Chương 1 đã giới thiệu tổng quan về dé tài nghiên cứu. Chương 2 sẽ tiếp tục trình bày các khái niệm nghiên cứu, tóm tắt các nghiên cứu trước có liên quan và các thiếu sót dé chọn ra cơ hội nghiên cứu cho dé tài này. Từ các cơ hội nghiên cứu, mô hình và giải thuyết nghiên cứu được hình thành. Ngoài ra, chương này cũng trình bày rõ hơn về bối cảnh nghiên cứu của đề tài.
Khái niệm du lịch Định nghĩa về du lịch đầu tiên được thực hiện bởi Guyer Feuler năm 1905, xác định du lịch là một hiện tượng duy nhất phụ thuộc vào nhu cầu thư giãn ngày càng tăng cua con người, mong muốn nhận ra vẻ đẹp của thiên nhiên và nghệ thuật, tin rằng thiên nhiên mang lại hạnh phúc cho con người và giúp kết nối các quốc gia và cộng đồng. Theo Tổ chức Du lịch Thế Giới (UNWTO), du lịch bao gém tat cả các hoạt động của những người du hành, tạm trú, với mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành có mục đích chính là kiểm tiên. Luật du lịch (2005) định nghĩa du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định. Nhìn chung, khái niệm về du lịch được hiểu rất khác nhau tại các quốc gia khác nhau và từ nhiều góc độ khác nhau, nhưng hau hết các quan điểm đều cho rang: du lịch là hoạt động của con người diễn ra ngoài nơi cư trú của họ nhằm mục đích nghỉ ngơi, giải trí, nâng cao hiệu biêt mà không nhăm mục đích kinh tê.
Khái niệm khách du lịch Theo Luật du lịch (2005), khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi hoc, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến. Khách du lịch gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế. Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thô Việt Nam. Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cu ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch.
Khái niệm điểm đến du lịch UNWTO đã đưa ra quan niệm về điểm đến du lịch, là vùng không gian địa lý mà khách du lịch ở lại ít nhất một đêm, bao gồm các sản phẩm du lịch, các dịch vụ cung cấp, các tài nguyên du lịch thu hút khách, có ranh giới hành chính để quản lý và có sự nhận diện về hình ảnh dé xác định khả năng cạnh tranh trên thị trường. Luật Du lịch (2005) có ba khái niệm về đêm đến du lịch. Đô thị du lịch là đô thị có lợi thế phát triển du lịch và du lịch có vai trò quan trọng trong hoạt động của đô thị. Khu du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ưu thế về tài nguyên du lịch tự nhiên, được quy hoạch, đầu tư phát triển nham đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, đem lại hiệu quả về kinh tế - xã hội và môi trường.
Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch. Khái niệm về điểm đến du lịch là một phạm trù rất rộng. Nó có thé là một châu luc, khu vực, đất nước, địa phương, thành phố, thị xã. Hình ánh điểm đến (destination image) Theo Lin et al.
(2007), hình ảnh điểm đến được định nghĩa như là nhận thức của du khách về một điểm đến cụ thể, hoặc như là một hình ảnh trong tâm trí của du khách về một vùng miễn nao đó.Theo Souiden et al. (2017),hinh ảnh điểm đến được xem xét trên nhiều khía cạnh, bao gồm sự đa dạng các yếu tố liên quan đến hình ảnhnhận thức, khía cạnh vé tình cảm và xu hướng hành vi. Hình ảnh nhận thức dé cap dén niềm tin và kiến thức về các thuộc tính vật lý của một điểm đến, trong khi đó thành phân cảm xúc là phản ứng cảm xúc đối với các thuộc tính và môi trường xung quanh, xu hướng hành vi được thé hiện bởi hành vi của khách du lich (Baloglu & McCleary, 1999). Thành phan xu hướng hành vi được coi là tương tu như hành vi, và phát triển từ các hình ảnh nhận thức và tinh cảm (Beerli & Martin, 2004, Prayag, 2007).
San Martin va Rodriguez del Bosque (2008) báo cáo rang một số nghiên cứu về hình anh du lịch chi xem xét khía cạnh nhận thức va bỏ qua khía cạnh cam xúc (Echtner & Ritchie, 1993; Walmsley & Young, 1998). Kim, McKercher va Lee (2009) cho rang cam xúc của khách du lịch có xu hướng thay đổi dé dang hơn vì chúng liên quan đến điều kiện cảm xúc hoặc tình huống trong chuyến tham quan, hình ảnh nhận thức có xu hướng kéo dài hơn bởi vì chúng được hình thành trên cơ sở kiến thức điểm đến du lịch thu nhận được từ trước. Hình ảnh nhận thức cũng đã nhận được sự ủng hộ từ các nghiên cứu trước đây về khả năng mô tả đặc điểm điểm đến (ví dụ: Baloglu & Brinberg, 1997). Do đó, nghiên cứu nảy tập trung vào hình ảnh nhận thức cho khái niệm hình ảnh điểm đến.
Tính cách điểm đến (destination personality) Ekinci và Hosany (2006) định nghĩa tính cách điểm đến là tong hợp các đặc tính của con người gan với diém đền từ quan điêm của khách du lịch. Định vị điểm đến dựa trên các thuộc tính chức năng làm cho điểm đếnkhó phân biệt và dễ dàng thay thế. Do đó, việc sử dụng tính cách điểm đến có thể góp phần phân biệt các địa điểm du lịch và khuyến khích khách du lịch (Baloglu et al., 2014; Ekinci & Hosany, 2006; Usakli & Baloglu, 2011). Các nhà tiếp thị điểm đến sử dụng tính cách để phân biệt và định vị điểm đến trong một thị trường du lịch cạnh tranh cao (Chen & Phou, 2013).
Một trong những mô hình được biết đến nhiều nhất để điều tra tính cách là mô hình Big Five (Digman, 1990), gồm năm yếu tố: sẵn sàng trải nghiệm, tận tâm,hướng ngoại, dé chịu, tam lý bat ôn.Dựa trên mô hình Big Five vệ tính cach con người, Aaker (1997) đã đề xuất Thang đo tính cách thương hiệu (BPS) mô tả tốt hơn các thuộc tính tính cách của sản phẩm và thương hiệu. Kế từ đó, thang đo của Aaker (1997) đã được sử dụng rộng rãi như một thước đo về tính cách thương hiệu sản phẩm. Các tài liệu tiếp thị thương hiệu đồng ý với các nghiên cứu trước đây về tính da chiều của tính cách thượng hiệu, nhưng không có sự đồng thuận thực sự về số lượng, tính chất và nội dung các thang đo của nó. Sự bất đồng này cũng xuất hiện trong nghiên cứu du lịch (Ekinci & Hosany, 2006; Usakli & Baloglu, 2011).
Vì cả Big Five Model và Aaker's (1997) BPS đều không được phát triển để đo tính cách thương hiệu điểm đến, một số đặc điểm tính cách áp dụng cho một người hoặc một sản phẩm không liên quan đến điểm đến.Xét về những bất đồng về số lượng, tính chất, nội dung cũng như sự phù hợp đối với tính cách điểm đến, nghiên cứu này giữ lại 7 hạng mục của Aaker, có khả năng nam bắt đặc điểm tính chất của một điểm đến: đăng cấp,âm ap, dep, lôi cuén, hop thời đại, độc đáo, than thiện. Sự hài long (satisfaction) Sự hài lòng của du khách được định nghĩa như là một cảm nhận tốt hay là cảm giác mà những du khách có được bởi những hoạt động giải trí nào đó (Lee, 2009). Sự hài lòng của khách du lịch rất quan trọng đối với tiếp thị điểm đến vì nó ảnh hưởng đến việc lựa chọn điểm đến, tiêu thụ sản phẩm và dịch vu, va quyết định quay trở lại (Kozak & Rimmington, 2000). Sự hài long của du khách chủ yếu được gọi là một chức năng của kỳ vọng trước khi đi du lịch và kinh nghiệm sau khi đi du lịch.
Theo đó, Chen & Chen (2010) xác định sự hài lòng điểm đến là phản ứng cảm xúc của khách du lịch đến một điểm đến cụ thể, có thể đáp ứng được nhu cầu và mong đợi của du lịch. Theo nghiên cứu của Lee (2009) cho răng: Sự hài lòng thường được đo lường trong các nghiên cứu thuộc ngành du lịch bằng một trong hai phương pháp. Phương pháp 10 pho biến nhất là áp dụng thang đo nhiều thành phan (Lee, 2005; Lin at al., 2003), nghiên cứu sử dụng phương pháp thứ hai là sử dung các thang do don hướng về sự hài lòng chung, phương pháp này được sử dụng trong các nghiên cứu của (Lee, 2007; Hultman, 2015). Sự tương đồng với điểm đến (destination identification) Lý thuyết sự tương đồng là một cau trúc phản ánh vai trò của sự tương tác trong các mạng lưới khác nhau (Arnett, German, & Hunt, 2003).
Khái niệm bao gom (1) dac tính cá nhân, đặc điểm riêng (ví dụ: khả năng và sở thích), và (2) đặc tính xã hội, bao gồm sự phân nhóm giúp định vị bản thân và mọi người trong môi trường xã hội (Turner et al. Việc gan kết với một điểm đến dé cập đến mức độ mà khách du lịch cảm nhận được cảm giác gan bó với một điểm đến và xác định về những cảm giác đó (Mael & Ashforth, 1992). Y định quay lại (intention to revisit) Khái niệm về ý định quay lại của du khách xuất phát từ ý định hành vi, được định nghĩa là một hành vi được mong đợi hoặc lên kế hoạch trong tương lai (Fisbein & Ajzen, 1975).Ý định gắn liền với hành vi thực tế quan sát được và một khi ý định được thiết lập, hành vi này sẽ được thực hiện sau. Trong lĩnh vực du lịch, ý định quay lại là việc khách du lịch có ý định đến thăm lại một điểm đến du lịch mà họ đã từng đến.
Khách du lịch có xu hướng chọn những nơi mà họ chưa từng đến trước đó để có những trải nghiệm mới. Y định quay lại của du khách cung cấp nguồn thu nhập và doanh thu cho các điểm đến du lịch, tăng thi phan, góp phan giảm chi phí hoạt động và tiếp thị điểm đến. Các nghiên cứu liên quan 2.