đối tượng, phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu cho đề tài. Ngoài ra, tác giả còn trình bày một số đóng góp và kết cấu của luận văn. Đây là những định hướng đầu tiên vô cùng quan trọng và cần thiết làm cơ sở để tác giả thực hiện các bước nghiên cứu tiếp theo. 11 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.
Cơ sở lý thuyết của nghiên cứu 2. Một số khái niệm liên quan đến nghiên cứu 2. Thuê ngoài Theo định nghĩa của tác giả Dong-Hoon Yang và cộng sự (2007), “thuê ngoài là doanh nghiệp thuê một nhà cung ứng dịch vụ ở bên ngoài để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc trong doanh nghiệp”. Theo Kremic và cộng sự (2006), thuê ngoài đem lại một số lợi ích cho doanh nghiệp như: cắt giảm chi phí, gia tăng chất lượng, tiếp cận được công nghệ mới hiệu quả hơn.
Bên cạnh đó, theo Gilley và cộng sự (2000) thuê ngoài còn giúp cho doanh nghiệp tập trung vào hoạt động cốt lõi của mình và tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Milena và cộng sự (2011), một số rủi ro khi sử dụng dịch vụ thuê ngoài bao gồm: thiếu khả năng kiểm soát và quản lý, sự không chắc chắn về kết quả của các thỏa thuận thuê ngoài. dịch vụ thuê ngoài tốn kém, rủi ro bảo mật thông tin, dữ liệu và thiếu động lực làm việc của bên công ty cung cấp dịch vụ thuê ngoài.2 Khái niệm, đặc tính của dịch vụ Theo nghiên cứu của Gronroos (1990): Dịch vụ được định nghĩa là một hoạt động hoặc chuỗi các hoạt động ít nhiều có tính chất vô hình trong đó diễn ra sự tương tác giữa khách hàng và các nhân viên tiếp xúc với khách hàng, các nguồn lực vật chất, hàng hóa hay hệ thống cung cấp dịch vụ, nơi giải quyết những vấn đề của khách hàng. Theo nghiên cứu của Zeithaml và Bitner (2000): Dịch vụ là những hành vi, quá trình và cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng, làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng.
12 Tóm lại, dịch vụ là một quá trình diễn ra sự tương tác giữa các nhà cung cấp và khách hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng theo cách mà khách hàng mong đợi cũng như việc tạo ra giá trị cho khách hàng.3 Dịch vụ kế toán - Các khái niệm liên quan đến dịch vụ kế toán: + Theo Luật kế toán năm 2015 được Quốc hội thông qua ngày 20/11/2015 và có hiệu lực thi hành từ 01/01/2017: “Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động. Hành nghề kế toán là hoạt động cung cấp dịch vụ kế toán của doanh nghiệp hoặc cá nhân có đủ tiêu chuẩn, điều kiện thực hiện dịch vụ kế toán”. + Theo Khoản 13, Điều 3, Luật kế toán 2015 được Quốc hội thông qua ngày 20/11/2015 và có hiệu lực thi hành từ 01/01/2017: “Kinh doanh dịch vụ kế toán là việc cung cấp dịch vụ làm kế toán, làm kế toán trưởng, lập báo cáo tài chính, tư vấn kế toán và các công việc khác thuộc nội dung công tác kế toán theo quy định của Luật này cho các cá nhân, tổ chức có nhu cầu”. + Theo tác giả Maelah và cộng sự (2010), “thuê ngoài dịch vụ kế toán là việc chuyển giao một phần hay toàn bộ các công việc của kế toán cho bên cung cấp dịch vụ để cắt giảm chi phí, tiếp cận các kỹ năng chuyên môn hoặc đạt được lợi thế cạnh tranh”.
- Nhiệm vụ kế toán: Theo Điều 3, Luật kế toán 2015 được Quốc hội thông qua ngày 20/11/2015 và có hiệu lực thi hành từ 01/01/2017 thì nhiệm vụ kế toán là: Thu thập, xử lý thông tin và số liệu kế toán theo đối tượng, nội dung công việc kế toán, theo chuẩn mực, chế độ kế toán. Kiểm tra và giám sát các khoản thu chi tài chính, các nghĩa vụ thu nộp và thanh toán nợ. Kiểm tra việc quản lý cũng như sử dụng tài sản và nguồn hình thành tài sản để từ đó phát hiện, ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về tài chính và kế toán. Phân tích thông tin cũng như số liệu kế toán, tham mưu đề xuất các giải pháp phục vụ yêu cầu quản trị, đưa ra những quyết 13 định kinh tế và tài chính của đơn vị kế toán.
Cung cấp thông tin và số liệu kế toán theo quy định của pháp luật. - Yêu cầu kế toán: Theo Luật kế toán 2015 được Quốc hội thông qua ngày 20/11/2015 và có hiệu lực thi hành từ 01/01/2017 thì yêu cầu kế toán: Phản ánh đầy đủ nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh vào chứng từ kế toán, sổ sách kế toán và báo cáo tài chính. Phản ánh kịp thời và đúng thời gian quy định thông tin và số liệu kế toán. Phản ánh rõ ràng, dễ hiểu, chính xác thông tin và số liệu kế toán.
Phản ánh trung thực hiện trạng cũng như bản chất sự việc và nội dung, giá trị của nghiệp vụ kinh tế tài chính. Thông tin và số liệu kế toán phải được phản ảnh liên tục, từ khi phát hiện đến khi kết thúc hoạt động kinh tế tài chính, từ khi thành lập đến khi chấm dứt hoạt động của đơn vị kế toán, số liệu kế toán phản ánh kỳ này phải kế tiếp theo số liệu kế toán của kỳ trước. Phân loại và sắp xếp thông tin số liệu kế toán theo trình tự có hệ thống, có thể so sánh được. - Các sản phẩm của dịch vụ kế toán: Theo Điều 55, Luật kế toán 2015 được Quốc hội thông qua ngày 20/11/2015 và có hiệu lực thi hành từ 01/01/2017 quy định tổ chức và cá nhân có đăng ký kinh doanh dịch vụ kế toán được thực hiện các dịch vụ kế toán sau: Làm kế toán; làm kế toán trưởng; thiết lập cụ thể hệ thống kế toán cho đơn vị kế toán; cung cấp và tư vấn áp dụng công nghệ thông tin về kế toán; bồi dưỡng nghiệp vụ kế toán.
cập nhật kiến thức kế toán; tư vấn tài chính; kê khai thuế và các dịch vụ khác về kế toán theo quy định của pháp luật. - Điều kiện hành nghề dịch vụ kế toán: Điều kiện hành nghề kế toán theo hướng dẫn tại Thông tư 297/2016/TT-BTC ngày 15/11/2016 của Bộ Tài chính và các quy định liên quan khác. + Điều kiện hành nghề kế toán đối với cá nhân kinh doanh dịch vụ kế toán: Có lý lịch rõ ràng, có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, trung thực, liêm khiết, không thuộc đối tượng không được làm kế toán theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Luật Kế toán. Có văn phòng và địa chỉ giao dịch.
Có chứng chỉ hành nghề kế toán hoặc chứng chỉ kiểm toán viên do Bộ Tài chính cấp. Có đăng ký kinh doanh 14 dịch vụ kế toán. Người đăng ký hành nghề kế toán từ lần thứ hai trở đi phải có thêm điều kiện tham dự đầy đủ chương trình cập nhật kiến thức hàng năm. + Điều kiện hành nghề kế toán đối với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán: Có đăng ký kinh doanh dịch vụ kế toán.
Có ít nhất 2 người có Chứng chỉ hành nghề kế toán hoặc Chứng chỉ kiểm toán viên do Bộ Tài chính cấp, trong đó Giám đốc doanh nghiệp phải là người có Chứng chỉ hành nghề kế toán hoặc Chứng chỉ kiểm toán viên từ 2 năm trở lên. Người đăng ký hành nghề kế toán từ lần thứ 2 trở đi phải có thêm điều kiện tham dự đầy đủ chương trình cập nhật kiến thức hàng năm.4 Doanh nghiệp nhỏ và vừa Trên thế giới có nhiều cách thức để xác định DNNVV, nhưng trong phạm vi luận văn này tác giả xác định DNNVV theo tiêu chí của Việt Nam. Tiêu chí để xác định được tác giả trình bày nội dung theo Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa số 04/2017/QH14 và nghị định số 39/2018/NĐ-CP. Theo đó, “Doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ.
doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí sau đây: Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng; Tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng.” Các doanh nghiệp nhỏ và vừa được phân theo quy mô bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. + Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng. Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại. dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng.
15 + Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp. lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này. Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ. + Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp nhỏ.
doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này. Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ. doanh nghiệp nhỏ”.