CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN BUÔN 1. TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG 1. Khái niệm về dịch vụ ngân hàng Ở góc độ chung nhất về kinh tế, dịch vụ được định nghĩa như là một lĩnh vực kinh tế không bao gồm các ngành nông nghiệp và công nghiệp. Theo Noel Capon (2009, Paperback), “Dịch vụ là bất kỳ hành động hay sự thực hiện nào mà một bên cung cấp cho bên khác tồn tại một cách vô hình và không nhất thiết đi đến một quan hệ sở hữu”.
Dịch vụ thường liên quan đến con người (giáo dục, y tế,…), đến sản phẩm (sửa chữa, vận chuyển,…) hoặc thông tin (nghiên cứu thị trường,…). Còn bản thân Ngân hàng là một dạng dịch vụ kinh doanh ngoại tệ, thu phí của Khách hàng, được xét thuộc nhóm ngành dịch vụ hoạt động ngân hàng không trực tiếp tạo ra sản phẩm cụ thể, nhưng với việc đáp ứng các nhu cầu về tiền tệ, về vốn, về thanh toán cho Khách hàng, Ngân hàng đã gián tiếp tạo ra sản phẩm dịch vụ trong nền kinh tế. Khái niệm về dịch vụ vô cùng phức tạp, và khái niệm về dịch vụ ngân hàng lại càng phức tạp hơn vì tính tổng hợp, đa dạng và nhạy cảm của hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Theo WTO, trong bảng phân loại các dịch vụ của Tổ chức Thương mại Thế giới, dịch vụ ngân hàng được xếp vào phân ngành “Dịch vụ tài chính” trong 12 phân ngành dịch vụ.
Theo cách thức phân loại của WTO, dịch vụ tài chính bao gồm: dịch vụ bảo hiểm và các dịch vụ liên quan đến bảo hiểm; dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác; dịch vụ chứng khoán. Trong đó, Dịch vụ ngân hàng bao gồm: Nhận tiền gửi và các khoản phải trả từ công chúng; Cho vay dưới hình thức, bao gồm: Tín dụng tiêu dùng, tín dụng cầm cố thế chấp, bao thanh toán và tài trợ giao dịch thương mại; Thuê mua tài chính; Môi giới tiền tệ; Quản lý tài sản; Các dịch vụ thanh toán và bù trừ tài sản tài chính; Cung cấp và chuyển thông tin tài chính và xử lý dữ liệu tài chính cũng như cung cấp các phần mềm liên quan của các nhà cung cấp dịch vụ tài chính khác; Các dịch vụ tư vấn và trung gian môi giới, các dịch vụ tài chính phụ trợ khác, kể cả tham chiếu và phân tích tín dụng, nghiên 7 cứu tư vấn đầu tư và danh mục đầu tư, tư ván về mua lại và tái cơ cấu chiến lược chiến lược doanh nghiệp. Theo Luật TCTD ngày 16/06/2010 sửa đổi, không nêu DVNH mà chỉ nêu hoạt động ngân hàng “là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”. Từ những định nghĩa trên có thể đưa ra khái niệm về DVNH như sau: DVNH là một bộ phận của dịch vụ tài chính, là các dịch vụ tài chính gắn liền với hoạt động kinh doanh của ngân hàng, được ngân hàng thực hiện nhằm tìm kiếm lợi nhuận, và chỉ có các ngân hàng với ưu thế của nó mới có thể cung cấp các dịch vụ này một cách tốt nhất cho khách hàng (11).
Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng Thứ nhất, DVNH có tính vô hình: Về bản chất, dịch vụ không có tính hữu hình về vật chất, dịch vụ là một sự thi hành, một hành động hay một nỗ lực được thực hiện để đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Thứ hai, DVNH có tính không tách rời: Tính không tách rời được hình thành từ việc dịch vụ đang được xử lý hoặc trải nghiệm. Do đó DVNH trở thành một hành động xảy ra cùng lúc với sự hợp tác giữa người tiêu dùng và nhà cung cấp – ngân hàng và định chế tài chính. Các DVNH được bán rồi mới được sản xuất và tiêu dùng.
Thứ ba, DVNH có tính không đồng nhất: đặc điểm này được thể hiện trong sản xuất và tiêu dùng và các dịch vụ trở nên không ổn định về chất lượng. Thứ tư, DVNH khó xác định: Do tính không đồng nhất đã dẫn đến việc khó xác định được chất lượng dịch vụ. Ngoài ra, chất lượng DVNH còn được hình thành từ nhiều yếu tố như uy tín, thương hiệu, quy mô ngân hàng, công nghệ, và trình độ nhân viên… Những yếu tố này đã ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng DVNH nhưng lại thường xuyên không ổn định nên khó có thể được xác định DVNH một cách chính xác. Thứ năm, dòng thông tin hai chiều: DVNH không đơn giản là sự mua sắm một lần rồi kết thúc mà liên quan đến một chuỗi các giao dịch hai chiều thường xuyên 8 trong một khoảng thời gian nhất định.
Với đặc điểm này, các ngân hàng sẽ có được những thông tin quý giá về khách hàng liên quan đến các yêu cầu, đặc điểm của khách hàng… để từ đó ngân hàng có những điều chỉnh thích hợp trong việc cung cấp DVNH. Thứ sáu, tính đa dạng phong phú và không ngừng phát triển: Hiện nay trên thế giới có từ vài chục đến hàng trăm loại DVNH khác nhau. Với sự hỗ trợ từ công nghệ hiện đại, các ngân hàng đang cố gắng phát triển theo hướng ngân hàng đa năng chứ không chỉ đơn thuần thực hiện những nghiệp vụ truyền thống như trước kia nữa. Phân loại dịch vụ ngân hàng theo cách thức cung cấp dịch vụ Theo cách thức cung cấp dịch vụ, ta có thể chia DVNH thành 2 hình thức: Dịch vụ NHBB và Dịch vụ NHBL.
Xuất phát từ cách hiểu truyền thống trong lĩnh vực thương mại hàng hóa, bán buôn là hình thức mua bán hàng hóa thông qua các trung gian – đại lý (có thể có nhiều cấp trung gian, đại lý, thí dụ đại lý cấp I, đại lý cấp II, …) để bán với khối lượng lớn mà không bán nhỏ lẻ, trực tiếp cho người sử dụng, tiêu dùng; Ngược lại, bán lẻ là hình thức bán hàng mà người bán bán trực tiếp cho người sử dụng, người tiêu dùng. Dựa trên những đặc trưng chung, tương tự như bán buôn, bán lẻ các loại hàng hóa thông thường khác để nhận diện và phân loại. Với cách thức như vậy, có thể coi bán buôn các sản phẩm DVNH là cách thức bán sản phẩm thông qua các trung gian tài chính (các NHTM, các quỹ…) hoặc thông qua thị trường tài chính (như thị trường tiền tệ liên ngân hàng để cho vay, thanh toán bù trừ,…) và đối với các công ty, tập đoàn kinh tế lớn với những gói sản phẩm giá trị lớn. Còn dịch vụ NHBL là hình thức bán trực tiếp đến các cá nhân, gia đình, DNVVN và một số gói sản phẩm nhỏ lẻ đối với công ty, tổ chức kinh tế.
DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN BUÔN 1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng bán buôn Hoạt động ngân hàng bán buôn ra đời đầu tiên tại các quốc gia phát triển như Mỹ và các nước châu Âu và dần dần được sử dụng trên phạm vi toàn cầu. Khái niệm hoạt động ngân hàng bán buôn ra đời từ sự hình thành các thị trường tài chính bán buôn ở các nước phát triển, được phát triển trong quá trình toàn cầu hóa hoạt động 9 ngân hàng và được áp dụng ngày càng nhiều. Tuy nhiên khái niệm dịch vụ ngân hàng bán buôn lại không thống nhất trên toàn thế giới.
Tùy theo đặc điểm, tính chất và điều kiện của các thị trường mà người ta sử dụng khái niệm này với ý nghĩa không hoàn toàn giống nhau. Về khái niệm dịch vụ NHBB, tại Mỹ, hoạt động NHBB nghĩa là DVNH giữa NHTM (Merchant Bank) và các ĐCTC. Trong đó, Merchant Bank được định nghĩa là ngân hàng kinh doanh chủ yếu là tài trợ thương mại quốc tế, cho vay dài hạn cho các công ty và bảo lãnh phát hành. Merchant bank không cung cấp các DVNH cho công chúng nói chung.
Ngân hàng ANZ (www.com) thì cho rằng “Hoạt động NHBB là vay và cho vay với số lượng lớn”. Từ điển ngân hàng và tài chính Anh (Dictionary of Banking and Finance, P. Collin, Great Britain 1991) định nghĩa “Hoạt động NHBB là DVNH giữa ngân hàng tài trợ thương mại và các ĐCTC khác, ngược lại so với hoạt động NHBL”. Tại Việt Nam, trong vốn từ vựng tiếng Việt chỉ có khái niệm bán buôn tức là bán cho người kinh doanh trung gian, chứ không bán thẳng cho người tiêu dùng, đối lại với bán lẻ là bán với số lượng ít và bán trực tiếp cho người tiêu dùng.
Khái niệm NHBB được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1996 khi Việt Nam tiếp nhận Dự án ODA từ Ngân hàng Thế giới - Dự án Tài chính Nông thôn. Theo đó, Chính phủ giao cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam làm chức năng “NHBB của dự án” (Công văn số 5551/HĐQT ngày 2/10/1995 của Thủ tướng Chính phủ). Tiếp đó là trong Hiệp định tín dụng phát triển của Dự án Tài chính Nông thôn II, khái niệm NHBB cũng được hai bên Việt Nam và Ngân hàng thế giới sử dụng. Từ những khái niệm trên ta có thể kết luận về dịch vụ NHBB như sau: Dịch vụ NHBB là những dịch vụ được cung cấp cho đối tượng khách hàng là các doanh nghiệp lớn và các định chế tài chính hay những DVNH được cung cấp với số lượng lớn (3).
Đặc điểm của dịch vụ NHBB (3) Dịch vụ NHBB có những đặc điểm sau: 10 Thứ nhất, dịch vụ NHBB được cung cấp bởi những ngân hàng có quy mô lớn, hoặc rất lớn. Các tiêu chí để xác định quy mô của ngân hàng bao gồm: Vốn, tổng tài sản, hệ thống chi nhánh,…. Tùy vào đặc điểm của hệ thống ngân hàng mà xây dựng các tiêu chí cụ thể để xác định quy mô. Thứ hai, dịch vụ NHBB hướng đến đối tượng là các khách hàng lớn: Các NHTM có quy mô vừa và nhỏ, Các TCTD khác như công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, Các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty có quy mô lớn, Các NHTM có quy mô vừa và nhỏ, nhất là những ngân hàng quy mô nhỏ không đủ khả năng để huy động vốn cho hoạt động tín dụng của mình, những ngân hàng này sẽ thiếu vốn và sẽ đi vay các ngân hàng lớn.
Thứ ba, dịch vụ điển hình nhất của dịch vụ NHBB là tín dụng: Việc xác định khoản tín dụng lớn tùy thuộc vào giá trị tín dụng, quy mô khoản tín dụng, các đặc điểm về phân loại của từng ngân hàng cụ thể. Thứ tư, Số lượng khách hàng NHBB nhỏ. Thông thường đối với các ngân hàng vừa kinh doanh mảng bán buôn và mảng bán lẻ thì lượng khách hàng thuộc nhóm khách hàng bán buôn chỉ chiếm từ 10 - 30% tổng số khách hàng của ngân hàng đó.