CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ TÀI CHÍNH VÀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TÀI CHÍNH TRONG CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ I. TỔNG QUAN VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ 1. Khái niệm và các hình thức chủ yếu của tập đoàn kinh tế 1. Khái niệm về tập đoàn kinh tế Hiện nay chưa có khái niệm thống nhất về tập đoàn kinh tế.
Tuỳ theo mục đích nghiên cứu và cách tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu đã đưa ra những khái niệm khác nhau về tập đoàn kinh tế. Mỗi quan niệm đều phản ánh cách nhìn nhận và tiếp cận khác nhau của các nhà nghiên cứu về đặc điểm của tập đoàn. Trong quá trình nghiên cứu luận văn này, tác giả xin phép được đưa ra một khái niệm về tập đoàn kinh tế, khái niệm này phản ánh đầy đủ đặc điểm chung nhất về một tập đoàn kinh tế như sau: “Tập đoàn kinh tế là tổ chức kinh tế có quy mô lớn, có cơ cấu sở hữu, tổ chức và kinh doanh đa dạng, nó vừa có chức năng sản xuất kinh doanh vừa có chức năng liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp thành viên có tư cách pháp nhân dựa trên nền tảng sự liên kết về mặt tài chính, lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và chiến lược kinh doanh nhằm tăng cường, tích tụ, tập trung, tăng khả năng cạnh tranh và tối đa hoá lợi nhuận”. Các hình thức chủ yếu của tập đoàn kinh tế 1.
Căn cứ vào các hình thức liên kết và hình thức tổ chức của tập đoàn Có ba hình thức chủ yếu sau: - Hình thức thứ nhất: Quan hệ liên kết giữa các thành viên tương đối lỏng lẻo thông qua các thoả thuận hoặc các cam kết hợp tác. - Hình thức thứ hai: Mối liên kết giữa các doanh nghiệp thành viên rất chặt chẽ, mức độ phụ thuộc lẫn nhau rất cao, các đơn vị thành viên bị hạn chế tính độc lập. - Hình thức thứ ba: Tập đoàn có hạt nhân liên kết là công ty tài chính. Nguy n Quang Hòa 14 Khóa 2011B Lu n văn cao h c QTKD Đ i h c Bách khoa Hà N i 1.
Căn cứ vào hình thức biểu hiện và tên gọi trong thực tiễn Khi nói đến “Tập đoàn kinh tế” người ta thường sử dụng các từ: “Consortium”, “Conglomerate”, “Cartel”, “Trust”, “Alliance”, “Syndicate” hay “Group”. Có bảy hình thức tập đoàn kinh tế chủ yếu sau: Một là: Cacten - Cartel Là loại hình tập đoàn kinh tế bao gồm các doanh nghiệp thành viên hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực, thậm chí có cùng sản phẩm giống nhau. Mối liên kết giữa các doanh nghiệp thành viên chỉ thuần tuý là sự cam kết đối với một số điều khoản nhất định nhằm tránh cạnh tranh trực tiếp với nhau, các doanh nghiệp thành viên vẫn giữ nguyên tư cách pháp nhân và tính độc lập của chúng. Hai là: Nghiệp đoàn - Syndicate Đây là một dạng đặc biệt của Cartel.
Các doanh nghiệp thành viên của Syndicate vẫn giữ nguyên tính độc lập về sản xuất nhưng mất tính độc lập về thương mại vì trong Syndicate có một văn phòng thương mại được thành lập do một ban quản trị chung điều hành và tất cả các doanh nghiệp thành viên phải tiêu thụ hàng hoá của họ qua kênh của văn phòng này. Ba là: Xí nghiệp liên hợp - Trust Là một trong những hình thức liên minh độc quyền của các tổ chức sản xuất kinh doanh. Loại hình tập đoàn này tập hợp trong nó một loạt doanh nghiệp công nghiệp và do một ban quản trị thống nhất điều khiển, vì vậy các doanh nghiệp này bị mất quyền độc lập về sản xuất và thương mại, các nhà tư bản tham gia Trust trở thành cổ đông. Mục tiêu của việc thành lập các tập đoàn loại này nhằm thu lợi nhuận độc quyền cao, chiếm nguồn nguyên liệu và khu vực đầu tư.
Bốn là: Tập đoàn - Consortium Đây là một trong những hình thức của các tổ chức độc quyền ngân hàng nhằm mục đích chia nhau mua trái khoán trong và ngoài nước hoặc tiến hành công việc buôn bán. Năm là: Hãng buôn - Concern Nó không có tư cách pháp nhân, các doanh nghiệp thành viên vẫn giữ nguyên tính độc lập về mặt pháp lý nhưng giữa chúng có mối quan hệ với nhau dựa Nguy n Quang Hòa 15 Khóa 2011B Lu n văn cao h c QTKD Đ i h c Bách khoa Hà N i trên cơ sở những thoả thuận về lợi ích chung đó là phát minh sáng chế, nghiên cứu khoa học công nghệ, hợp tác sản xuất kinh doanh chặt chẽ, có hệ thống tài chính chung. Sáu là: Đại xí nghiệp liên hiệp - Conglomerate Đây là một tập đoàn đa ngành, đa lĩnh vực, các doanh nghiệp thành viên ít có mối quan hệ công nghệ sản xuất gần gũi, thậm chí không có mối quan hệ nào về mặt công nghệ sản xuất, chủ yếu ở đây là mối quan hệ về mặt hành chính và tài chính. Bảy là: Các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia Đó là sản phẩm của sự liên minh giữa các nhà tư bản có thế lực nhất, có quy mô mang tầm cỡ quốc tế, có hệ thống chi nhánh dày đặc ở nước ngoài hoạt động với mục đích nâng cao tỷ suất lợi nhuận thông qua việc bành trướng quốc tế.
Đặc điểm của tập đoàn kinh tế 2. Về quy mô Tập đoàn kinh tế có quy mô rất lớn về vốn, lao động, doanh thu và thị trường. Nhiều tập đoàn có chi nhánh văn phòng đại diện ở khắp các quốc gia trên thế giới, phạm vi hoạt động của tập đoàn không chỉ tính phạm vi lãnh thổ một quốc gia mà ở nhiều nước hoặc phạm vi toàn cầu. Về cơ cấu tổ chức Đa số các tập đoàn kinh tế là sự kết hợp của nhiều đơn vị thành viên.
Các doanh nghiệp thành viên chịu sự chi phối của công ty mẹ, thông qua việc công ty mẹ nắm cổ phần chi phối các doanh nghiệp thành viên về mặt tài chính và chiến l- ược phát triển, công nghệ, thị trường. Về lĩnh vực kinh doanh Đa số các tập đoàn kinh tế đều hoạt động kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực hoặc phát triển từ đơn ngành lên đa ngành, chiến lược sản phẩm và hướng đầu tư luôn thay đổi phù hợp với sự phát triển của tập đoàn và môi trường kinh doanh nh- ưng mỗi ngành đều có định hướng chủ đạo, lĩnh vực đầu tư mũi nhọn với những sản phẩm đặc trưng của tập đoàn. Bên cạnh những đơn vị sản xuất hoặc thương mại, các tập đoàn doanh nghiệp mở rộng các hoạt động sang lĩnh vực khác như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, nghiên cứu khoa học. Nguy n Quang Hòa 16 Khóa 2011B Lu n văn cao h c QTKD Đ i h c Bách khoa Hà N i 2.
Về tư cách pháp nhân Các tập đoàn kinh tế có tính đa dạng về tư cách pháp nhân. Tập đoàn kinh tế có thể là pháp nhân kinh tế do Nhà nước thành lập gồm nhiều doanh nghiệp thành viên có quan hệ với nhau về sản xuất, kinh doanh, tài chính trên quy mô lớn. Bên cạnh đó, có những tập đoàn không phải là một pháp nhân kinh tế mà mỗi đơn vị thành viên là các pháp nhân độc lập. Như vậy, tuỳ theo cách thức thành lập mà tập đoàn có thể có tư cách pháp nhân hoặc không.
Về quản lý và điều hành Về mặt quản lý điều hành, Tập đoàn tiến hành hoạt động và quản lý tập trung vào một số mặt như: Điều hoà, huy động vốn, quản lý vốn, xây dựng chiến lược phát triển, chiến lược thị trường, chiến lược sản phẩm, chiến lược đầu tư, đào tạo nhân sự… cho tập đoàn. Các chiến lược này được soạn thảo từ cơ quan đầu não của tập đoàn và thực hiện thống nhất trong các công ty thành viên. Việc thực hiện chiến lược chung tổng quát vừa tạo ra sự năng động, linh hoạt của các công ty thành viên trong việc lựa chọn chiến lược phát triển riêng cho mình và tự chủ trong sản xuất kinh doanh vừa tạo ra sức mạnh tập trung. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ TÀI CHÍNH 1.
Khái niệm về dịch vụ tài chính Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), “Dịch vụ tài chính là bất kỳ dịch vụ nào có tính chất tài chính, được một nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung cấp. Dịch vụ tài chính bao gồm mọi dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan tới bảo hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác” (Nguồn: Wikipedia). Theo Phụ lục về dịch vụ tài chính của Hiệp định về Thương mại dịch vụ (GATS) của WTO, người cung cấp dịch vụ tài chính là pháp nhân hoặc thể nhân của một thành viên muốn cung cấp hoặc đang cung cấp những dịch vụ tài chính nhưng thuật ngữ ’’người cung cấp dịch vụ tài chính’’ không bao gồm pháp nhân công cộng là: (i) chính phủ, ngân hàng trung ương hoặc một tổ chức tài chính của một thành viên, hoặc một thực thể do một Thành viên sở hữu hoặc kiểm soát, chủ yếu tiến hành chức năng chính phủ hoặc các hoạt động vì mục đích của chính phủ, không bao gồm pháp nhân chủ yếu cung cấp những dịch vụ tài chính trên cơ sở những điều kiện Nguy n Quang Hòa 17 Khóa 2011B Lu n văn cao h c QTKD Đ i h c Bách khoa Hà N i thương mại; hoặc (ii) một pháp nhân tư nhân, thực hiện các chức năng mà thông thường vẫn do một Ngân hàng trung ương hoặc tổ chức tiền tệ, khi thực hiện các chức năng này. Trong nền kinh tế thị trường, các nguồn tài chính vận động từ những người cung cấp tài chính đến những người có nhu cầu tài chính bằng con đường trực tiếp, hoặc con đường gián tiếp qua các trung gian tài chính hoặc trung gian môi giới.
Đặc điểm của dịch vụ tài chính Nhìn chung, dịch vụ tài chính có những đặc điểm sau: - Tính vô hình: Là đặc điểm chính để phân biệt sản phẩm dịch vụ tài chính với các sản phẩm của các ngành sản xuất vật chất khác trong nền kinh tế quốc dân. Sản phẩm dịch vụ tài chính thường được thực hiện theo một quy trình, khách hàng sử dụng dịch vụ tài chính thường gặp khó khăn trong việc ra quyết định lựa chọn, sử dụng sản phẩm do chất lượng sản phẩm chỉ có thể được đánh giá trong và sau khi sử dụng, thậm chí việc đánh giá chất lượng sản phẩm dịch vụ tài chính trở nên khó khăn ngay cả khi khách hàng đang sử dụng chúng. Từ đặc tính vô hình của sản phẩm nên trong kinh doanh phải dựa vào lòng tin.