Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn 2011-2020, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam duy trì vị thế định chế tài chính có quy mô tài sản lớn nhất hệ thống với tổng tài sản đạt 1.516.686 tỷ đồng vào cuối năm 2020. Tuy nhiên, hoạt động tín dụng với tổng dư nợ lên tới 1.569.000 tỷ đồng luôn phải đối mặt với áp lực rủi ro tín dụng đáng kể. Mặc dù tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng đã giảm từ mức đỉnh 2,96% năm 2011 xuống 1,76% vào năm 2020, quy mô nợ xấu tuyệt đối vẫn duy trì ở mức cao với 21.369 tỷ đồng. Đáng chú ý, tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng năm 2019 ở mức 1,75%, cao hơn mức trung bình 1,50% của toàn ngành ngân hàng Việt Nam, trong đó nợ nhóm 5 chiếm tỷ trọng vượt trội lên tới 77,33% tương ứng 16.525 tỷ đồng.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là nhận diện và lượng hóa các nhân tố tác động đến nợ xấu tại ngân hàng, từ đó tìm ra các điểm nghẽn trong quản trị rủi ro tín dụng. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận về nợ xấu, phân tích thực trạng nợ xấu tại ngân hàng giai đoạn 2011-2020, xây dựng mô hình định lượng xác định mức độ tác động của các biến số nội tại và vĩ mô, đồng thời đề xuất giải pháp kiểm soát nợ xấu trong giai đoạn 2021-2025.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào dữ liệu theo quý của ngân hàng từ Quý IV/2011 đến Quý IV/2020 kết hợp các chỉ số vĩ mô từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Ý nghĩa nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp các luận cứ thực nghiệm chuẩn xác, hỗ trợ ngân hàng tối ưu hóa chi phí trích lập dự phòng rủi ro tín dụng hiện đang ở mức trên 16.000 tỷ đồng mỗi năm, đồng thời hướng tới mục tiêu đưa tỷ lệ nợ xấu thực tế duy trì bền vững dưới ngưỡng 1,50%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự kết hợp chặt chẽ giữa các lý thuyết kinh tế tài chính hiện đại và quy định pháp lý chuyên ngành. Cơ sở lý thuyết nền tảng đầu tiên là Lý thuyết quản trị chi phí kém hiệu quả và rủi ro đạo đức của Berger và DeYoung (1997), giải thích cách thức sự lơ là trong thẩm định và chi phí vận hành kém hiệu quả thúc đẩy nợ xấu gia tăng. Cơ sở thứ hai là Khung tiêu chuẩn an toàn vốn Basel II thông qua phương pháp tiếp cận dựa trên xếp hạng nội bộ, sử dụng các chỉ số đo lường rủi ro cốt lõi gồm xác suất vỡ nợ, tỷ lệ tổn thất khi vỡ nợ và tổng dư nợ tại thời điểm vỡ nợ nhằm xác định tổn thất dự kiến và tổn thất ngoài dự kiến.

Ba khái niệm học thuật then chốt được áp dụng xuyên suốt bao gồm: Thứ nhất, khái niệm nợ xấu theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN và chuẩn mực Quỹ Tiền tệ Quốc tế, xác định nợ xấu là các khoản cho vay thuộc nhóm 3, nhóm 4 và nhóm 5 có thời gian quá hạn từ 91 ngày trở lên. Thứ hai, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, đại diện cho đòn bẩy tài chính và khả năng tự chủ vốn của ngân hàng, đạt 79.647 tỷ đồng trên tổng tài sản 1.516.686 tỷ đồng vào năm 2020. Thứ ba, hệ thống cảnh báo sớm rủi ro tín dụng, đóng vai trò phát hiện nguy cơ suy giảm khả năng trả nợ của khách hàng trước khi phát sinh nợ quá hạn.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ 36 quan sát chuỗi thời gian theo quý liên tục, thu thập từ Báo cáo tài chính hợp nhất đã kiểm toán của ngân hàng giai đoạn từ Quý IV/2011 đến Quý IV/2020 và cơ sở dữ liệu kinh tế vĩ mô của Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Cỡ mẫu bao gồm toàn bộ 36 quý, bảo đảm tính đầy đủ và phản ánh xuyên suốt các chu kỳ biến động tài chính của ngân hàng. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu toàn bộ tổng thể chuỗi thời gian của ngân hàng có quy mô lớn nhất hệ thống nhằm bảo đảm tính đại diện, tính nhất quán và độ tin cậy cao của dữ liệu.

Phương pháp phân tích định lượng được lựa chọn là mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhất OLS đa biến, kết hợp với quy trình kiểm định khuyết tật mô hình gồm kiểm tra hệ số phóng đại phương sai VIF để loại bỏ đa cộng tuyến, kiểm định White kiểm tra phương sai sai số thay đổi và kiểm định Breusch-Godfrey kiểm tra tự tương quan. Lý do lựa chọn mô hình OLS trên chuỗi thời gian là vì phương pháp này cho phép lượng hóa trực tiếp, chính xác độ nhạy và chiều hướng tác động của từng nhân tố vi mô nội tại lẫn vĩ mô lên tỷ lệ nợ xấu, cung cấp các ước lượng không chệch và có ý nghĩa thống kê vượt trội.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Mô hình hồi quy định lượng và phân tích thực nghiệm đã mang lại 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản có mối quan hệ nghịch biến có ý nghĩa thống kê với tỷ lệ nợ xấu. Khi tỷ lệ vốn tự có tăng lên, tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng giảm đi rõ rệt. Thực tế giai đoạn 2011-2020 ghi nhận vốn chủ sở hữu tăng từ 24.647 tỷ đồng lên 79.647 tỷ đồng với tốc độ tăng bình quân 13,20%/năm, đặc biệt tăng trưởng đột biến 42,40% trong năm 2019 khi phát hành cổ phần cho đối tác chiến lược nước ngoài, đã tạo bộ đệm vững chắc giúp tỷ lệ nợ xấu hạ từ 2,96% xuống 1,76%.

Thứ hai, nợ xấu trong quá khứ tác động đồng biến rất mạnh đến nợ xấu hiện tại. Mức độ tồn đọng của nợ xấu chu kỳ trước làm gia tăng gánh nặng xử lý nợ cho các kỳ tiếp theo, khiến quy mô nợ xấu tuyệt đối tăng 9,61% từ năm 2019 lên mức 21.369 tỷ đồng vào cuối năm 2020.

Thứ ba, tốc độ tăng trưởng kinh tế GDP thể hiện mối tương quan cùng chiều với tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng trong chuỗi dữ liệu nghiên cứu. Trong các giai đoạn nền kinh tế tăng trưởng nhanh, quy mô cho vay khách hàng của ngân hàng đã mở rộng hơn 4 lần, từ 293.938 tỷ đồng năm 2011 lên 1.214.296 tỷ đồng năm 2020, tạo ra sự nới lỏng nhất định trong điều kiện tín dụng và gia tăng rủi ro nợ xấu tích tụ.

Thứ tư, cơ cấu nội tại của danh mục nợ xấu dịch chuyển theo chiều hướng tiêu cực khi nợ nhóm 5 chiếm tỷ trọng chi phối 77,33% với 16.525 tỷ đồng vào năm 2020, tăng mạnh 45,52% so với năm 2019, trong khi nợ nhóm 3 giảm sâu từ 64,56% năm 2011 xuống chỉ còn 11,15% năm 2020.

Thảo luận kết quả

Kết quả tác động ngược chiều của tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản hoàn toàn đồng thuận với các nghiên cứu của Podpiera và Weill (2008) cũng như Nguyễn Thị Hồng Vinh và Nguyễn Minh Sáng (2018). Tỷ lệ an toàn vốn cao thúc đẩy các chuẩn mực thẩm định khắt khe hơn và tăng cường kỷ luật quản trị tài chính. Ngược lại, mối quan hệ cùng chiều giữa tăng trưởng GDP và nợ xấu phản ánh hiện tượng tâm lý lạc quan quá mức khi tăng trưởng kinh tế thuận lợi, tương đồng với phát hiện của Inekwe Murumba (2013).

Trong hoạt động thực tế, ngân hàng đã chủ động sử dụng quỹ dự phòng rủi ro bình quân trên 16.000 tỷ đồng mỗi năm trong giai đoạn 2018-2020 để xử lý nợ ngoại bảng, giúp giảm tỷ lệ nợ xấu danh nghĩa. Về phương diện trình bày học thuật, mối tương quan giữa quy mô vốn tự có và tỷ lệ nợ xấu có thể được mô tả trực quan thông qua biểu đồ kết hợp hai trục tung: trục cột thể hiện giá trị vốn chủ sở hữu và tổng tài sản theo quý, trục đường thể hiện xu hướng suy giảm của tỷ lệ nợ xấu. Đồng thời, một bảng tổng hợp kết quả hồi quy với đầy đủ hệ số ước lượng, giá trị thống kê t, hệ số VIF và chỉ số R bình phương sẽ làm nổi bật tính tin cậy của mô hình thực nghiệm.

Đề xuất và khuyến nghị

Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu thực nghiệm, bốn nhóm giải pháp mang tính hành động cao được đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát nợ xấu trong giai đoạn 2021-2025:

Thứ nhất, tăng cường năng lực tài chính và duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối ưu. Hội đồng quản trị và Ban điều hành ngân hàng cần chủ động nâng cao quy mô vốn chủ sở hữu từ mức 79.647 tỷ đồng hiện tại, duy trì tỷ lệ an toàn vốn CAR trên 10,50% và tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản trên 5,50% xuyên suốt giai đoạn 2021-2025, tạo nguồn đệm hấp thụ tổn thất rủi ro tín dụng vững chắc.

Thứ hai, hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ và mô hình đo lường rủi ro theo chuẩn Basel II. Khối Quản lý Rủi ro cần nâng cấp độ chính xác của các mô hình xác suất vỡ nợ PD và tổn thất khi vỡ nợ LGD cho toàn bộ khách hàng cá nhân và doanh nghiệp, áp dụng hệ thống cảnh báo sớm tự động nhằm phát hiện tối thiểu 85% các khoản vay suy giảm chất lượng trước 90 ngày, hoàn thành triển khai trong năm 2022.

Thứ ba, siết chặt quy trình thẩm định tín dụng và giám sát mục đích sử dụng vốn sau giải ngân. Khối Khách hàng và Khối Tác nghiệp cần thực hiện thẩm định độc lập 3 lớp đối với 100% các khoản cấp tín dụng trung dài hạn, kiểm tra thực địa định kỳ hàng quý, nhằm kéo giảm tỷ trọng nợ nhóm 5 từ mức 77,33% hiện tại xuống dưới 50,00% tổng nợ xấu vào năm 2024.

Thứ tư, đẩy mạnh phát triển nghiệp vụ mua bán nợ và xử lý tài sản bảo đảm qua thị trường công khai. Trung tâm Xử lý Nợ của ngân hàng cần phối hợp chặt chẽ với Công ty Quản lý tài sản VAMC và các định chế mua bán nợ chuyên nghiệp, đặt mục tiêu thu hồi và xử lý dứt điểm tối thiểu 15.000 tỷ đồng nợ xấu tồn đọng ngoại bảng mỗi năm trong khung thời gian 2022-2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn mang lại giá trị học thuật và thực tiễn chuyên sâu cho 4 nhóm đối tượng chính:

Nhóm thứ nhất là Ban lãnh đạo, giám đốc khối quản lý rủi ro và cán bộ tín dụng tại các ngân hàng thương mại. Luận văn cung cấp phương pháp lượng hóa rủi ro, bài học thực tế về chuyển dịch cơ cấu nợ nhóm 5 và giải pháp tái cơ cấu danh mục cho vay để duy trì tỷ lệ nợ xấu dưới 1,50%.

Nhóm thứ hai là các cơ quan quản lý nhà nước, đặc biệt là cán bộ hoạch định chính sách tại Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính. Công trình là cơ sở thực chứng để đánh giá hiệu quả thi hành Thông tư 02/2013/TT-NHNN, hỗ trợ xây dựng khung pháp lý về sàn giao dịch nợ xấu và quy định trích lập dự phòng rủi ro tín dụng.

Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Tài chính Ngân hàng. Luận văn đóng vai trò là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu định lượng chuỗi thời gian OLS, kỹ thuật xử lý dữ liệu báo cáo tài chính và ứng dụng chuẩn mực Basel II.

Nhóm thứ tư là các nhà phân tích đầu tư tài chính, chuyên viên phân tích cổ phiếu ngành ngân hàng và các tổ chức xếp hạng tín nhiệm. Luận văn cung cấp góc nhìn sâu sắc về chất lượng tài sản thực tế, hiệu quả sử dụng đệm dự phòng rủi ro hơn 16.000 tỷ đồng và tiềm năng tăng trưởng bền vững của cổ phiếu ngân hàng trên thị trường chứng khoán.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao quy mô nợ xấu tuyệt đối của ngân hàng năm 2020 tăng lên 21.369 tỷ đồng nhưng tỷ lệ nợ xấu lại giảm xuống 1,76%? Điều này xuất phát từ tốc độ tăng trưởng quy mô dư nợ cho vay khách hàng diễn ra rất nhanh, tăng hơn 4 lần từ 293.938 tỷ đồng năm 2011 lên 1.214.296 tỷ đồng năm 2020. Tốc độ mở rộng của tổng dư nợ làm mẫu số tăng nhanh hơn tốc độ tích tụ nợ xấu, dẫn đến tỷ lệ phần trăm nợ xấu giảm trong khi số dư tuyệt đối vẫn gia tăng.

Vì sao kết quả nghiên cứu cho thấy tăng trưởng GDP lại có mối tương quan cùng chiều với tỷ lệ nợ xấu? Trong các chu kỳ tăng trưởng kinh tế thuận lợi, ngân hàng có xu hướng đẩy mạnh giải ngân tín dụng và gia tăng mức độ chấp nhận rủi ro với quy mô tín dụng đạt 1.569.000 tỷ đồng. Việc mở rộng cho vay nhanh chóng dẫn đến sự suy giảm tiêu chuẩn thẩm định, khiến nợ xấu tiềm ẩn bộc lộ sau đó, tương tự kết luận của một số nghiên cứu quốc tế.

Tỷ trọng nợ nhóm 5 chiếm tới 77,33% tổng nợ xấu tạo ra áp lực tài chính nào lớn nhất cho ngân hàng? Theo quy định trích lập dự phòng rủi ro, nợ nhóm 5 có khả năng mất vốn phải trích lập dự phòng cụ thể với tỷ lệ 100% sau khi khấu trừ tài sản bảo đảm. Với số dư nợ nhóm 5 lên tới 16.525 tỷ đồng năm 2020, ngân hàng buộc phải dành nguồn lực chi phí dự phòng lớn, trực tiếp làm suy giảm lợi nhuận trước thuế xuống 9.026 tỷ đồng.

Quy trình kiểm định mô hình định lượng OLS trong luận văn được thực hiện như thế nào để đảm bảo tính xác thực? Nghiên cứu sử dụng chuỗi 36 quan sát theo quý giai đoạn 2011-2020, áp dụng các kiểm định thống kê chuyên sâu gồm kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến bằng hệ số VIF, kiểm định phương sai sai số thay đổi White và kiểm định tự tương quan Breusch-Godfrey. Kết quả kiểm định bảo đảm các hệ số hồi quy không chệch, có ý nghĩa thống kê và phản ánh chính xác quy luật kinh tế.

Ngân hàng có thể ứng dụng kết quả nghiên cứu để cải thiện tỷ lệ an toàn vốn và phòng ngừa nợ xấu như thế nào? Ngân hàng có thể sử dụng kết quả định lượng để điều chỉnh tỷ lệ đòn bẩy tài chính, duy trì vốn chủ sở hữu trên 79.647 tỷ đồng và áp dụng hệ thống đo lường rủi ro Basel II theo phương pháp IRB. Việc phân loại khách hàng tự động và kiểm soát chất lượng tín dụng ngay từ khâu giải ngân giúp giảm thiểu tỷ lệ chuyển nhóm nợ xấu.

Kết luận

Luận văn đã hoàn thành toàn diện các mục tiêu nghiên cứu đề ra với những đóng góp cốt lõi:

  • Đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về nợ xấu, rủi ro tín dụng và khung quản trị rủi ro chuẩn Basel II tại ngân hàng thương mại quy mô lớn.
  • Phân tích chi tiết thực trạng nợ xấu của ngân hàng giai đoạn 2011-2020, chỉ ra điểm nghẽn lớn khi nợ nhóm 5 chiếm tới 77,33% tổng nợ xấu với 16.525 tỷ đồng năm 2020.
  • Xác định bằng thực nghiệm định lượng OLS rằng tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản có tác động nghịch biến, trong khi nợ xấu quá khứ và tăng trưởng GDP có tác động đồng biến đến nợ xấu.
  • Đề xuất hệ thống 4 giải pháp đồng bộ về nâng cao tỷ lệ an toàn vốn, chuẩn hóa mô hình IRB, siết chặt thẩm định và số hóa xử lý tài sản bảo đảm cho giai đoạn 2021-2025.
  • Đưa ra các kiến nghị chuẩn xác đối với Ngân hàng Nhà nước và Chính phủ nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý thị trường mua bán nợ và quản trị rủi ro hệ thống.

Đóng góp chính của công trình là lấp đầy khoảng trống nghiên cứu thực nghiệm tại một định chế ngân hàng cụ thể có quy mô tổng tài sản dẫn đầu thị trường là 1.516.686 tỷ đồng. Lộ trình triển khai các giải pháp cần được thực hiện quyết liệt trong khung thời gian 2021-2025. Đây là tài liệu học thuật và thực tiễn giá trị, khuyến khích các chuyên gia tài chính, nhà quản trị ngân hàng và học viên cao học nghiên cứu sâu rộng để áp dụng hiệu quả vào quản trị rủi ro tín dụng hiện đại.