Chương 1: Giới thiệu đề tài Chương 2: Cơ sở lý thuyết và nghiên cứu liên quan. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2.1 TỔNG QUAN VỀ HUY ĐỘNG TIỀN GỬI TIẾT KIỆM CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Khái niệm tiền gửi, tiền gửi tiết kiệm và ý nghĩa của nó trong hoạt động ngân hàng Tiền gửi ngân hàng Tiền gửi ngân hàng là tiền được gửi trong các tài khoản ở ngân hàng. Trên thực tế, nó chính là số liệu về khoản nợ của một ngân hàng đối với người gửi tiền. Loại tiền này phát sinh từ vai trò trung gian tài chính của ngân hàng.
Tiền gửi được giữ trong nhiều tài khoản khác nhau ở điều kiện sử dụng hay rút tiền ra. Ở Anh, tài khoản vãng lai là tài khoản có thể rút hoặc chuyển khoản bằng séc mà không cần báo trước, còn tài khoản tiền gửi là tài khoản phải báo trước một thời gian khi muốn rút tiền ra. Ở Mỹ, người ta sử dụng các khái niệm tương ứng là “tiền gửi không kỳ hạn” (có thể rút ra bất kỳ lúc nào khi có nhu cầu) và “tiền gửi có kỳ hạn”. Theo Nguyễn Văn Ngọc (2006), Từ điển Kinh tế học, NXB Kinh tế Quốc dân, Tiền gửi trong tài khoản vãng lai (tiền gửi không kỳ hạn) nhìn chung được coi là thành tố của khối lượng tiền tệ và đây là bộ phận chủ yếu của nó.
Tiền gửi trong các tài khoản tiền gửi (tiền gửi có kỳ hạn) không nằm trong khối lượng tiền tệ M1, nhưng nằm trong các định nghĩa khác về khối lượng tiền tệ, ví dụ M2, M3. Bản thân khoản tiền gửi là một khoản nợ của ngân hàng đối với người gửi tiền. Tiền gửi ngân hàng thường đề cập đến trách nhiệm này thay vì các khoản tiền thực tế đã được gửi. Khi ai đó mở tài khoản ngân hàng và gửi tiền mặt, anh ta sẽ từ bỏ quyền sở hữu tiền mặt và nó sẽ trở thành tài sản của ngân hàng.
Đổi lại, tài khoản là khoản công lý đối với ngân hàng. Có nhiều loại tài khoản tiền gửi khác nhau bao gồm: tài khoản vãng lai, tài khoản tiết kiệm, tài khoản tiền gửi không kỳ hạn, tài khoản thị trường tiền tệ và chứng chỉ tiền gửi (CDs). Tiền gửi tiết kiệm (T.S Bùi Diệu Anh- Hoạt động kinh doanh ngân hàng)Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền nhàn rỗi mà khách hàng gửi vào ngân hàng với mục đích hưởng lãi/ dự phòng/an toàn là chính.Đặc trưng của loại tiền này là không sử dụng các phương tiện thanh toán và luôn có lãi. 6 Đối với ngân hàng: tiền gửi tiết kiệm được coi là nguồn tiền huy động có độ ổn định cao do thực chất nó là loại tiền thực hiện chức năng cất trữ, không dùng thanh toán do đó việc tăng tỷ trọng tiền gửi tiết kiệm trong tổng nguồn tiền huy động sẽ giúp ngân hàng có một nguồn vốn ổn định sử dụng trong các hoạt động kinh doanh sinh lời.Tuy nhiên, so với tiền gửi thanh toán thì tiền gửi tiết kiệm được xem là nguồn tiền tốn kém vì để thu hút được nó ngân hàng thường phải chi một khoản tiền lãi không nhỏ và có thể cả dịch vụ đi kèm.
Đối với khách hàng:Hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm cung cấp cho khách hàng một kênh tiết kiệm và đầu tư làm tiền vốn được sinh lời, tạo cơ hội gia tăng tiêu dùng trong tương lai.2 Phân loại tiền gửi tiết kiệm Theo Phan Thị Thu Hà (2013) Tiền gửi tiết kiệm có thể được phân loại theo kỳ hạn hoặc theo cách gửi tiền. Phân loại theo kỳ hạn thì tài khoản tiết kiệm được chia thành tiết kiệm không kỳ hạn và tiết kiệm có kỳ hạn. Phân loại theo cách gửi tiền thì tiền gửi tiết kiệm được chia thành tiết kiệm gửi lẻ - rút gọn, tiết kiệm gửi gọn – rút lẻ và tiết kiệm gửi gọn – rút gọn. Căn cứ vào kỳ hạn + Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Tiền gửi tiết kiệm mà khách hàng cá nhân hoặc tổ chức có tiền tạm thời nhàn rỗi với mục đích nhờ ngân hàng cất trữ, bảo quản hộ tài sản, tích lũy tài sản, ngân hàng sẽ trả cho khách hàng với lãi suất khuyến khích thường rất thấp nhưng khách hàng có thể rút tiền theo yêu cầu mà không cần báo trước vào bất kỳ ngày làm việc nào của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm.
Với loại tiền gửi không kỳ hạn này thì ngân hàng khó lên kế hoạch sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng. Hiện tại theo quy định của NHNN thì mức lãi suất của loại hình tiền gửi không kỳ hạn VNÐ được áp dụng tối đa là 1% năm. + Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Hình thức tiết kiệm mà khách hàng cá nhân hoặc tổ chức có nhu cầu gửi tiền với mục đích chủ yếu là hưởng lãi căn cứ vào thời hạn chọn khi gửi tiền, khách hàng chỉ có thể rút tiền và hưởng lãi sau khi hết kỳ hạn gửi tiền. Với loại tiền gửi có kỳ hạn này thì ngân hàng dễ dàng lên kế hoạch sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng.
Ða số khách hàng lựa chọn loại hình này, khách hàng chủ yếu là công nhân viên, hưu trí vì loại hình tiền gửi có kỳ hạn sẽ tạo cho họ có được khoản thu nhập ổn định và thường xuyên, đáp ứng nhu cầu chi tiêu hàng tháng hoặc hàng quý. Vì vậy, lãi suất có vai trò rất quan trọng trong việc thu hút đối tượng khách hàng này. Lãi suất trả cho loại tiền gửi tiết kiệm định kỳ cao hơn lãi suất tiền gửi không kỳ hạn. Ngoài ra, mức lãi suất còn thay đổi tùy loại kỳ hạn gửi, tùy loại đồng tiền gửi tiết kiệm (VNÐ, USD, EUR hoặc vàng), và tùy theo uy tín và rủi ro của ngân hàng nhận gửi tiền.
7 Ðể khuyến khích và thu hút khách hàng gửi tiền, ngân hàng cho khách hàng rút tiền gửi trước hạn nếu có nhu cầu và không hưởng tiền lãi định kỳ, được hưởng tiền lãi không kỳ hạn hoặc phải phân chia các loại: Tiền gửi kỳ hạn lãnh lãi định kỳ, tiền gửi kỳ hạn lãnh lãi cuối kỳ, tiền gửi kỳ hạn lãnh lãi theo định kỳ. + Tiền gửi tiết kiệm khác: Ðối với cá nhân có tiền gửi trên tài khoản thanh toán như séc cá nhân, thẻ thanh toán, rút tiền mặt, ngân phiếu,… Ðối với tổ chức có tiền gửi thanh toán nhằm mục đích phục vụ các giao dịch thanh toán của tổ chức và nhằm đảm bảo an toàn cho tài sản. Căn cứ cách gửi tiền: Căn cứ vào cách gửi và rút tiền tiết kiệm của khách hàng mà tiền gửi tiết kiệm được phân thành 03 loại chủ yếu: tiết kiệm gửi lẻ - rút gọn, tiết kiệm gửi gọn – rút lẻ và gửi gọn – rút gọn, để đáp ứng nhu cầu của khách hàng trong việc phân bố thu nhập và chi tiêu khác nhau. Bảng 1 trình bày tóm tắt nội dung các cách gửi và rút tiền.
1: Phân loại tiền gửi tiết kiệm theo cách gửi tiền STT Cách gửi Nội dung 1 Tiết kiệm gửi Ðây là hình thức tiết kiệm gửi góp, hàng tháng khách lẻ - rút gọn hàng trích một phần thu nhập của mình gửi vào ngân hàng để sau một thời gian thành một khoản tiền tích lũy. 2 Tiết kiệm gửi Ðây là hình thức tiết kiệm linh hoạt, khách hàng gửi vào một gọn - rút lẻ lần, khi cần có thể rút một phần gốc và được hưởng lãi của phần gốc đó theo thời gian thực gửi với lãi suất không kỳ hạn. 3 Tiết kiệm gửi Ðây là hình thức tiết kiệm thông dụng nhất. Khách hàng gửi gọn - rút gọn vào một lần, cố định thời gian gửi và lãi suất.
Khi đến hạn mới được rút gốc và hưởng lãi Tiền gửi tiết kiệm là nguồn vốn ổn định lâu dài, giúp ngân hàng chủ động trong kinh doanh. Ngoài ra, tiềm năng huy động của ngân hàng trong dân cư còn rất cao nên các ngân hàng luôn sử dụng đa dạng các hình thức để huy động nguồn vốn này.2 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG HUY ĐỘNG TIỀN GỬI TIẾT KIỆM CỦA KHÁCH HÀNG Trên cơ sở tìm hiểu cơ sở lý thuyết của những công trình nghiên cứu kết hợp với việc tìm hiểu các thông tin từ báo chí, tạp chí chuyên ngành tài chính liên quan đến tiền gửi tiết kiệm tại các TCTD, tác giả nhận thấy có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến việc ra quyết định gửi tiền tiết kiệm của khách hàng tại các NHTM. Từ đó, tác giả đã tổng hợp các nguyên nhân chính ảnh hưởng đến việc ra quyết định gửi tiền tiết kiệm 8 của khách hàng bao gồm các yếu tố chủ quan phát sinh từ đơn vị nhận tiền gửi tiết kiệm là NHTM, các yếu tố chủ quan từ phía khách hàng là người gửi tiền tiết kiệm và các yếu tố khách quan bên ngoài. ❖ Yếu tố từ phía NHTM a.
Lãi suất tiền gửi tiết kiệm Lãi suất tiền gửi tiết kiệm là yếu tố rất quan trọng trong việc huy động vốn tiền gửi tiết kiệm vì khách hàng cá nhân thường quan tâm đến lãi suất tiết kiệm để so sánh nó với tỷ lệ trượt giá của đồng tiền và khả năng sinh lời của các hình thức đầu tư khác.Hầu hết tất cả khách hàng khi có ý định gửi tiền nhàn rỗi vào ngân hàng đều quan tâm đến yếu tố lãi suất tiền gửi, lãi suất càng cao thì tạo ra giá trị lợi nhuận cho khách hàng càng lớn, bên cạnh đó ngân hàng phải đảm bảo việc trả lãi đúng hạn. Từ đó khách hàng sẽ đưa ra quyết định có nên gửi tiền vào ngân hàng với số lượng tiền là bao nhiêu và với hình thức hay kỳ hạn như thế nào cho hợp lý để thu được lợi ích cao nhất. Các hình thức chiêu thị Ngoài yếu tố lãi suất thì các chương trình khuyến mãi của ngân hàng bao gồm các chương trình như: tặng lãi suất thưởng (lãi suất tặng thêm ngoài lãi suất huy động công bố của ngân hàng); tặng tiền mặt; tặng quà hiện vật: áo mưa, túi xách, nón bảo hiểm,.; tặng phiếu mua hàng tại các siêu thị, chương trình quay số trúng thưởng .sẽ thu hút thêm nhiều khách hàng gửi tiền. Do thị hiếu của khách hàng rất đa dạng nên tùy theo phân khúc thị trường, đối tượng khách hàng mà ngân hàng nên triển khai chương trình khuyến mãi nào cho phù hợp.