chương 1, tác giả đã trình bày sự cần thiết để thực hiện đề tài “Các yếu tố tác động đến tỷ suất sinh lời của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam”. Bên cạnh đó tác giả cũng đã trình bày rõ ràng mục đích của khóa luận, câu hỏi nghiên cứu cũng như đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Trong phần này, đã được trình bày các phương pháp nghiên cứu, quy trình thu thập dữ liệu cùng với đóng góp và ý nghĩa thực tiễn của đề tài. Bên cạnh đó, bố cục của nghiên cứu cũng đã được đề cập.
Trên cơ sở này, tác giả tiến hành xây dựng cơ sở lý thuyết phù hợp với bài nghiên cứu, nghiên cứu khái quát về các nghiên cứu có liên quan và đưa ra các lỗ hỏng trong nghiên cứu ở Chương 2. Ngoài ra, việc mô tả phương pháp nghiên cứu sẽ trình bày ở Chương 3. Chương 4 và 5 là phần bàn luận sâu về kết quả của mô hình nghiên cứu và trình bày các gợi ý, khuyến nghị với các cơ quan ban ngành, các ban quản trị của các NHTM. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.
TỔNG QUAN VỀ KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA NHTM Theo Trần Huy Hoàng (2011), đánh giá tỷ suất sinh lời của một ngân hàng bao gồm hai khía cạnh chính. Đầu tiên, nó phản ánh cách ngân hàng hoặc tổ chức tài chính sử dụng hiệu quả các nguồn lực của mình để tạo ra lợi nhuận cao nhất, tức là thu nhập. Thứ hai, nó cũng phản ánh hiệu quả xã hội bằng cách đo lường lợi ích mà doanh nghiệp mang lại cho cộng đồng trong quá trình hoạt động kinh doanh. Theo Helhel (2015), ngành ngân hàng là thành phần thiết yếu nhất của hệ thống tài chính.
Sự ổn định và tăng trưởng kinh tế dài hạn được hỗ trợ bởi khu vực ngân hàng phát triển tốt. Các ngân hàng luôn tìm cách tối đa hóa doanh thu đồng thời cố gắng tạo ra tỷ lệ thanh khoản và bảo mật nhằm giảm thiểu rủi ro. Vì vậy, việc xác định các chỉ tiêu có tác động đến tỷ suất sinh lời của ngân hàng thương mại là vấn đề tiên quyết để xác định các chính sách ngân hàng cần thực hiện nhằm đạt được hiệu quả mong muốn. Theo thông tin Investopedia (2020): “Tỷ suất sinh lời là một chỉ số tài chính quan trọng để đánh giá hiệu suất hoạt động của một công ty thông qua việc tạo ra lợi nhuận từ doanh thu, chi phí hoạt động, tài sản trên bảng cân đối kế toán, hoặc vốn chủ sở hữu trong quá trình kinh doanh.
CHỈ TIÊU ĐO LƯỜNG KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA NHTM Ngân hàng thương mại có thể xác định hiệu quả hoạt động và khả năng chuyển đổi tài sản thành thu nhập ròng bằng cách sử dụng lợi nhuận trên tài sản (ROA). ROA được ước tính bằng tỷ lệ lợi nhuận hoạt động trên tổng tài sản (Rushidi và cộng sự, 2003). Mặc dù hoạt động bên ngoài có thể ảnh hưởng đến ROA, nhưng nó thường thể hiện khả năng tạo ra lợi nhuận của người quản lý bằng cách sử dụng tài sản của ngân hàng (Athanasoglou và cộng sự, 2005). Nói cách khác, nó đánh giá sự hiệu quả của việc sử dụng nguồn lực công ty để tạo ra doanh thu.
Nó cũng phản ánh khả năng quản lý hiệu quả của công ty trong việc tạo ra lợi nhuận ròng từ tất cả các nguồn lực của tổ chức (Khrawish, 2011). Theo Wen 9 (2010), ROA càng lớn thể hiện công ty sử dụng nguồn lực càng hiệu quả. Theo thông tin từ Investopedia (2024): “ROA là chỉ số tài chính thể hiện mức độ sinh lời của một công ty so với tổng tài sản của nó. Ban quản lý doanh nghiệp, các nhà phân tích và nhà đầu tư có thể sử dụng nó để xác định mức độ hiệu quả của công ty về việc sử dụng tài sản của mình để tạo ra lợi nhuận.
Chỉ số này được biểu thị bằng phần trăm, tính bằng cách sử dụng thu nhập ròng trên tổng tài sản bình quân. ROA cao có ý nghĩa công ty quản lý cân đối kế toán hiệu quả và năng suất.” Bên cạnh đó, có thể sử dụng chỉ số lợi nhuận trên tổng vốn chủ sở hữu (ROE) để đo lường tỷ suất sinh lời của ngân hàng thương mại. ROE thể hiện thu nhập của cổ đông từ việc đầu tư vốn vào ngân hàng. Nói cách khác, nó thể hiện khả năng sinh lời trên mỗi đồng vốn mà chủ sở hữu đã đầu tư vào ngân hàng.
Chỉ số ROE cao thể hiện mức độ hiệu quả trong việc sử dụng vốn của cổ đông để tạo ra lợi nhuận. Thông thường, các nghiên cứu trên thế giới và cả trong nước sử dụng rất nhiều chỉ tiêu để đo lường tỷ suất sinh lời của ngân hàng như NIM, ROA, ROE,. Tuy nhiên, vì sự hạn chế của nghiên cứu, ở bài nghiên cứu này, tác giả chỉ sử dụng chỉ số ROA để đo lường tỷ suất sinh lời của các NHTMCP trong giai đoạn 2014 – 2022. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỜI 2.
Các yếu tố nội sinh của NHTM 2. Quy mô ngân hàng (SIZE) Trong các hoạt động kinh doanh, tổng tài sản được sử dụng là một chỉ số để đánh giá quy mô của NHTM. Tài sản của ngân hàng bao gồm cả tài sản sinh lời và tài sản không sinh lời, trong đó tài sản sinh lời chiếm tỷ trọng cao khoảng 80% - 90% và tài sản không sinh lời chiếm phần còn lại. Do đó, việc đánh giá tài sản và xác định quy mô trở nên cực kỳ quan trọng đối với ngân hàng, vì nó có mức độ ảnh hưởng đáng kể đến sự tăng trưởng và phát triển của ngân hàng.
Thực tế cho thấy, quy mô ngân hàng nào càng lớn thì ngân hàng đó có khả năng thực hiện nhiều khoản vay hơn và chiếm thị phần lớn hơn so với các ngân hàng khác. 10 Trong hầu hết các bài nghiên cứu trên thế giới và trong nước, để quy mô tổng tài sản giữa các ngân hàng không có sự chênh lệch, chỉ số quy mô của ngân hàng được tính bằng hàm logarithm tự nhiên của tổng tài sản ngân hàng. Trong phạm vi trong nước và cả quốc tế, có nhiều công trình nghiên cứu về sự tương tác giữa tỷ suất sinh lời và quy mô ngân hàng. Theo San và Heng (2013), Alper và Anbar (2011) cho rằng quy mô ngân hàng có ảnh hưởng tích cực đến hiệu suất kinh doanh của ngân hàng vì ngân hàng có quy mô lớn sẽ có nhiều cơ hội hơn trong việc cung cấp vốn, cập nhật công nghệ nhanh chóng và mở rộng mạng lưới hoạt động, từ đó tăng trưởng lợi nhuận của ngân hàng.
Trái lại, những ngân hàng có quy mô nhỏ sẽ có năng lực tài chính yếu hơn, cũng như thách thức trong việc mở rộng và thúc đẩy kinh doanh, từ đó dẫn đến tốc độ tăng trưởng chậm hơn. Tuy nhiên, cũng có nhiều ý kiến không đồng nhất được đưa ra từ các nghiên cứu. Trong một số nghiên cứu như Adelopo và cộng sự (2018), Batten và Võ Xuân Vinh (2019) lại cho kết quả rằng quy mô ngân hàng có mối tương quan nghịch biến với ROA. Điều này có nghĩa là, quy mô quá lớn của một ngân hàng có thể dẫn đến việc chi phí quản lý và hoạt động tăng cao, cũng như gây ra khó khăn trong việc tìm kiếm và giữ chân nhân lực phù hợp với sự tăng trưởng của quy mô, làm tăng nguy cơ rủi ro và thách thức cho ngân hàng dẫn đến sự sụt giảm của tỷ suất sinh lời của ngân hàng.
Quy mô vốn chủ sở hữu (CAP) Quy mô vốn chủ sở hữu (VCSH) của một ngân hàng đóng một vai trò không thể phủ nhận trong cấu trúc và hoạt động của tổ chức tài chính này. VCSH đại diện cho nguồn vốn mà các chủ sở hữu ban đầu đầu tư và có thể được bổ sung thêm trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Yếu tố này được đánh giá thông qua tỷ lệ giữa tổng VCSH và tổng tài sản của NHTM. Theo Berger (1995), việc tăng vốn giúp nâng cao khả năng chịu đựng tổn thất rủi ro của ngân hàng, đặc biệt là rủi ro tín dụng, điều mà giúp ngân hàng có thể tăng cường mở rộng các khoản tín dụng, mang lại lợi nhuận cao hơn cho ngân hàng.
Có thể thấy, trong các cuộc khủng hoảng tài chính, lợi nhuận của ngân hàng bị ảnh hưởng bởi những nguồn vốn 11 kém chất lượng và những khoản lỗ không lường trước được, đầu tư vốn cao dẫn đến lợi nhuận thấp vì các ngân hàng có tỷ lệ vốn cao thường ngại rủi ro, bỏ qua các khoản đầu tư có khả năng thực hiện được, và kết quả là, các nhà đầu tư mong đợi lợi nhuận thấp hơn để đổi lấy rủi ro ít hơn (Beckmann, 2007). Berger (1995) cho rằng các ngân hàng có vốn lớn hơn thường chịu ít rủi ro hơn so với các ngân hàng có ít vốn hơn. Theo Gul và cộng sự (2011), Tan và Floros (2012) việc có một lượng vốn đáng kể giúp ngân hàng giảm thiểu tác động của những tổn thất không lường trước được, giúp ngân hàng tận dụng được nguồn tài chính của mình và không phải vay thêm, giảm chi phí đi vay và có đủ nguồn lực để tận dụng khoản tạm ứng để làm giàu lãi thu nhập và có thể được sử dụng vào các khả năng đầu tư sinh lời khác. Tỷ lệ nợ xấu (NPL) Tỷ lệ nợ xấu là một trong những chỉ số có tầm hưởng lớn đến quá trình đánh giá sức khỏe tài chính của một tổ chức hoặc một quốc gia.
Nợ xấu, hay còn gọi là nợ không có khả năng trả lại, thường bao gồm các khoản vay mà khách hàng không thể trả đúng hạn hoặc không thể trả góp một cách đều đặn theo thỏa thuận ban đầu. Theo khoản 8 Điều 3 Thông tư 11/2021/TT-NHNN, “Nợ xấu (NPL) là nợ xấu nội bảng, gồm nợ thuộc các nhóm 3 (nợ dưới chuẩn), 4 (nợ nghi ngờ) và 5 (nợ có khả năng mất vốn)” quy định tại Điều 10 Thông tư 11/2021/TT-NHNN. “Nợ xấu có thể hiểu là các khoản nợ khó đòi, và khi đến hạn phải thanh toán người vay không thể trả nợ như đã cam kết trong hợp đồng tín dụng. Và thời gian quá hạn thanh toán trên 3 tháng (90 ngày) thì bị coi là nợ xấu.” Trong môi trường kinh doanh và tài chính, việc quản lý tỷ lệ nợ xấu là một thách thức lớn đối với ngân hàng.
Tỷ lệ nợ xấu cao có thể ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng, làm giảm khả năng tăng trưởng và tạo ra rủi ro tài chính.