chương 1 cũng đưa ra cơ sở lý luận xác định các yếu tố tác động về môi trường bên trong và môi trường bên ngoài ảnh hưởng đến phát triển thị phần 14 CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG THỊ PHẦN THẺ TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM (EXIMBANK) 2.1 TÌNH HÌNH PHÁT HÀNH VÀ THANH TOÁN THẺ TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY Nếu như cuối năm 2007, thị trường thẻ Việt Nam mới có 30 Ngân hàng tham gia thị trường thẻ, thì trong năm 2008 đã có thêm 10 ngân hàng gia nhập thị trường này, đưa tổng số ngân hàng tham gia hoạt động phát hành và thanh toán thẻ lên 40 ngân hàng, bao gồm 4 Ngân hàng Nhà nước, 27 Ngân hàng thương mại (NHTM) cổ phần, 8 Ngân hàng liên doanh và chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam và một tổ chức phi ngân hàng (Công ty Tiết kiệm Bưu điện) với trên 142 thương hiệu thẻ khác nhau bao gồm thẻ ghi nợ nội địa, thẻ ghi nợ quốc tế, thẻ tín dụng nội địa, thẻ tín dụng quốc tế và thẻ trả trước. Việc nhiều ngân hàng, trong đó có các NHTM cổ phần nhỏ, tham gia thị trường thẻ trong năm 2008 thể hiện dịch vụ thẻ ngày càng giữ một vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển của các ngân hàng, đặc biệt là trong bối cảnh khủng hoảng tài chính như hiện nay khi việc phát triển các sản phẩm truyền thống gặp rất nhiều khó khăn. Sự tham gia đông đảo của các ngân hàng trên thị trường thẻ đã làm cho sự cạnh tranh giữa các ngân hàng càng trở nên gay gắt hơn. Để tồn tại, phát triển và chiếm lĩnh được thị trường, các Ngân hàng buộc phải đưa ra thị trường các sản phẩm thẻ mới, khác biệt với nhiều tính năng mới.
Nhờ đó năm qua thị trường thẻ Việt Nam đã chứng kiến sự gia tăng đáng kể của các sản phẩm thẻ với các thương hiệu khác nhau, nhằm phù hợp nhu cầu đa dạng của khách hàng và phù hợp với xu thế mở rộng của thị trường 15 Nếu như năm 1996, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) là ngân hàng phát hành thí điểm thẻ ngân hàng đầu tiên, tiếp đến là các ngân hàng TMCP Á Châu, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu (Eximbank) và First Vinabank. Cho đến 31/12/2008, cả nước có trên 40 ngân hàng phát hành thẻ thanh toán, với khoảng 15 triệu thẻ. Hầu hết ngân hàng đã trang bị máy ATM với khoảng 7.480 máy, số thiết bị chấp nhận thẻ lên đến 26.1 Hoạt động phát hành thẻ Năm 2008, các tổ chức phát hành thẻ đã tập trung vào công tác quảng bá tiếp thị sản phẩm thẻ. Nhờ đó, cùng với việc nhu cầu sử dụng thẻ ngày càng tăng trong tầng lớp dân cư, số lượng thẻ phát hành trong năm tăng trưởng đột biến so với các năm trước.
Tính đến ngày 31/12/2008, tổng số thẻ phát hành đạt hơn 15 triệu thẻ các loại gồm thẻ nội địa và thẻ quốc tế, bằng 161% so với gần 10 triệu thẻ năm 2007, trong đó thẻ nội địa chiếm 93.2% và thẻ quốc tế chiếm 6.1 Phát hành thẻ nội địa Sản phẩm thẻ nội địa bao gồm thẻ tín dụng nội địa và thẻ ghi nợ nội địa, trong đó thẻ ghi nợ nội địa vẫn tiếp tục duy trì mức tăng trưởng cao. Tính đến cuối năm 2008, tổng số thẻ nội địa phát hành đạt hơn 13.622 thẻ, bằng 160% so với gần 9 triệu thẻ năm 2007. Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (VCB) tiếp tục dẫn đầu với gần 3,072 triệu thẻ, chiếm hơn 23 % thị phần, Ngân hàng Công thương Việt Nam (Vietinbank) đứng thứ hai với 2,787 triệu thẻ, chiếm 20% thị phần, Ngân hàng TMCP Đông Á (EAB) đứng vị trí thứ ba với hơn 2,438 triệu thẻ, chiếm 17,6% thị phần (2) Đạt được kết quả ấn tượng như trên ngoài sự nỗ lực của chính các ngân hàng trong việc tổ chức thực hiện tốt Chỉ thị 20/2007/CP-TTg của Thủ tướng Chính phủ về trả lương qua tài khoản cho các đối tượng hưởng lương ngân sách, còn do một nguyên nhân nữa là phương tiện thanh toán thẻ đang ngày càng khẳng định vai trò và sự cần thiết đối với đời sống của nhiều tầng lớp dân cư trong xã hội. 1 Xem phụ lục 2 (phần phụ lục) 2 Xem phụ lục 2 (phần phụ lục) 16 Riêng đối với hình thức thẻ tín dụng nội địa, tính đến nay, ở Việt Nam mới có 3 Ngân hàng tham gia phát hành là Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB), Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín và Ngân hàng TMCP Nam Việt (NaviBank), với tổng số lượng thẻ đạt gần 9.200 thẻ, chỉ chiếm 0,6% tổng số thẻ trên thị trường.1: TÌNH HÌNH PHÁT HÀNH THẺ NỘI ĐỊA CỦA VIỆT NAM NĂM 2008 KHÁC EXIMBANKBIDV 9% 1% 11% VIETINBANK AGRIBANK 20% 15% TCB 3% VCB EAB 23% 18% (Nguồn: Hội thẻ ngân hàng Việt Nam) 2.2 Phát hành thẻ quốc tế Hiện nay ở Việt Nam, trong tổng số 40 tổ chức tham gia thị trường thẻ, có 16 Ngân hàng phát hành thẻ quốc tế, bao gồm thẻ tín dụng quốc tế và thẻ ghi nợ quốc tế.
Hoạt động phát hành thẻ trong năm qua đạt mức tăng trưởng rất ấn tượng với tổng số thẻ đã phát hành tích lũy đạt 1.985 thẻ, tăng 74% so với 589. Trong đó, sản phẩm thẻ ghi nợ quốc tế chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số thẻ quốc tế phát hành vì đây là sản phẩm rất tiện ích, phù hợp với nhu cầu sử dụng của khách hàng, một mặt do thủ tục phát hành đơn giản, nhanh chóng hơn so với thẻ tín dụng, mặt khác, khách hàng có thể chi tiêu trong nước như thẻ ATM, lại vừa có thẻ chi tiêu tại nước ngoài như thẻ tín dụng quốc tế (3) 3 Xem phụ lục 2 (Phần phụ lục) 17 Trong số 16 tổ chức phát hành thẻ quốc tế, ACB tiếp tục dẫn đầu với số lượng thẻ quốc tế phát hành tích lũy hơn 300.000 thẻ, chiếm 33% thị phần. VCB đứng thứ hai với gần 294.000 thẻ, chiếm 31% thị phần, tiếp theo là Ngân hàng TMCP Kỹ thương (TCB) với gần 144.000 thẻ, chiếm 15% thị phần, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương tín (STB) hơn 90.000 thẻ (4) Đạt được kết quả khả quan trên là do trong năm 2008 đã có thêm 5 ngân hàng tham gia phát hành thẻ quốc tế, đưa tổng số ngân hàng tham gia phát hành thẻ quốc tế tại thị trường Việt Nam lên 16 Ngân hàng. Không những thế, các ngân hàng còn tập trung gia tăng tiện ích và tính năng mới cho các sản phẩm thẻ như chuyển khoản, thanh toán hóa đơn hàng hóa dịch vụ, mua hàng trực tuyến, thấu chi tài khoản, hưởng các ưu đãi về dịch vụ và giảm giá mua hàng tại các điểm chấp nhận thẻ, vấn tin tài khoản và in sao kê, nhận tiền kiều hối bảo hiểm tai nạn, giao dịch qua kênh ngân hàng điện tử và các dịch vụ khác.
Ngoài ra không thể không kể đến vai trò của Tổ chức thẻ quốc tế trong việc tổ chức các chương trình hỗ trợ và khuyến khích phát triển thị trường thẻ Việt Nam… BIỂU ĐỒ 2.2: TÌNH HÌNH PHÁT HÀNH THẺ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM NĂM 2008 STB KHÁC EXIMBANK 10% 2% VCB 5% 31% TCB 15% AGRIBANK VIB 2% 2% ACB 33% (Nguồn: Hội thẻ ngân hàng Việt Nam) 4 Xem phụ lục 2 (Phần phụ lục) 18 2.2 Doanh số sử dụng thẻ Cùng với sự gia tăng về số lượng thẻ phát hành, sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống ATM, việc mở rộng kết nối mạng lưới của các Ngân hàng thông qua các tổ chức chuyển mạch thẻ, cùng với chỉ đạo của Chính phủ và của Ngân hàng Nhà nước trong việc thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt, doanh số sử dụng thẻ của chủ thẻ nội địa đã tăng lên nhanh chóng so với năm 2007. Tính đến cuối năm 2008, doanh số sử dụng thẻ nội địa gần 250.000 tỷ đồng, bằng 200% so với 124. Tuy nhiên, trong đó doanh số rút tiền mặt vẫn chiếm tỷ trọng rất lớn, trong khi việc thanh toán bằng thẻ tại các POS và ATM vẫn còn hạn chế Trong số các ngân hàng, VCB đứng đầu về doanh số sử dụng thẻ cho tất cả các loại thẻ với 72.941 tỷ đồng trong năm 2008 (30,83%), thứ hai là EAB với 43.856 tỷ đồng (18,53%) và đứng thứ ba là Agribank với 38.215 tỷ đồng (16,15%) BIỂU ĐỒ 2.3 DOANH SỐ SỬ DỤNG THẺ NĂM 2008 (TỶ VNĐ) EXIMBANK 3,277 STB 4,848 ACB 5,232 Techcombank 6,091 BIDV 27,521 Vietinbank 31,620 AGRIBANK 38,215 EAB 43,856 VCB 72,941 0 20,000 40,000 60,000 80,000 (Nguồn: Hội thẻ ngân hàng Việt Nam) 19 2.3 Hoạt động thanh toán thẻ Năm 2008, doanh số thanh toán thẻ quốc tế của các Ngân hàng đạt gần 2.000 triệu USD, bằng 265% so với 755 triệu USD của năm 2007. Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu diễn ra rộng khắp thế giới, thì đây là một kết quả rất khả quan.
Đạt được kế quả trên trước hết là do trong năm qua, các ngân hàng đã chủ động tập trung đầu tư phát triển mạng lưới ĐVCNT rộng khắp, phục vụ nhu cầu sử dụng thẻ ngày càng gia tăng của khách hàng quốc tế cũng như khách hàng trong nước; Mặt khác, là nhờ lượng khách hàng quốc tế đến Việt Nam trong năm 2008 vẫn duy trì mức tăng trưởng cao so với năm 2007, cũng như lượng chủ thẻ Việt Nam ra nước ngoài công tác, học tập và du lịch tăng cao. Theo thống kê của Tổng cục du lịch Việt Nam, năm 2008 tổng lượng khách quốc tế vào Việt Nam đạt tới 4,3 triệu lượt khách, tăng 0,6% so với năm 2007. Trong số các ngân hàng, VCB tiếp tục thể hiện thế mạnh vượt trội trong lĩnh vực thanh toán thẻ quốc tế, với hơn 642.63 triệu USD trong năm 2008, chiếm 53,83% thị phấn, tiếp theo là Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) với 203,70 triệu USD, chiếm 17,06% thị phần. Ngân hàng United Overseas (UOB) đứng thứ ba với doanh số 102,40 triệu USD, chiếm 8,58% thị phần BIỂU ĐỒ 2.4: DOANH SỐ THANH TOÁN THẺ QUỐC TẾ NĂM 2008 (TRIỆU USD) 34.2 TÌNH HÌNH PHÁT HÀNH VÀ THANH TOÁN THẺ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1 Đôi nét về Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam (EXIMBANK) Eximbank được thành lập vào ngày 24/05/1989 theo quyết định số 140/CT của Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng với tên gọi đầu tiên là Ngân hàng Xuất Nhập Khẩu Việt Nam (Vietnam Export Import Bank), là một trong những Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên của Việt Nam.
Ngân hàng đã chính thức đi vào hoạt động ngày 17/01/1990.