Chương 1. Tổng quan về van đề nghiên cứu: Giới thiệu ly do chon dé tài, các dé tài nghiên cứu liên quan, mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng va phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa khoa hoe, thực tiễn của đề tài. Cơ sở lý thuyết: Trình bay lý thuyết và học thuyết làm nền tảng cho việc nghiên cứu mô hình các yếu tổ ảnh hưởng đến thành công của IPO, tham khảo các nghiên cứu đi trước về các yếu tố tác động lên thành công của tiến trình IPO. Tong quan về IPO ở Việt Nam: Nội dung chương nay trình bày thực trạng về IPO ở Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu: Trình bày các bước tiễn hành nghiên cứu, mô hình nghiên cứu. phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu. Kết quả nghiên cứu: Thực hiện thống kê mô tả mẫu nghiên cứu, sự tác động của các yếu tô đến biến phụ thuộc, kiểm định các giả thiết. Kết luận và kiến nghị: Thảo luận về kết quả phân tích và đưa ra một số kiến nghị cho các tổ chức liên quan IPO, các co quan pháp lý cùng với việc nhìn nhận những hạn chê của nghiên cứu và đưa ra kiên nghị cho các nghiên cứu trong tương lai.
CƠ SỞ LÝ THUYET Nội dung chương 2 trình bày các khái niệm cơ bản về IPO và nêu bật tâm quan trong của IPO đổi với thị trường chứng khoán, các yếu tô ảnh hưởng đến quả trình này. Thông qua đó, nội dung chương cũng đề cập đến các mô hình nghiên cứu trước đó về các yếu tô ảnh hưởng đến thành công của IPO tai các nước Mỹ và Trung Quốc.1 Phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng (IPO) 2.1 Định nghĩa Khái niệm IPO là một chủ dé các nhà nghiên cứu từ xưa đến nay đặc biệt quan tâm, một số khái niệm tiêu biểu về IPO được tóm tắt như sau: Theo tác gia Ritter (1998) nhận xét rang phát hành chứng khoán lần đầu (Initial Public Offering) là việc một chứng khoán được phát hành lần đầu tiên tới công chúng với mong đợi giúp các doanh nghiệp chao bán cô phiếu của mình lần đầu tiên đến công chúng. Theo tác giả Chorruk va Worthington (2010), phát hành chứng khoán lần đầu (Initial Public Offering) là một hoạt động phát hành đánh dau một quy trình quan trọng trong vòng đời hoạt động của một doanh nghiệp. Thông qua việc thực hiện phát hành chứng khoán lần dau ra công chúng (IPO), doanh nghiệp có thé huy động vốn tài chính bên ngoài và mở rộng phát triển doanh nghiệp, góp phan tạo cơ hội phát triển đầu tư của doanh nghiệp va da dạng hóa nguồn huy động theo kênh tài chính.
Thông qua việc huy động vốn qua hoạt động IPO, các doanh nghiệp có thé nâng cao khả năng tai chính của mình và góp phân phát triển nên kinh tế thịnh vượng hơn. Chính vì vậy, hiệu quả của quá trình phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng (IPO) và hoạt động của doanh nghiệp thực hiện IPO đã trở thành một đề tài hap dẫn thu hút các nha nghiên cứu và các nhà hành pháp quan tâm. Một IPO là việc bán cô phiếu của các doanh nghiệp tư nhân đến công chúng dé cổ phiếu của doanh nghiệp đó được niêm yết trên một thị trường chứng khoán. Việc tham gia phát hành IPO giúp tăng nguồn vốn cần thiết dé phát triển doanh nghiệp và hoan thành vai trò trở thành người dẫn dau thị trường (Blowers, 1999).
Ngoài ra, tính thanh khoản được tạo ra thông qua quá trình phát hành IPO cung cấp cơ hội cho các nhà đầu tư, chủ sở hữu, nhà sáng lập có cơ hội thu được suất sinh lợi thông qua đầu tư của mình. Hơn nữa, một IPO giúp các doanh nghiệp đạt được những thành công, uy tín của doanh nghiệp được nâng cao. Tuy nhiên, theo Latham và Braun (2010), cũng có những nguy cơ tiềm an trong việc phát hành IPO đối với các nhà quản trị và các doanh nghiệp. Như vậy: Phát hành chứng khoán lần đầu ra công ching (IPO - Initial Public Offering) là việc một doanh nghiệp cô phân thực hiện phát hành chứng khoán của mình ra công chúng lần đầu tiên ở bên ngoài công ty và phương thức thực hiện để chảo bán chứng khoán phải được công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Trong định nghĩa trên về IPO, chúng ta cần lưu ý các đặc điểm như sau: Thông thường, người ta lẫn lộn khái niệm IPO với khái niệm phát hành sơ cấp. Trong đó, IPO là một bộ phận của phát hành sơ cấp, nhưng phát hành sơ cấp chưa hăn đó là IPO. Đặc điểm khác nhau co bản giữa IPO và phát hành sơ cấp ở chỗ phát hành sơ cấp là việc phát hành chứng khoán mới, còn IPO là lần phát hành chứng khoán đầu tiên của một doanh nghiệp. Như vậy, một công ty có thể phát hành sơ cấp nhiều lần nhưng chỉ có duy nhất một lần phát hành IPO.
Ngoài ra, theo điều 10 của Nghị định số 58/2012/NĐ-CP về việc quy định chỉ tiết và hướng dẫn thi hành một số điều luật của Luật chứng khoán và Luật sửa đôi, bổ sung một số điều của Luật chứng khoán, hình thức chào bán chứng khoán ra công chúng bao gồm: chảo bán chứng khoán lần đầu ra công chúng, chào bán thêm chứng khoán ra công chúng, cỗ đông lớn bán phan vốn sở hữu trong các công ty đại chúng ra công chúng, công ty đại chúng chào bán trái phiếu và các loại chứng khoán khác ra công chúng. Những đợt phát hành thêm các cô phiếu sau khi phát hành IPO của một công ty được gọi là các đợt phát hành bồ sung (SEOs — seasoned equity offerings). Mệnh giá: cỗ phiếu, chứng chỉ quỹ chào bán lần đầu ra công chúng là mười nghìn đồng Việt Nam (theo điều 10, Luật chứng khoán của Quốc hội số 70/2006/QH 11 ngày ngày 29 tháng 6 năm 2006).2Vai trò của phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng (IPO) 2.1 Đối với thị trường chứng khoán Các đợt phát hành IPO thành công giúp các nhà đầu tư tham gia vào thị trường chứng khoán nhiều hơn và làm tăng quy mô cũng như khối lượng giao dịch trên thị trường chứng khoán. Ngày nay, các tô chức nước ngoài cũng tham gia nhiều vào tiến trình IPO và thị trường chứng khoán, quá trình IPO cũng góp phan thu hút vốn dau tư gián tiếp nước ngoài đối với thị trường chứng khoán của nước ta.
Các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán cũng như mức giá của một loại cỗ phiếu nhất định cũng có quan hệ tương tác với sự kiện [PO của một doanh nghiệp. Kết qua dau giá IPO của một doanh nghiệp có ảnh hưởng lớn đến giá các loại cổ phiếu khác trên thị trường, nhất là giá các loại cố phiếu của các doanh nghiệp cùng ngành, các doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp phát hành.2 Đối với các doanh nghiệp phát hành Quá trình IPO giúp các doanh nghiệp phát hành có thể gia tăng vốn: thông qua tiễn trình nay, các doanh nghiệp có thé huy động vốn nhiều hon, giúp các doanh nghiệp có thể mở rộng quy mô hoạt động, dễ dàng tiếp cận với các nguồn vốn vay nhờ uy tín sau các đợt IPO thành công. Một khi năng lực tài chính được cải thiện, các doanh nghiệp phát hành có thể nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trên thị trường so với các đối thủ cạnh tranh chưa tiễn hành IPO. Tuy nhiên, quá trình IPO làm giảm tỷ lệ sở hữu của các cô đông hiện tai và tiềm an nguy cơ giảm quyền kiểm soát của các cổ đông.
Nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp: quá trình phát hành IPO bao giờ cũng có một sỐ lượng chứng khoản được ưu đãi bán lại hoặc thưởng cho cán bộ nhân viên của doanh nghiệp giúp doanh nghiệp thu hút và duy trì được nguồn nhân lực chất lượng và tạo lợi thế cạnh tranh. Quá trình IPO đòi hỏi các doanh nghiệp phát hành phải công khai, minh bach thông tin, thông tin báo cáo hoạt động chính xác giúp doanh 10 nghiệp phải luôn hoạt động hiệu quả vì có sự giám sát tốt hơn của ban quản trị, giúp doanh nghiệp xây dựng chiến lược rõ ràng hơn. Nang cao uy tín của doanh nghiệp phát hành trên thương trường: khi tiễn hành IPO, yêu cầu tiên quyết là doanh nghiệp phát hành phải công bó thông tin minh bạch của minh. Sau khi tiến hành IPO thành công, doanh nghiệp phát hành có thé tiếp cận dé gia nhập thị trường chứng khoán tập trung và tất cả các thông tin về hiệu quả sản xuất kinh doanh, tài chính, chiến lược kinh doanh.sẽ thường xuyên xuất hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng, đây cũng chính là một phương thức marketing hiệu quả góp phan nâng cao uy tín của doanh nghiệp phát hành.
Tuy nhiên, khi công bố thông tin rộng rãi của mình cũng như nguy cơ bị rò rĩ thông tin sẽ dẫn đến bất lợi lớn cho doanh nghiệp phát hành và trở thành nguy cơ đe dọa vị thế cạnh tranh của các doanh nghiệp.2 Các nhân tô ảnh hưởng đến phát hành chứng khoán lần dau ra công chúng (IPO) Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều công trình nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến phát hành IPO, các công trình nghiên cứu này có thể tóm tắt sơ lược như sau: Theo tác giả Brau và Osteryoung (2001), thông qua công trình của mình đã xác định các yếu tổ ảnh hưởng đến IPO gồm: (1) cơ chế và chi phí marketing, (2) các yếu tố về sở hữu và cai quan, (3) chu kỳ đời sống kinh doanh, (4) những yếu tô nổi bật liên quan đến dự đoán về mặt lý thuyết. Tuy nhiên, Ritter (1987), Barry, Muscarella và Vetsuypens (1991), Aggarwat va Rivoli (1991), Lee (1996) va Chen, Ritter (2000) lại cho rang yếu tổ quy mô chính là yếu tố quyết định đến thành công của IPO, ngoai ra các nhà nghiên cứu nay cũng xác định yếu tổ chi phí phát hành cao hay thấp cũng ảnh hướng đến quá trình IPO vì các doanh nghiệp phát hành luôn có xu hướng lựa chọn chỉ phí thấp khi tiền hành IPO. Đồng tình với quan điểm trên, Jensen va Meckling (1976) cũng cho răng chi phí cho tổ chức bảo lãnh trong phát hành cũng có vai trò quan trọng, 11 tuy nhiên chi phí cho tổ chức phát hành không có mối quan hệ phụ thuộc với quyền chủ sở hữu và quản trị. Lipton và Lorsch (1992), Jensen (1993) đã đồng tình quan điểm của Brau và Osteryoung (2001) khi cho rằng yếu tố sở hữu va cai quản đóng vai trò quan trong và quy mô tối ưu của ban giám đốc doanh nghiệp phát hành chỉ nên từ 7-9 thành viên.