Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro trong hoạt động tín dụng của NHTM 1. Rủi ro trong hoạt động tín dụng của NHTM 1. Khái niệm NHTM là loại hình doanh nghiệp đặc biệt.
Vì vậy, trong hoạt động kinh doanh, NHTM cũng chịu ảnh hưởng của rất nhiều loại rủi ro phức tạp. “Rủi ro” đã được nhiều nhà kinh tế học định nghĩa theo nhiều cách thức khác nhau. Frank Knight một học giả người Mỹ định nghĩa “Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được”. Allan Willett cho rằng “rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến một biến cố không mong đợi”.
Inrving Perfer lại cho rằng “rủi ro là tổng hợp của những sự ngẫu nhiên có thể đo lường bằng xác suất”. Theo từ điển tài chính của P.H Collin, rủi ro có thể được định nghĩa là khả năng gánh chịu một thiệt hại của chủ thể. Theo Bernard Manso, “Rủi ro là tác động của những biến cố xảy ra trong tương lai lên giá trị ròng của một chủ thể kinh tế hay một danh mục tài sản mà khả năng xảy ra biến cố đó có thể dự đoán trước nhưng không thể dự đoán chính xác biến cố xảy ra như thế nào. Rủi ro được đo lường bằng độ lệch chuẩn giữa lợi nhuận thực tế của chủ thể và mức lợi nhuận dự kiến.
Mức biến động lợi nhuận càng lớn nghĩa là sự không chắc chắn càng nhiều thì nguy cơ rủi ro cao. Như vậy, có thể tóm lược lại rằng: Rủi ro trong hoạt động NHTM là khả năng xảy ra tổn thất ngoài dự kiến, làm giảm thu nhập hoặc giá trị vốn chủ sở hữu của ngân hàng. Hoạt động ngân hàng luôn tiềm ẩn những yếu tố rủi ro, đặc biệt và thường xuyên là rủi ro tín dụng. Có rất nhiều khái niệm khác nhau về rủi ro tín dụng như sau: Trong tài liệu “Công nghệ ngân hàng dành cho các nước đang phát triển”, rủi ro tín dụng được định nghĩa là thiệt hại kinh tế của ngân hàng do một khách hàng hoặc một nhóm khách hàng không hoàn trả được nợ vay ngân hàng.Koch, thì rủi ro tín dụng là khi ngân hàng nắm giữ tài sản sinh lợi, rủi ro xảy ra khi khách hàng sai hẹn - có nghĩa là khách hàng không thanh toán vốn gốc và lãi theo thỏa thuận.
Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu 5 nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn. Còn theo tài liệu “Financial Institutions Management - A modern perspective”, A.Lange định nghĩa rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản vay của ngân hàng không thể được thực hiện đầy đủ về cả số lượng và thời hạn. (29) Theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Thống đốc NHNN Việt Nam tại khoản 1, Điều 3 thì “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Trong khuôn khổ đề tài có thể định nghĩa: RRTD là sự tổn thất mà ngân hàng phải chịu phát sinh khi khách hàng, người sử dụng tín dụng không hoàn thành nghĩa vụ đã trả nợ đã cam kết trong hợp đồng tín dụng.
Phân loại rủi ro tín dụng + Căn cứ vào tính chất của rủi ro, RRTD chia thành RR giao dịch và RR danh mục Rủi ro giao dịch: là RRTD phát sinh là từ những hạn chế trong công tác xét duyệt cho vay; thực hiện giao dịch với khách hàng vay vốn. RR giao dịch gồm: Rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ. Rủi ro danh mục: là một trong những hình thức của RRTD. Loại rủi ro này xuất phát từ hạn chế trong công tác quản lý các lĩnh vực cấp tín dụng của ngân hàng.
Rủi do danh mục bao gồm 02 loại đó là: rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. + Căn cứ theo mức độ tổn thất, RRTD chia làm hai nhóm : Rủi ro đọng vốn: là rủi ro xảy ra trong trường hợp đến thời hạn mà khách hàng chưa hoàn trả vốn vay, dẫn đến các koản vốn bị chiếm dụng và ảnh hưởng đến NH trên hai phương diện: tác động đến hoạt động sử dụng vốn của NH; gặp khó khăn cho việc thanh toán của KH. 6 Rủi ro mất vốn : là rủi ro khi người vay không trả được nợ theo hợp đồng, bao gồm vốn gốc hoặc lãi vay, NH thu hồi vốn thông qua giá trị thanh lý tài sản đảm bảo của KH. RR mất vốn sẽ làm phát sinh thêm chi phí quản lý; chi phí giám sát do phải trích lập thêm các khoản dự phòng, từ đó làm giảm lợi nhuận của ngân hàng.
+ Căn cứ vào giai đoạn phát sinh rủi ro, RRTD chia làm ba nhóm: Rủi ro trước khi cho vay : Rủi ro xảy ra khi NH phân tích đánh giá sai về KH dẫn đến cho vay các KH không đủ điều kiện đảm bảo khả năng trả nợ trong tương lai. Rủi ro trong khi cho vay : Rủi ro này xảy ra trong quy trình cấp tín dụng. Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro này bao gồm : giải ngân không đúng tiến độ; không cập nhật thông tin KH thường xuyên và không dự báo được rủi ro tiềm năng. Rủi ro sau khi cho vay : Rủi ro này xảy ra khi mà cán bộ tín dụng không nắm được tình hình sử dụng vốn tín dụng, tiềm lực tài chính tương lai của KH.
Đặc điểm RRTD - RRTD mang tính tất yếu Trong hoạt động tín dụng, rủi ro là không thể tránh khỏi, chấp nhận RR là điều mà các NHTM luôn nhận thức được. Do đó, các NHTM cần xem xét, tính toán mức lợi nhuận thu về để tương xứng với mức rủi ro có thể xảy ra. Các ngân hàng sẽ hoạt động tốt và hiệu quả nếu mức rủi ro luôn được kiểm soát ở mức hợp lý và nằm trong phạm vi nguồn lực tài chính của ngân hàng. - RRTD mang tính gián tiếp Rủi ro tín dụng thường phát sinh khi ngân hàng đã hoàn thành xong việc cung cấp tín dụng đến khách hàng.
Do khách hàng thường không trung thực trong việc gửi báo cáo về tình hình hoạt động đến ngân hàng nên ngân hàng thường ở thế bị động, ngân hàng thường không biết chính xác về những khó khăn, thất bại trong kinh doanh của khách hàng nên không có những biện pháp kịp thời để ứng phó rủi ro. - Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng, phức tạp Tính chất đa dạng, phức tạp của RRTD xuất phát từ sự đa dạng của nguyên nhân phát sinh rủi ro cũng như diễn biến và hậu quả khi rủi ro xảy ra. Tác động của RRTD Tác động của RRTD đối với ngân hàng - RRTD ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng RRTD sẽ làm phát sinh các khoản nợ khó đòi, làm ứ đọng vốn dẫn đến giảm vòng quay vốn NH. Khi phát sinh nhiều khoản nợ khó đòi, ngân hàng sẽ mất thêm nhiều phí quản lý, phí giám sát khoản vay và phí thu hồi nợ tín dụng.Từ đó, làm giảm thu nhập từ lãi cho vay của ngân hàng.
Mặt khác, RRTD còn làm ngân hàng không có khả năng đầu tư vào dự án tiềm năng, từ đó làm giảm tổng lợi nhuận thu về từ hoạt động kinh doanh của ngân hàng. - RRTD làm giảm khả năng thanh toán của ngân hàng NHTM thường xây dựng các kế hoạch cân đối dòng thu - chi; dòng tiền ra - vào tại các giai đoạn kinh doanh. Hai dòng tiền của ngân hàng chỉ được cân đối khi các khoản TGTK của khách hàng và khoản vốn cho vay của ngân hàng được thanh toán đúng hạn. Khi RRTD phát sinh, các khoản cho vay sẽ không được hoàn trả đúng hạn, từ đó ảnh hưởng đến khả năng thanh toán nợ của ngân hàng và làm giảm uy tín của ngân hàng trên thị trường.
- RRTD làm giảm uy tín ngân hàng Khi ngân hàng gặp nhiều rủi ro tín dụng thì hoạt động kinh doanh của ngân hàng sẽ không hiệu quả. Từ đây làm giảm uy tín của ngân hàng, KH không còn lòng tin với NH và họ hạn chế sử dụng các sản phẩm, dịch vụ do ngân hàng cung ứng. Mặt khác khi NH phát sinh RRTT cũng gặp khó khó trong huy động nguồn vốn từ các ngân hàng đối tác khi có nhu cầu do mất lòng tin. Ngoài ra, NH không có uy tín sẽ gặp nhiều thách thức trong mở rộng quan hệ làm cầu nối phát triển thanh toán quốc tế.
- RRTD là nguy cơ dẫn đến phá sản ngân hàng Khi NHTM gặp RRTD sẽ làm giảm sút lòng tin của khách hàng. Lúc này, khách hàng không cảm thấy an toàn khi sử dụng các sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng, từ đó họ sẽ ngừng sử dụng dịch vụ và tìm cơ hội đầu tư an toàn hơn tại các NH khác. Bên cạnh đó, khi khách hàng vay vốn gặp khó khăn trong việc trả nợ (đặc biệt là những khoản vay lớn) sẽ khiến ngân hàng gặp thách thức trong hoạt động kinh doanh, không đủ khả năng đáp ứng thanh toán những khoản tiền gửi lớn của khách 8 hàng nếu NH không chuẩn bị trước các phương án dự phòng. Từ đó, dẫn đến khả năng phá sản.
Tác động của RRTD đối với khách hàng Lãi vay NH được hạch toán vào chi phí sản xuất của DN. Khi RRTD xảy ra thì KH vay vốn của NH sẽ phải chịu lãi phạt rất cao, lãi suất của các khoản nợ quá hạn cao hơn nhiều so với lãi suất khoản vay trong hạn, từ đó làm tăng chi phí hoạt động kinh doanh của DN tăng, hiệu quả sử dụng vốn giảm, lợi nhuận giảm, DN làm ăn không hiệu quả. Các chỉ số tài chính ngày càng biến động không ổn định, nguy cơ không thanh toán nợ đến hạn cho NH là điều tất yếu, còn có thể dẫn đến phá sản. Khi NH không thu được nợ của KH đầy đủ và đúng hạn, dấu hiệu này nói lên hoạt động kém hiệu quả của KH, làm giảm uy tín của DN với NH.
Mất đi sự tin tưởng của NH thì việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng của khách hàng sẽ gặp khó khăn.