chương 1 về cơ sở lý luận và thực tiễn, chương 2 về đặc điểm địa bàn nghiên cứu và mẫu nghiên cứu và chương 3 là kết quả nghiên cứu. Ở chương1: cơ sở lý luận và thực tiễn, chúng tôi tập trung trình bày những vấn đề chung nhất liên quan đến chủ đề nghiên cứu như tổng quan về tình hình nghiên cứu đề tài, các lý thuyết, các cách tiếp cận, các khái niệm và việc đo lường các biến số. Trong chương 2, chúng tôi sẽ trình bày kết đôi nét về tình hình bệnh nam khoa và thực trạng cung ứng dịch vụ nam học trong cộng đồng hiện nay, kế đến là khái quát chung về Khoa Nam học, Bệnh viện Bình Dân, Thành phố Hồ Chí Minh là nơi tư vấn, khám, điều trị bệnh nam giới và mô tả mẫu nghiên cứu. Cuối cùng, ở chương chính, tác giả sẽ phân tích nhận thức của nam giới xung quanh các vấn đề SKSS nhằm chỉ ra những yếu tố tác động đến việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ CSSKSS của nam giới từ số liệu điều tra thu được của cuộc khảo sát.
Trong phần kết luận và khuyến nghị, chúng tôi tổng kết lại các nội dung đã trình bày ở chương 2 và chương 3, trên cơ sở đó, chúng tôi đưa ra một số khuyến nghị và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. 12 PHẦN NỘI DUNG 13 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 1. Các chính sách và văn bản pháp luật liên quan đến vấn đề SKSS nam giới tại Việt Nam Sớm nhận thức được tầm quan trọng của mối quan hệ giữa dân số, phát triển và cuộc chiến chống đói nghèo, Việt Nam đã tham gia chương trình dân số toàn cầu từ những năm 1960.
Các văn bản đầu tiên về chính sách dân số đã nhấn mạnh đến việc thực hiện KHHGĐ, trong đó, nam giới là nhóm đối tượng đóng vai trò quan trọng để chính sách dân số được thành công trọn vẹn. Chính vì thế, Đảng và Nhà nước quan tâm ngay từ chỉ thị 99/TTg ngày 16 -10 -1963 của Thủ tướng Chính phủ về công tác hướng dẫn sinh đẻ có kế hoạch, trong đó có phần phương pháp tiến hành công tác hướng dẫn sinh đẻ có đề cập: “Đối tượng tuyên truyền, giáo dục là những người vợ chồng, những người sắp trở thành vợ chồng. Đối tượng bao gồm nam, nữ thanh niên, những người trung niên và các bậc phụ lão, vì các cụ hay đòi sớm có con. Cần chú trọng thanh niên và nam giới.
Tuyên truyền, giáo dục phải thích hợp với từng đối tượng”. Và những năm sau thì quan điểm giới luôn được chú ý và nhắc lại trong các văn bản về chính sách dân số của nước ta: “Đối tượng là những phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, đồng thời phải coi trọng tuyên truyền vận động trong nam giới, trong quân đội và công an. Phải giải thích cho những bậc phụ lão hiểu rõ để ủng hộ chủ trương này” theo chỉ thị 265/CP ngày 19 – 10 -1978 của Chính phủ về đẩy mạnh cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch. Không những thế mà nam giới còn được xem là nhóm đối tượng cần có sự quan tâm riêng biệt như Quyết định số 315/HĐBT ngày 24/08/1992 của chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về chiến lược thông tin – giáo dục – truyền thông trong Dân số - KHHGĐ (1992 – 2000), ở chương III “các nhóm đối tượng”, có đề cập: 14 “2.
Nam giới: Mặc dù trong nhóm đối tượng thứ nhất đã đề cập đến cả nam và nữ, song xét đến những đặc điểm tâm lý truyền thống, đến tình hình thực hiện kế hoạch hóa gia đình ở Việt Nam, nam giới cần được tách thành một nhóm đối tượng riêng để có những thông điệp đặc thù và cách tiếp cận đặc thù. Trong nam giới cần đặc biệt chú ý đến: - Nam giới trung niên, chủ gia đình. - Nam giới trong những gia đình không và chưa có con trai. - Nam giới thuộc những gia đình và khu vực chưa thực hiện kế hoạch hóa gia đình hoặc tỉ lệ tham gia còn thấp.” Ngoài ra, trách nhiệm của nam giới ngay từ đầu được xác định trong chương V “Thông điệp truyền thông” của Quyết định số 315/HĐBT: “f.Trách nhiệm của nam giới.
Làm cho nam giới hiểu rằng kế hoạch hóa gia đình không chỉ là việc riêng của phụ nữ. Là một công dân, người chồng, người cha, nam giới có trách nhiệm và bổn phận tham gia tích cực vào các chương trình dân số và kế hoạch hóa gia đình, ủng hộ người vợ và bản thân cũng áp dụng các biện pháp tránh thai”. Từ những chủ trương, chính sách dân số nêu trên càng khẳng định rằng Đảng và Nhà Nước ta đã rất quan tâm và coi trọng đến chất lượng dân số, quyền sinh sản, SKSS và đặc biệt chú ý đến vai trò và trách nhiệm của nam giới trong công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình. Và tư tưởng này trong những năm sau đó đã được cộng đồng quốc tế đề cập và trở thành vấn đề mang tính chất toàn cầu.
Rõ nhất là trong các mục tiêu của Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển tại Cairô (1994) có nêu: “Tăng cường sự tham gia và chia sẻ trách nhiệm của nam giới trong việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình.” 15 “Bảo đảm rằng phụ nữ và nam giới được tiếp cận thông tin, giáo dục và các dịch vụ cần thiết để đạt được sức khỏe tình dục tốt và thực hiện trách nhiệm về quyền sinh sản của họ (tránh bạo lực)” Đặc biệt, vai trò và trách nhiệm của nam giới trong SKSS và quyền sinh sản đều được nhắc đến tại Hội nghị Cairô và Hội nghị Bắc Kinh cho thấy “nam giới có vai trò quan trọng trong SKSS và thực hiện nam nữ bình đẳng, do vậy mọi chương trình và dịch vụ về SKSS phải đặc biệt chú ý đến vai trò và trách nhiệm của nam giới. SKSS sẽ không được cải thiện đáng kể nếu không có sự bình đẳng nam nữ là những mối quan hệ chăm sóc lẫn nhau giữa hai giới” [23, tr. Vì thế, “cần có những nỗ lực đặc biệt thúc đẩy nam giới chia sẻ trách nhiệm và khuyến khích họ tham gia tích cực trong chức năng làm cha, hành vi tình dục và sinh sản kể cả kế hoạch hóa gia đình, sức khỏe của mẹ và con trước khi đẻ, phòng tránh các bệnh lây qua đường tình dục…” [45]. Từ đó, nhiều tổ chức quốc tế như UNFPA, WHO có những chương trình làm tăng tính chấp nhận bao cao su hoặc đình sản nam hay Qũy Ford coi SKSS là một trong những chiến lược quan trọng trong thập kỷ 90 và xác định rõ: “chương trình thu hút nam giới trong những nỗ lực cải thiện sức khỏe sinh sản” [23, tr.
Trong những năm gần đây, WHO cũng chú trọng đến sự tham gia của nam giới trong kế hoạch hóa gia đình và sức khỏe sinh sản. Đó cũng là lý do vì sao Việt Nam chính thức tham gia và cam kết chương trình hành động quốc tế về dân số và phát triển được Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển tại Cairo (1994) và Cương lĩnh hành động quốc tế vì sự tiến bộ của phụ nữ được thông qua tại Hội nghị Quốc tế và Phụ nữ tại Bắc Kinh (1995). Từ đó, những văn bản luật, nghị định, pháp lệnh liên quan đến chương trình Dân số - KHHGĐ và SKSS cho thấy Chính phủ Việt Nam đã có những quan điểm sáng suốt, tầm nhìn chiến lược trong việc định hướng tích cực về mặt chính sách cũng như ngày càng quan tâm hơn đến vấn đề CSSKSS cho người dân, trong đó nam giới đã dần có sự chú ý nhiều hơn. 16 Và quan điểm này càng được củng cố và nhấn mạnh trong chỉ thị số 50/CT- TƯ ngày 6-3-1995 của Ban bí thư Trung ương Đảng về việc đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng về Chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình trong khi vận động các đối tượng cần chú ý: “Vận động nam giới, làm cho nam giới thấy đầy đủ trách nhiệm của bản thân với việc sinh đẻ trong gia đình.
Từ khi có cuộc vận động sinh đẻ đến nay, chúng ta có phần thiếu chú ý vận động nam giới một cách đầy đủ, do đó có nhiều người chồng chưa nhận thức đúng trách nhiệm trong công tác này”. Tuy nhiên, dù đối tượng nam giới đã được Đảng và Nhà nước ta có sự quan tâm nhiều hơn trong các chính sách dân số, chương trình CSSKSS nhưng hơn 30 năm (kể từ những năm 60 đến những năm 90), vai trò và trách nhiệm của nam giới cũng chỉ hạn chế ở mảng KHHGĐ, bình đẳng giới nhằm hỗ trợ cho đối tượng chủ yếu là “phụ nữ” và “trẻ em”. Tất cả các chính sách và chương trình CSSKSS cho nam giới trong thời gian qua chỉ mới trong giai đoạn khởi đầu như một nhận xét của tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam thì "chiến lược dân số - kế hoạch hóa gia đình đến năm 2000 nhấn mạnh rất rõ vào các mục đích giảm sinh nhưng ít quan tâm tới các khía cạnh rộng rãi của sức khỏe sinh sản” [23, tr. Chính vì thế, cũng chưa thật sự có những chính sách, văn bản hoặc chương trình CSSKSS cụ thể nào cho nam giới như cung cấp các dịch vụ tư vấn, khám và điều trị các bệnh nam khoa chẳng hạn.
CSSKSS là một trong những quyền cơ bản và được quy định rõ trong pháp lệnh dân số năm 2003: “Mọi công dân có quyền được cung cấp thông tin và dịch vụ dân số có chất lượng, thuận tiện, an toàn và được giữ bí mật theo quy định của pháp luật” (Khoản a và khoản b, điều 4, Pháp lệnh dân số năm 2003) và “Mọi công dân có quyền được lựa chọn các biện pháp CSSSKSS/KHHGĐ nhằm nâng cao chất lượng dân số” (Khoản c, điều 4, Pháp lệnh dân số năm 2003). Để người dân tiếp cận các dịch vụ này, “nhà nước có chính sách khuyến khích các tổ chức, cá nhân 17 đầu tư, hợp tác, giúp đỡ, hỗ trợ chương trình CSSKSS/KHHGĐ” (Khoản 2, điều 5, Pháp lệnh dân số năm 2003). Những nội dung và các hoạt động cần được triển khai trong Nghị định số 104/2003/CP-NĐ ngày 16/09/2003: “thông tin dân số bao gồm kiến thức dân số, SKSS/KHHGĐ, bình đẳng giới…”, riêng “các loại dịch vụ dân số bao gồm cung cấp thông tin, số liệu, các phương tiện và sản phẩm phục vụ công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục và tư vấn về dân số, cung cấp phương tiện tránh thai, dịch vụ CSSKSS/KHHGĐ…”.