Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị. 3 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Giới thiệu Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết bao gồm các lý thuyết liên quan đến khung nghiên cứu hành vi tiêu dùng. Bên cạnh đó, chương này trình bày và đánh giá tổng quan các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài để xác định khoảng trống lý thuyết cho nghiên cứu của đề tài. Trên cơ sở đó, nhóm tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu cùng với các giả thuyết nghiên cứu của đề tài.1 Tổng quan cơ sở lý thuyết 2.1 Thẻ tín dụng Thuật ngữ thẻ tín dụng xuất hiện lần đầu tiên trong chương trình tín dụng “Charge It” do John Biggins khởi xướng vào năm 1946 tại Hoa Kỳ (Khare và cộng sự, 2012).
Khi tham gia chương trình này, khách hàng (người mua) ủy thác cho ngân hàng thay mặt họ thực hiện thanh toán cho người bán và có trách nhiệm hoàn trả lại cho ngân hàng số tiền này vào cuối mỗi tháng. Trong quá trình tồn tại và phát triển, thẻ tín dụng được người tiêu dùng đánh giá cao bởi khả năng đáp ứng và thời gian trả nợ. Kết quả là, thẻ tín dụng trở nên phổ biến trên toàn thế giới với sự hiện diện của các thương hiệu thẻ tín dụng quốc tế như American Express, Diners Club, JCB, Visa, MasterCard và CUP. Giống như thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng có khả năng đáp ứng nhu cầu thanh toán một cách tiện lợi và an toàn cho các giao dịch mua sắm hằng ngày của người tiêu dùng, bao gồm những giao dịch bất thường hoặc không thể thực hiện bằng tiền mặt hoặc séc (Amin, 2013).
Sự khác biệt cơ bản giữa thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng thể hiện ở tính chất thanh toán: số dư khả dụng của tài khoản thẻ ghi nợ và hạn mức khả dụng của tài khoản thẻ tín dụng (Khare và cộng sự, 2012). Người tiêu dùng cần nộp tiền mặt hoặc chuyển khoản vào tài khoản thẻ ghi nợ để có số dư khả dụng và chỉ có thể giao dịch trong giới hạn của số dư đó mà thôi. Trong khi đó, khách hàng có thể sử dụng thẻ tín dụng để thanh toán hóa đơn hàng 4 hóa, dịch vụ trên cơ sở nguồn tín dụng do ngân hàng cung cấp. Ngân hàng không yêu cầu người sử dụng hoàn trả ngay số tiền đó mà cho phép họ kéo dài thời gian thanh toán cho đến cuối tháng (Mitchel và Mickel, 1999).
Thậm chí, ngân hàng cũng không bắt buộc chủ thẻ tín dụng thanh toán toàn bộ số nợ hiện hành mà cho phép họ trả góp một cách linh hoạt cả về thời gian lẫn số tiền phải trả (Cheu và Loke, 2010). Với thẻ tín dụng, ngân hàng cấp cho khách hàng một hạn mức tín dụng phù hợp với năng lực tài chính, đặc điểm nhân thân và lịch sử tín dụng. Ngân hàng đảm bảo cho khách hàng quyền được sử dụng một lượng tiền trong hạn mức tín dụng thay vì bắt buộc họ phải giải ngân ngay lập tức khoản vay được phê duyệt như đối với các hình thức vay tiêu dùng thông thường khác. Việc giải ngân đối với thẻ tín dụng được ngân hàng thực hiện mỗi khi nó được sử dụng để thanh toán hóa đơn hoặc ứng tiền mặt.
Khi đó, số tiền giải ngân được ngân hàng ghi vào bên nợ của tài khoản tín dụng và trở thành một khoản vay mà chủ thẻ có trách nhiệm thanh toán cho ngân hàng khi đến hạn. Chủ thẻ tín dụng lựa chọn thanh toán một lần toàn bộ số nợ phát sinh hoặc thanh toán một phần, phần còn lại sẽ được trả dần trong tương lai. Thị trường thẻ tín dụng Việt Nam hiện nay đang hoạt động theo Thông tư số 26/2016/TT-NHNN. Theo đó, thẻ tín dụng là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được cấp theo thỏa thuận với tổ chức phát hành thẻ.
Việc cấp tín dụng qua thẻ tín dụng phải tuân thủ các quy định trong Luật các tổ chức tín dụng do Quốc Hội ban hành ngày 16/10/2010. Chủ thẻ tín dụng có thể sử dụng thẻ để rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động (Automated teller machine – ATM), thanh toán hóa đơn tại các thiết bị thanh toán thẻ (Point of sale – POS) hoặc trên các cổng thanh toán trực tuyến. Khi sử dụng thẻ tín dụng, chủ thẻ phải thanh toán đầy đủ, đúng hạn cho tổ chức phát hành thẻ các khoản tiền vay và lãi phát sinh từ việc sử dụng thẻ theo hợp đồng đã ký. Tóm lại, thẻ tín dụng là sản phẩm tài chính, được sử dụng trên các thiết bị điện tử với hai chức năng cơ bản là thanh toán và vay tiêu dùng.
Khách hàng có khả năng mua trước, trả tiền sau; ngân hàng sẽ thay mặt họ thanh toán cho người bán, đến lượt mình, họ có trách nhiệm hoàn trả lại số tiền này đầy đủ và đúng hạn. Trong thương mại hiện đại, với sự trợ giúp của công nghệ thông tin và truyền thông, thẻ tín dụng ngày càng trở nên quan 5 trọng và phổ biến trong đời sống hằng ngày của người tiêu dùng tại nhiều quốc gia trên thế giới.1 Hành vi tiêu dùng và ý định sử dụng Hành vi của người tiêu dùng là sự tương tác linh hoạt giữa các yếu tố bên ngoài, các yếu tố bên trong và hành vi của mỗi cá nhân khi ban hành quyết định tiêu dùng (Engel và cộng sự, 1978). Quá trình này bao gồm tìm kiếm, lựa chọn, mua, sử dụng, phân tích kết quả đạt được, sau đó đánh giá xem có sử dụng nữa hay không (Belch và Belch, 1998). Ý định tiếp tục sử dụng có thể được định nghĩa là ý định tiếp tục mua sản phẩm hoặc dịch vụ sau khi người tiêu dùng đã mua sản phẩm hoặc dịch vụ một lần.
Ngoài ra, ý định tiếp tục sử dụng gắn liền với quyết định cá nhân mua nhiều lần các sản phẩm và dịch vụ từ cùng một doanh nghiệp bằng cách xem xét tình hình hiện tại của họ (Liu và cộng sự, 2023). Theo Bhattacherjee (2001), quyết định sử dụng lại hệ thống thông tin giống như quyết định mua lại sản phẩm, dịch vụ của người tiêu dùng vì quyết định tiếp tục sử dụng bị ảnh hưởng bởi lần đầu tiên người dùng sử dụng hệ thống thông tin. Tóm lại, nghiên cứu ý định tiếp tục sử dụng thuộc lĩnh vực nghiên cứu hành vi cá nhân. Người tiêu dùng có ý định tiếp tục sử dụng một sản phẩm, dịch vụ tức là họ sẵn sàng sử dụng lần nữa sau khi đã sử dụng trước đó.
Trong phạm vi của nghiên cứu này, ý định tiếp tục sử dụng thẻ tín dụng của người tiêu dùng là dấu hiệu về sự sẵn sàng tiếp tục sử dụng thẻ tín dụng trong tương lai.2 Mô hình kích thích chủ thể phản hồi Việc người tiêu dùng chấp nhận hoặc từ chối một hành vi không mang tính chất ngẫu nhiên, mà là kết quả của cả một quá trình từ tác động của môi trường đến ảnh hưởng của các đánh giá chủ quan của người đó. Mehrabian và Russell (1974) đã khái quát hóa quá trình này với Mô hình kích thích chủ thể phản hồi (SOR) trong nghiên cứu về tâm lý học môi trường. Theo đó, khi một người tiếp xúc với sự kích thích từ bên ngoài (S), anh ta hình thái các trạng thái bên trong (O), bao gồm cả nhận thức và tình cảm, nhằm thúc đẩy/ức chế hành vi tiếp cận/né tránh của bản thân (Hình 2. 6 Nhiều bằng chứng cho thấy mô hình SOR là sự lựa chọn hợp lý trong các nghiên cứu về hành vi cá nhân đối với các dịch vụ tài chính điện tử.
Trên cơ sở áp dụng mô hình SOR, Li và Yuan (2018) xác định sự ảnh hưởng của các nhân tố liên quan tới người bán hay nhà cung cấp dịch vụ đối với rủi ro cảm nhận và ý định mua chung trực tuyến. Nghiên cứu của Prashar và cộng sự (2017) chỉ ra mối quan hệ ý nghĩa giữa giá trị cảm nhận, đặc trưng web, sự hài lòng và ý định mua sắm trực tuyến tại Ấn Độ. Wu và Li (2018) đã cho thấy mối liên hệ giữa sáu thành phần marketing hỗn hợp, giá trị cảm nhận và lòng trung thành của người tiêu dùng Đài Loan trong thương mại xã hội. Kim và Lennon (2013) đã kết hợp mô hình SOR với mô hình sự thành công của hệ thống thông tin DeLone và McLean (2003) để xác định tác động của của chất lượng trang web cảm nhận về sự thích thú cá nhân và dòng chảy, tiếp theo là ý định mua hàng.
Lai và cộng sự (2020) kết hợp mô hình SOR với mô hình chấp nhận công nghệ (Davis và cộng sự, 1989) để chỉ ra sự liên hệ giữa đặc điểm cá nhân, đặc tính của hệ thống với sự hữu dụng, tính dễ sử dụng, và ý định thanh toán điện tử của người dân Đông Nam Á. Sự kết hợp này cũng được áp dụng trong nghiên cứu của Hossain và Zhou (2018), kết quả phân tích cho thấy đặc trưng của hệ thống thanh toán di động được xem là yếu tố kích thích đối với sự hài lòng và ý định sử dụng thông qua cảm nhận về tiến trình thực hiện giao dịch. Mô hình kích thích chủ thể phản hồi (SOR) Nguồn: Mehrabian và Russell (1974) Tóm lại, mô hình SOR được xây dựng trên vai trò tiền tố và hậu tố của trạng thái nhận thức. Sự kết hợp SOR đã được áp dụng và tỏ ra hiệu quả trong việc giải thích hành vi con người trong lĩnh vực khác nhau trong môi trường điện tử.
Mô hình này thích hợp trong nghiên cứu hành vi của cá nhân đối với thẻ tín dụng, một loại sản phẩm công nghệ với hai chức năng cơ bản là vay tiêu dùng và thanh toán điện tử (Laudon và Traver, 2021).3 Lý thuyết rủi ro cảm nhận Thuyết rủi ro cảm nhận TPR (Theory of perceived risk) được Bauer giới thiệu năm 1960 với định nghĩa rủi ro cảm nhận trong hành vi người tiêu dùng là mức độ đánh giá của họ về sự không chắc chắn cũng như không thuận lợi so với kỳ vọng. Sau đó, nhiều học giả đã tiếp tục làm rõ khái niệm này trong các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau. Peter và Ryan (1976) định nghĩa rủi ro cảm nhận là tổn thất dự kiến mang tính chất chủ quan. Trong khi Stone và Grønhaug (1993), Dowling và Staelin (1994) cho rằng rủi ro cảm nhận đơn giản là tổn thất dự kiến kết hợp với hành vi mua hàng của người tiêu dùng và là nhân tố quan trọng tác động tới sự thay đổi hành vi mua hàng.