chương 1, tác giả trình bày bố cục của từng bài khóa luận và nội dung sơ lược của từng chương. 9 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Tác giả thể hiện các khái niệm, giải thích ý nghĩa và các lý luận về Ngân hàng thương mại, và tăng trưởng tín dụng của NHTM, cách thức đo lường và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến TTTD. Đồng thời, chường này tổng hợp các mô hình và các nghiên cứu trước đây liên quan đến đề tài trong nước và nước ngoài, từ đó làm cơ sở lý thuyết vững chắc để xác định các chiều hướng tác động của yếu tố ảnh hưởng đến TTTD và xây dựng mô hình nghiên cứu hiệu quả cho chương 3. Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại cổ phần 2.
Khái niệm tín dụng ngân hàng Theo Nguyễn Xuân Bang (2017) trong một luận văn tiến sĩ cho rằng: “ Tín dụng là hoạt động cơ bản của các ngân hàng thương mại (NHTM), là một kênh quan trọng đáp ứng các nguồn lực tài chính cho nền kinh tế - xã hội, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Về bản chất, cấp tín dụng là hoạt động kinh tế, do vậy nó cũng chịu sự tác động và điều tiết bởi các quy luật của nền kinh tế thị trường”. Còn đối với nghiên cứu lại của Nguyễn Thị Huê (2013) lại cho thấy chi tiết hơn mối quan hệ giữa các bên tín dụng “ Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay (Ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán”. Theo Luật các tổ chức tín dụng, Luật số 17/2017/QH14 năm 2017 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung có đề cập về các hình thức cấp tín dụng tại khoản 14, điều 4 là : “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.” 10 Như vậy có thể hiểu tín dụng ngân hàng là một trong những nghiệp vụ cơ bản và quan trọng nhất của Ngân hàng, nó phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa Ngân hàng và khách hàng, Trong đó, Ngân hàng đóng vai trò chuyển giao vốn cho và khách hàng sử dụng trong một thời gian nhất định, với mục đích rõ ràng (không vi phạm pháp luật) với các quy định hoàn trả , cũng như ràng buộc nhất định đối với khoản vay theo thỏa thuận giữa hai bên.
Khái niệm tăng trưởng tín dụng Nói đến tăng trưởng tín dụng của NHTM thì có thể hiểu là tốc độ gia tăng tổng dư nợ cho vay của Ngân hàng trong một thời điểm hoặc giai đoạn nhất định. Tăng trưởng tín dụng cũng là một trong những chỉ tiêu quan trọng để các chuyên gia, các nhà quản trị đánh giá phản ánh sự ổn định của nền kinh tế nói chung và hệ thống NHTM nói riêng. Urati và cộng sự (2012) cho rằng tín dụng ngân hàng có vai trò rất quan trọng trong việc tài trợ cho nền kinh tế và là động lực thúc đẩy nền kinh tế. Tăng trưởng tín dụng cao là hiện tượng do kết quả tích cực từ sự gia tăng về chiều sâu tài chính trong nền kinh tế.
Tuy nhiên, cần phải xem xét ý nghĩa của tăng trưởng tín dụng theo hướng ổn định tài chính và điều kiện vĩ mô, bởi vì tăng trưởng tín dụng một cách nhanh chóng gây ra hiệu ứng xấu, gây rủi ro hệ thống.Bên cạnh đó, với bối cảnh tăng trưởng tín dụng nhanh chóng, cùng với quá trình tư nhân hóa của một số Ngân hàng và theo sau đó là một số tập đoàn nước ngoài như ở các NHTMCP Việt Nam hiện nay làm khuếch đại quá trình cho vay của ngân hàng và tính cạnh tranh trong lĩnh vực này, nghiên cứu của Maja Ivanovíc (2016) cho thấy sự phát triển của kinh tế tích cực, gia tăng tiền gửi cũng như sự lành mạnh của hệ thống ngân hàng tác động chủ yếu đến tăng trưởng tín dụng, bên cạnh đó xem xét cả yếu tố cung và cầu tiền, tăng trưởng tín dụng dương khi ngân hàng tăng thêm lượng cung tiền tệ trong nền kinh tế và tăng trưởng tín dụng âm khi cung tiền giảm, điều này thể hiện rõ xu hướng thắt chặt trong chính sách tiền tệ .Tăng trưởng tín dụng còn được xem là chỉ số dự báo cho nền kinh tế, đặc biệt là trước các cuộc khủng hoảng diễn ra về hậu quả đem lại. 11 Sự tăng trưởng một cách nhanh chóng của nguồn cung tín dụng còn có thể dẫn đến những hệ lụy rủi ro diện rộng gây nên khủng hoảng, khi TTTD giảm sẽ dẫn đến suy thoái trong các hoạt động kinh tế (Ali Awdeh, 2017). Theo Nguyễn Bá Hoàng (2019) định nghĩa rằng : “Tăng trưởng tín dụng là việc các NHTM sử dụng các chính sách nhằm tăng nguồn vốn huy động, đáp ứng cho việc cấp tín dụng, chiết khấu, đầu tư vào những đối tượng là các tổ chức kinh tế, cá nhân… có nhu cầu vay vốn, từng bước nâng cao lợi nhuận, thị phần và thương hiệu trên thị trường”.Ngoài ra, theo chỉ thị số 01/CT-NHNN (2012) “Chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng ở nước ta đối với 4 nhóm tổ chức tín dụng cho phù hợp với diễn biến tiền tệ, tín dụng, hoạt động ngân hàng và đảm bảo mục tiêu của chính sách tiền tệ như sau: Nhóm I (hoạt động lành mạnh) tăng trưởng tối đa 17%; Nhóm II (hoạt động trung bình) tăng trưởng tối đa 15%; Nhóm III (hoạt động dưới trung bình) tăng trưởng tối đa 8%; Nhóm IV (hoạt động yếu kém) không được tăng trưởng.” Như vậy, tăng trưởng tín dụng là việc gia tăng các khoản tín dụng mà Ngân hàng cung cấp cho các cá thể trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu kinh doanh, sản xuất, giúp kinh tế phát triển. Chính vì thế, việc duy trì tốc độ và đảm bảo tăng trưởng tín dụng một cách hiệu quả đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với các nhà quản trị Ngân hàng.
Tăng trưởng tín dụng cần đạt tới giới hạn, dựa vào tối ưu hóa các yếu tố nguồn lực, vốn và công nghệ của Ngân hàng. Tuy nhiên, các nhà quản trị luôn phải kiểm soát và giám sát chặt chẽ tốc độ tăng trưởng tín dụng, bởi nếu tăng quá nhanh sẽ gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến hệ thống Ngân hàng và cả nền kinh tế, cũng như đưa ra những chính sách phù hợp để có thể quản trị cũng như điều chỉnh kịp thời. Có như vậy thì TTTD mới hiệu quả và đảm bảo sự ổn định bền vững của ngân hàng. Cách thức đo lường tăng trưởng tín dụng Tăng trưởng tín dụng là chỉ số quan trọng để đánh giá và đảm bảo chất lượng tín dụng một cách an toàn, luôn là mục tiêu quan trọng mà mỗi ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng hướng đến và quan tâm.
12 Ở Việt Nam cũng như nước ngoài đã có nhiều nghiên cứu về đo lường tăng trưởng tín dụng gắn liền với chất lượng tín dụng của các NHTM dựa trên tỷ lệ tăng trưởng dư nợ. Đây là một trong những chỉ tiêu cơ bản nhất để đánh giá sự chất lượng cũng như ổn định của tăng trưởng tín dụng, nhằm so sánh sự gia tăng về dư nợ tín dụng qua các năm, từ đó có một cái nhìn chung hơn về khả năng cho vay, tìm kiếm khách hàng và đánh giá tiến trình thực hiện tín dụng của ngân hàng. Theo thống kê, tại Việt Nam mục tiêu của chỉ tiêu tăng trưởng dư nợ thường nằm ở mức 10% - 15% một năm. Các cơ sở lý thuyết nền tảng liên quan đến tăng trưởng tín dụng Lý thuyết cung và cầu tín dụng (Credit Demand and Supply Theory) Lý thuyết cung và cầu tín dụng là một phần trong các nghiên cứu kinh tế học về thị trường tài chính, không thuộc về một tác giả cụ thể nào.
Nó được phát triển và mở rộng qua nhiều nhà kinh tế học, qua nhiều năm tiêu biểu như là Irving Fisher, John Maynard Keynes hay Milton Friedman. Lý thuyết giải thích mối quan hệ tương tác giữa cung và cầu trong thị trường tín dụng. Cung tín dụng (Credit Supply) đại diện cho khả năng và sự sẵn lòng của ngân hàng trong việc cung cấp khoản vay. Thông thường cung tín dụng chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố nội tại của ngân hàng như vốn tự có, khả năng huy động vốn, quy mô ngân hàng hay khả năng quản lý rủi ro.
Cầu tín dụng (Credit demand) lại thể hiện cho nhu cầu vay vốn của các cá nhân, doanh nghiệp và cả các ngân hàng khác, phía cầu thường bị chi phối bởi các yếu tố như lãi suất tăng trưởng kinh tế và mức đồ đầu tư. Chính vì thế có thể nói cung tín dụng cho thấy khả năng của ngân hàng trong việc cung cấp tín dụng dựa trên sức khỏe, tình hình tài chính của ngân hàng và quản lý rủi ro. Còn cầu tín dụng phản ánh nhu cầu vay vốn từ nền kinh tế, cho thấy mức độ hoạt động của nền kinh tế và khả năng tăng trưởng. Mô hình cơ bản của cung và cầu tín dụng có thể biểu diễn qua các hàm số: 𝑄𝑠 =S (R,K) (2.2) Trong đó: Qs: Lượng tín dụng cung cấp Qd: Lượng tín dụng yêu cầu R: Lãi suất K: Khả năng huy động vốn và sức khỏe tài chính của ngân hàng Y: Thu nhập hoặc GDP, thể hiện tăng trưởng kinh tế C: Các điều kiện khác ảnh hưởng đến cầu tín dụng, như niềm tin của nhà đầu tư, chính sách tài khóa Lý thuyết chu kỳ kinh tế và tín dụng (Business Cycle and Credit Theory) Lý thuyết này mới đầu được phát triển bởi hai nhà khoa học Joseph Schumpeter và Irving Fisher, và đã được mở rộng hơn trong những năm gần đây bằng những đóng góp của Hyman Minsky và Ben Bernanke.
Nội dung của lý thuyết nhằm phân tích sự tương tác giữa chu kỳ kinh tế và hoạt động tín dụng của các ngân hàng. Chu kỳ kinh tế gồm các giai đoạn tăng trưởng (expansion) và suy thoái (contraction) ảnh hưởng mạnh mẽ đến cung và cầu tín dụng.