CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI QUYẾT ĐỊNH GIAO DỊCH BẰNG THẺ TÍN DỤNG CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Thẻ tín dụng cá nhân 1.1 Khái niệm thẻ tín dụng cá nhân Trên thế giới hình thành nhiều khái niệm căn bản về thẻ TD. Trong cuốn “Economics: Principles in action” (O’Sullivian, 2003) có định nghĩa về thẻ TD như sau: “Thẻ TD là một thẻ thanh toán được phát hành cho người dùng (chủ thẻ) để cho phép chủ thẻ chi trả cho người bán các hàng hóa và dịch vụ dựa trên khoản nợ tích lũy của chủ thẻ (nghĩa là chủ thẻ cam kết thanh toán cho tổ chức phát hành thẻ số tiền giao dịch cộng thêm các khoản thuế phí khác). Tại Việt Nam, theo quy định tại Khoản 3, Điều 3 Thông tư 19/2016/TT-NHNN có định nghĩa: “Thẻ tín dụng (credit card) là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được cấp theo thỏa thuận với tổ chức phát hành thẻ.” Như vậy, thẻ TD là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt trong đó chủ thẻ được cấp một hạn mức tuần hoàn cho phép họ chi tiêu trước, trả tiền sau với hạn mức được ngân hàng phát hành quy định. Khi chủ thẻ thanh toán toàn bộ số dư nợ vào ngày đến hạn thanh toán, chủ thẻ được miễn lãi với số dư nợ cuối kỳ.
Tuy nhiên, nếu khách hàng không thanh toán đúng hạn hoặc chỉ thanh toán một phần số tiền đã chi tiêu thì sẽ phải chi trả phí chậm thanh toán cho ngân hàng. Hạn mức TD của chủ thẻ chỉ được khôi phục khi toàn bộ số tiền phát sinh được thanh toán hết cho ngân hàng. Đây là đặc điểm “ tuần hoàn” của thẻ TD.2 Sự hình thành và phát triển của thẻ tín dụng cá nhân Năm 1949, ông Frank McNamara sau một lần dùng bữa tại nhà hàng nhưng gặp vấn đề về việc thanh toán, đã cùng với đối tác đã lập ra Công ty Diners Club, phát hành loại thẻ chuyên dùng để thanh toán tại các nhà hàng - tiền thân của thẻ TD hiện nay. Hai năm sau, vào năm 1951, Ngân hàng quốc gia Franklin và New York đã phát hành thẻ TD đầu tiên mang tới đến khách hàng.
Với loại hình thức thẻ này khách 10 hàng có thể vay tiền qua ngân hàng để chi tiêu trước và trả tiền sau. Chỉ vỏn vẹn trong năm đầu có mặt trên thị trường, hàng chục nhà hàng ở New York đã chấp nhận loại thẻ này, số người dùng thẻ cũng lên đến con số hàng chục nghìn. Dần dần, ngoài tiền thân ban đầu là phục vụ cho dịch vụ ăn uống, thẻ đã được dùng cho cả các ngành giải trí, du lịch khác. Sau vài năm kể từ khi thẻ xuất hiện, các tổ chức lớn đã nhận thức được sự phát triển của loại hình thanh toán thông minh này, gần 100 ngân hàng khắp nước Mỹ đã phát hành thẻ TD.
Tuy nhiên các chương trình thẻ TD mới chỉ cho phép khách hành thanh toán tại một số cửa hàng nhất định. Để mua sắm, du lịch, ẩm thực tại các địa điểm và nhà hàng cửa hàng khác nhau, khách hàng phải mang theo nhiều thẻ rất bất tiện. Năm 1958, ngân hàng Bank of America thành lập Công ty dịch vụ BankAmericard, nhằm kinh doanh nhượng quyền thương hiệu và phát hành thẻ với các ngân hàng thẻ trên thế giới. Công ty này nhanh chóng phát triển và trở thành nhà phát hành thẻ TD độc lập VISA vào những năm 1970 và phát hành thẻ ghi nợ (debit) vào năm 1975.
Năm 1966, tiền thân của MasterCard ra đời. Khi đó, Hiệp hội thẻ Liên ngân hàng Mỹ (ICA) là một nhóm ngân hàng phát hành thẻ. Họ chung nhiệm vụ thiết kế hệ thống thẻ TD quốc gia, phát triển một hệ thống mạng lưới thanh toán được chấp nhận rộng rãi.3 Phân loại thẻ tín dụng cá nhân - Theo phạm vi sử dụng thẻ Thẻ TD nội địa: Là thẻ được phát hành và giới hạn thanh toán giao dịch trong phạm vi ở trong nước Thẻ TD quốc tế: Là loại thẻ khách hàng được thực hiện giao dịch ở tất cả các quốc gia trên thế giới. - Theo chủ thể phát hành thẻ Thẻ do ngân hàng phát hành: Là loại thẻ phổ biến nhất, do Ngân hàng đứng ra 11 phát hành Thẻ do tổ chức phi ngân hàng phát hành: Là loại thẻ được các tổ chức phi ngân hàng tham gia phát hành với các thương hiệu nổi tiếng như: Amex, Diners Club,.
Thẻ liên kết: Là loại sản phẩm được tạo ra bởi sự kết hợp giữa tổ chức tài chính và bên thứ ba phát hành. - Theo hạng thẻ Hiện nay, thẻ TD được chia thành ba hạng chính với những đặc quyền nhất định bao gồm: Thẻ hạng chuẩn (Classic), Thẻ hạng vàng (Gold), Thẻ bạch kim (Platinum). Với mỗi dòng thẻ, có những đặc tính dành cho từng phân khúc khách hàng về quyền lợi, hay những đặc quyền…. Thẻ Hạng Chuẩn: Là loại thẻ mà người dùng phổ thông có thể đăng ký mở thẻ dễ dàng.
Thẻ TD Hạng chuẩn hướng tới nhóm khách hàng có thu nhập trung bình và chi tiêu không thường xuyên, khách hàng được sở hữu những tính năng cơ bản của một chiếc thẻ TD đồng thời đi kèm là những ưu đãi, tiện ích riêng theo thiết kế của ngân hàng phát hành thẻ. Thẻ Hạng Vàng: Là loại thẻ với những tính năng giống như thẻ hạng chuẩn, tuy nhiên về hạn mức TD của thẻ vàng cao hơn, đồng thời đi kèm những ưu đãi vượt trội khác. Đối tượng phân khúc khách hàng của Hạng vàng thường là đối tượng khách hàng có thu nhập và chi tiêu qua thẻ cao hơn so với thẻ hạng chuẩn. Thẻ Hạng Platinum: Là loại thẻ TD có hạn mức TD cao nhất, vượt trội so với thẻ hạng chuẩn và hạng vàng.
Thẻ hạng Platinum thuộc dòng thẻ TD cao cấp, đi kèm là những ưu đãi hấp dẫn và đẳng cấp về các dịch vụ như hàng không, du lịch, mua sắm,. - Theo công nghệ sản xuất Thẻ từ: Là loại thẻ chiếm phần lớn trong tổng số lượng thẻ đang được sử dụng trên thị trường hiện nay, sử dụng một dải băng từ dựa trên kỹ thuật thư tín để lưu trữ các thông tin về chủ thẻ và các thông tin quan trọng khác. Tuy nhiên, thẻ từ vẫn tồn tại những nhược điểm rõ ràng như: không có tính năng tự mã hóa, giới hạn dung 12 lượng dữ liệu, không đảm bảo tính bảo mật thông tin tốt. Thẻ thông minh (Thẻ chip): Là dòng thẻ tiên tiến nhất, sử dụng công nghệ thông tin, và được trang bị một thiết bị chip điện tử tích hợp trên thẻ.
Điều này cho phép lưu trữ thông tin khách hàng một cách an toàn, đảm bảo tính bảo mật cao hơn. Tuy nhiên chi phí sản xuất và phát hành thẻ thông minh thường khá đắt đỏ.4 Lợi ích của thẻ tín dụng cá nhân 1.1 Đối với chủ thẻ Thứ nhất, việc sử dụng thẻ TD mang lại sự tiện lợi và an toàn cho khách hàng. Với việc sử dụng thẻ TD, chủ thẻ không cần mang theo nhiều tiền mặt bên người, hạn chế rủi ro bị mất cắp, dễ dàng mang theo bên người để thanh toán hàng hóa, dịch vụ với mạng lưới rộng rãi. Nhờ đặc tính chi tiêu trước, trả tiền sau, khách hàng được cấp một hạn mức TD tuần hoàn và có thể thoải mái chi tiêu trong hạn mức này cho các mục đích dịch vụ như đặt vé máy bay, thanh toán tiền hàng,.
đều trở nên dễ dàng với những tiện ích từ thẻ TD. Thứ hai, sử dụng thẻ TD mang lại sự tiết kiệm và hiệu quả cho khách hàng. Nhiều khách hàng ngần ngại cho rằng sử dụng các loại thẻ TD tốn kém các loại phí thường niên. Tuy nhiên, nếu so với những lợi ích được hưởng như các chương trình liên kết giảm giá, khuyến mại hay những chương trình trả góp với mức lãi suất hấp dẫn thì việc bỏ ra các khoản phí là rất đáng.
Bên cạnh đó, khách hàng có thể quản lý tài chính cá nhân tốt hơn nhờ việc sử dụng thẻ TD thông qua bảng sao kê chi tiêu hàng tháng từ ngân hàng.2 Đối với ngân hàng Thứ nhất, thẻ TD giúp các ngân hàng gia tăng khoản thu nhập từ phí và lãi từ thẻ TD như phí phát hành thẻ, phí đổi ngoại tệ, phí thường niên, lãi chậm trả,.Đây được coi là những khoản thu nhập ổn định, được dự định sẽ tiếp tục trở thành miếng mồi béo bở cho các ngân hàng với tốc độ tăng nhanh chóng của việc sử dụng thẻ TD hiện nay. Thứ hai, thẻ TD là sản phẩm giúp đa dạng hóa các dịch vụ của ngân hàng, hướng 13 tới các nhu cầu của khách hàng. Sản phẩm thẻ TD không chỉ giúp ngân hàng tiếp cận thu hút thêm các khách hàng mới, giữ chân các khách hàng hiện tại, mà còn mở rộng hoạt động hướng tới trở thành thành viên của các tổ chức thẻ quốc tế. Điều này góp phần thúc đẩy ngân hàng tham gia các hoạt động kinh doanh, tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế.3 Đối với nền kinh tế Thứ nhất, các giao dịch thanh toán được thực hiện qua thẻ TD từ đó làm giảm lượng tiền mặt trong lưu thông, giảm chi phí vận chuyển, phát hành, hạn chế những phát sinh giao dịch kinh tế ngầm, đồng thời hạn chế được nạn tiền giả.
Thứ hai, việc sử dụng thẻ TD được thực hiện dưới sự kiểm soát của ngân hàng từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm soát khối lượng tiền giao dịch thanh toán của dân cư và của cả nền kinh tế, qua đó giúp nhà nước quản lý tốt hơn nền kinh tế thị trường. Thứ ba, sản phẩm thẻ TD tạo điều kiện giúp việc hội nhập của các ngân hàng với các tổ chức thẻ quốc tế. Qua đó, tạo môi trường hội nhập văn minh, giúp các ngân hàng tiếp thu học hỏi từ các đối tác thẻ uy tín trên thế giới hướng tới phát triển thẻ TD an toàn, hiệu quả, chính xác, nhanh chóng, xây dựng lòng tin của khách hàng đối với hệ thống ngân hàng.2 Quyết định giao dịch thẻ “Quyết định giao dịch” là hành vi nghiên cứu các trạng thái phức tạp của người tiêu dùng bao gồm nghiên cứu về thái độ, hành động, phản ứng sau khi đưa ra quyết định giao dịch. Quyết định giao dịch là hành vi mà người tiêu dùng đối mặt với chi phí cơ hội, trao đổi thứ có giá trị này với một thứ lợi ích có được khi sử dụng sản phẩm đó (Philip Koler, 2005).
Việc nghiên cứu hành vi người tiêu dùng giúp cho người quản lý doanh nghiệp có thể xác định khẩu vị, nhu cầu của khách hàng từ đó có chiến lược kinh doanh phù hợp.