Chương 1 của bài luận văn đã trình bày các nội dung gồm: tính cấp thiết của đề tài hiện nay, mục tiêu nghiên cứu của đề tài, đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu về mặt khoa học lẫn thực tiễn và cấu trúc của đề tài. Từ đó cho thấy một cái nhìn toàn diện về vấn đề nghiên cứu, để tạo cơ sở cho việc tìm hiểu sâu về các cơ sở lý thuyết cũng như tổng quan các nghiên cứu trước trong chương 2. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2. Định nghĩa rủi ro tín dụng Theo khoản 1 điều 1 thông tư 39/2016/TT-NHNN “Tín dụng là hình thức cho vay, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.” Theo Ủy ban Basel thì rủi ro tín dụng là bên khách hàng mượn tiền hoặc bên đối tác không có khả năng hoàn trả tiền vay theo hợp đồng đồng đã cam kết.
Đây là sự phá sản của người cam kết, nhưng trong đó sự “phá sản” được hiểu là mọi sự vi phạm nghiêm trọng nào đối với cam kết khi hoàn trả tiền vay. Theo khoản 1 điều 3 Thông tư số 02/2013/TT-NHNN “Rủi ro tín dụng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết” Theo Timothy W.Koch (2014) cho rằng “Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá khi khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn”. Theo Anthony Sauders (2007) định nghĩa: “Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm năng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản vay của ngân hàng không thể được thực hiện cả về số lượng và thời hạn”. Tóm lại, rủi ro tín dụng là hoạt động xảy ra liên tục ở ngân hàng nước ta.
Nó giúp dòng tiền lưu thông và đem lại lợi nhuận. Mặt khác, hoạt động dính líu đến tiền đều ảnh hưởng rủi ro nhiều nên phía ngân hàng đang tìm ra giải pháp tối ưu vấn đề này. Là hoạt động làm thất thoát nghiêm trọng cho ngân hàng và kéo dài thì sẽ làm tổn thất đến thị trường của nhà nước. Khi ngân hàng lỗ vốn liên tục có thể phải bù đắp lỗ hoặc dẫn đến phá sản.
Mỗi năm, mỗi quý ngân hàng phải có những dự tính điều chỉnh lại quy định, cơ cấu làm việc để không để mối nguy cơ này xảy ra. Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng Có hai bên tham gia trong quan hệ tín dụng là bên cho vay và bên đi vay. Đối tượng thứ ba trong này là bên đi vay sử dụng vốn vay vào thời điểm, không gian theo sựu chi phối của yếu tố cụ thể được gọi là mối trường kinh doanh. Rủi ro tín dụng do môi trường gây ra được gọi là rủi ro khách quan.
Rủi ro phát sinh từ bên đi vay và bên cho vay được gọi là rủi ro nguyên nhân chủ quan. Nguyên nhân khách quan Theo Nguyễn Thị Kim Nhung, Phạm Thị Thu Hiền và Nguyễn Thị Thúy Quỳnh (2017) nghiên cứu thì nguyên nhân rủi ro tín dụng khách quan do ảnh hưởng từ môi trường kinh tế, pháp luật và mối quan hệ giữa các ngân hàng chưa chặt chẽ: Ảnh hưởng do môi trường: Các khách hàng làm việc trong nhiều ngành nghề liên quan đến môi trường như các thiên tai: bão lũ, sóng thần, hoặc không có nước, dịch bệnh đột ngột xảy ra gây tổn thất thị trường làm tăng lạm phát sẽ khiến cho sản xuất kinh doanh dễ bị “đổ vỡ” điều này khiến cho người đi vay không chuẩn bị ứng phó kịp, không trả được hoặc khó khăn trong việc trả làm giảm uy tín. Ảnh hưởng của pháp luật: Mua bán tiền tệ là một nghiệp vụ sức tác động lớn đến phát triển nền kinh tế và phát triển chung bao quát, vì vậy các nghiệp vụ của ngân hàng chịu sự điều chỉnh của pháp luật nhà nước. Trong đó, hoạt động tín dụng của ngân hàng bị tác động ngay luôn.
Khi luật pháp không minh bạch, môi trường kinh doanh không an toàn, quy định liên tục bị thay đổi, thiếu nhất quán sẽ gây ra ách tắc và hậu quả nghiêm trọng cho ngân hàng nói chung và bên mảng tín dụng. Một số chỗ còn nhiều sai sót khi áp dụng luật: Các quy định chưa được thống nhất và luật pháp còn chỗ trống. Các NHTM giữ trong tay quyền quyết định quản lý tài sản thế chấp khi người đi vay không thể trả lại số tiền đã mượn. Các Ngân hàng không thể làm điều này được, do phía ngân hàng không nằm trong tôt chức nhà nước mà chỉ là thành phần kinh tế.
Thế là họ phải ra tòa dẫn đến nợ nần, không có nhiệm vụ cưỡng chế. Phục hồi tốn nhiều thời gian rắc rối, chi phí và nhân công cao. Mối quan hệ giữa các ngân hàng thiếu chặt chẽ, sự san sẻ thông tin với nhau khiến các ngân hàng đưa đến những sự giải quyết sai khi cho vay: Thời điểm hiện tại, các ngân hàng khi cho vay đều dựa vào các thông tin mà bên đi vay đề 7 cập đưa ra. Các ngân hàng đều có chung tình trạng cho cùng người vay và số tiền cho mượn vượt quá mong muốn của khách hàng.
Giữa các ngan hàng không có sự liên kết về thông tin với nhau, không san sẻ về việc khách hàng đó như thế nào, có bị nợ xấu hay không. Do đó, vấn đề rủi ro xảy ra rất lớn đối với phía cho vay. Những cơ chế về thu hồi tài sản đảm bảo còn lỏng lẽo, tốn nhiều chi phí và thời gian: Tài sản thế chấp không là yếu tố quan trọng nhưng là yếu tố cần thiết bên ngân hàng cấp tín dụng. Do đó, người đi vay không thể hoàn tiền nợ thì bên phía ngân hàng đưa ra giải quyết là thu hồi các tài sản để lấy lại số tiền cho vay.
Bên cạnh đó, việc đem đi bán và định giá khá rắc rối và phải theo sự sắp xếp: ngân hàng khởi tố, phía tòa án tiến hành đàm phán, nếu hòa giải không được sẽ tịch thu tài sản bằng việc đem đi đấu giá. Bình thường, việc giải quyết thường làm hơn hai năm sẽ rất rắc rối, phức tạp. Nguyên nhân chủ quan Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Kim Nhung, Phạm Thị Thu Hiền và Nguyễn Thị Thúy Quỳnh (2017) thì: Từ bên đi vay: Mục đích vay sai và không có thiện chí hoàn trả lại tiền: đối với bên cho vay, thì lúc trình lên hồ sơ để mượn tiền đều phải có phương án sẽ sử dụng số tiền đó ra sao, cụ thể như thế nào. Phía người đi mượn thì phải có bản sao kê khai thu nhập chính mình, hồ sơ pháp lý và minh chứng là mình có thể hoàn lại vốn mượn.
Chỉ cho vay với điều kiện là hợp lý với nghề, phù hợp với yêu cầu, được bên cho vay xem xét đưa đến nhiều lợi nhuận cao, làm ra doanh thu để hoàn tiền lại cho phía cho vay. Trong thỏa thuận, bên đi vay phải cam đoan số tiền mượn làm việc hợp pháp và phù hợp đã đưa lên cho phía bên cho vay xem. Và đề nghị người đi vay trách nhiệm, ngoài ra người đi vay minh bạch rõ ràng số tiền vay trước và sau khi mượn. Người đi vay nào cũng làm được như vậy, người ta sử dụng số tiền mượn vào những việc không giống nhau làm rủi ro xảy ra.
Ví dụ như, một khách hàng thực hiện một số tiền mượn để thêm vào dòng tiền lưu động việc kinh doanh và sản xuất. Nghiên cứu thấy đó là ngành hiệu quả, đem đến sinh lời nhiều nên được cho mượn vốn. Sản xuất hàng hóa tiêu dùng, bên đi vay lấy số tiền vay để kinh doanh nhà đất do giá kiến 8 nghị tăng cao giúp người đi vay kiếm được nhiều hơn. Thực tế, nền kinh tế thay đổi không giống như ý muốn, với tài sản bị đứng yên không có ai mua mà phải trả lãi vay đều đặn.
Người đi vay thì lo sợ không trả được tiền gốc với lãi vay khi đã đến thời kì làm người đi vay bị bên bờ phá sản. Tác động đến môi trường kinh tế, còn phía cho mượn tiền sáp có nguy cơ không lấy lại được tiền, NPL thì tăng mạnh. Một số nhà đầu tư có BCTC không rõ ràng do BCTC có thể làm không chính thống để dễ dàng lừa gạt người cho vay nhanh hơn. Do đó, người đi vay sử dụng tiền mượn không đúng yêu cầu sẽ tạo ra rủi ro tín dụng cho bên ngân hàng.
Người đi vay cố tình khai gian, lừa gạt không muốn trả lại tiền: là điều kiện rất phát triển đem đến rủi ro tín dụng cho bên ngân hàng. Thông qua các mánh khóe tinh tường, lừa được ngân hàng và ăn cắp tiền của ngân hàng. Nếu bên đi vay đã rắp tâm không trả nợ thì bên phía cho vay khó mà có thể biết được. Người đi vay kinh doanh không mang lại lợi nhuận, mô hình kém năng suất: điều kiện cần thiết để bên cho vay có thể nhìn nhận và cho vay là do sự nhạy bén và có thực lực kinh doanh.
Những doanh nghiệp lớn và bé có thành tựu rực rỡ và bề dày lịch sử trong lĩnh vực hiện tại sẽ được chú ý, nâng đỡ so với những tổ chức mới tham gia hoặc khởi nghiệp. Tại vì, ngành kinh doanh nào cũng vậy luôn đối đầu thiều thử thách, cam go, nếu trải qua thành công thì có những người tài giỏi và am hiểu. Một khi mà cho các khách hàng không đủ khả năng tài chính, đem tiền mượn làm sai mục đích và hậu quả là không lấy lại được các khoản nợ. Báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp: thiếu chính xác, làm ăn sa sút: để biết được người đi vay làm năn như thế nào, kinh doanh có đạt được nhiều thành tựu không thì đều thông qua các báo cáo thường niên.
Tất cả các minh chứng mà bên đi vay đưa ra để cho bên cho vay xem xét và nhận định. Thực tế, vấn đề đi đột ngột xem xét bên cho vay như vậy mang tính đối phó vì phía người đi vay thực hiện thanh tra vào giai đoạn cố định, và theo tình hình kinh tế của người đi vay đưa ra.