Chương 1 cũng nêu lên ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu. Ở chương tiếp theo tác giả sẽ trình bày một số định nghĩa cũng như các lý thuyết liên quan đến đề tài, từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu, nhằm thực hiện cho nghiên cứu chuyên sâu. 7 Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu 2. Định nghĩa các khái niệm liên quan 2.
Lịch sử hình thành nền tảng video ngắn Ứng dụng video ngắn trên điện thoại di động là nhà cung cấp chính của nền tảng xã hội video ngắn và đã có nhiều nghiên cứu học thuật về nó. Ứng dụng video ngắn trên điện thoại di động xuất hiện lần đầu tiên tại Hoa Kỳ. Công ty khởi nghiệp chia sẻ video Vine chính thức phát hành ứng dụng video ngắn vào năm 2009 và sau đó được Twitter mua lại đổi tên thành Viddy chính thức phát hành sản phẩm ứng dụng xã hội video ngắn trên điện thoại di động vào tháng 4/2011, đây được coi là ứng dụng video ngắn dành cho thiết bị di động đầu tiên (Zhu Xuguang và Xu Lina, 2017). Ở Trung Quốc, các ứng dụng video ngắn có các thuộc tính xã hội riêng biệt ra đời ngay từ đầu năm 2013.
Ngày 28/8/2008, Sina phát hành ứng dụng Weibo phiên bản 4.0 dựa trên nền tảng iOS và Android, tích hợp sẵn chức năng của “Miaopai” - một ứng dụng video ngắn tích hợp các clip quay và chia sẻ. Sau khi tải xuống và cài đặt, người dùng có thể sử dụng nó để chia sẻ các video ngắn với độ dài 10 giây trên Weibo trong thời gian thực. Sau đó, một số ứng dụng video ngắn có thể liên kết với các nền tảng xã hội khác đã gia nhập thị trường và năm 2013 cũng được coi là năm đầu tiên của video ngắn ở Trung Quốc (Zhang Zixuan, 2014). Nghiên cứu liên quan đã phát hiện ra rằng các ứng dụng mạng xã hội TikTok có tính tương tác, cơ sở, giải trí, thức ăn nhanh, không có thẩm quyền và dựa trên cộng đồng (Yan Xiaofang, 2016).
Một số học giả phân chia các ứng dụng video ngắn trên điện thoại di động trong nước từ góc độ cài đặt chức năng và nội dung của ứng dụng video ngắn đặc điểm thì có ba loại: loại phương tiện, loại công cụ và loại xã hội (Wang Xiaohong, 2015). Một số học giả chia video ngắn trên thiết bị di động hiện nay từ góc độ sản xuất gồm video ngắn có nội dung được tạo chuyên nghiệp (Professionally Generated Content – PGC) và video ngắn có nội dung do người dùng tạo (User 8 Generated Content - UGC). Trong thị trường video ngắn di động hiện nay, video ngắn UGC đã trở thành hình thức chính (Xia Yongfanng, 2017). Mô hình UGC chiếm ưu thế, nghĩa là người dùng đã trở thành sản xuất nội dung chính của ứng dụng video ngắn.
Ngoài ra, điều này làm cho các thuộc tính xã hội của ứng dụng video ngắn trở nên nổi bật hơn. So với các video ngắn dựa trên phương tiện và công cụ, các nền tảng video ngắn có các thuộc tính xã hội mạnh mẽ nhất định trở thành người dẫn đầu trong lĩnh vực video ngắn trên thiết bị di động. Định nghĩa và phát triển các nền tảng xã hội video ngắn Hiện tại, chưa có định nghĩa chuẩn nào về video ngắn trong và ngoài nước, nghiên cứu này chọn định nghĩa về video ngắn của SocialBeta (2015): “Video ngắn là video có độ dài được tính bằng giây, chủ yếu dựa trên thiết bị di động, thiết bị đầu cuối thông minh để đạt được tốc độ quay nhanh. Một loại định dạng video mới có thể được chia sẻ và kết nối liền mạch với các trình chỉnh sửa làm đẹp trên các nền tảng truyền thông xã hội trong thời gian thực.” Theo xu hướng phát triển video ngắn trong nước, các nghiên cứu trước đây và phân loại ứng dụng video ngắn, nghiên cứu này xác định nền tảng xã hội video ngắn (tức là mạng xã hội di động ứng dụng video ngắn) như: Dựa trên các thiết bị đầu cuối di động như điện thoại di động và máy tính bảng, các ứng dụng đầu cuối thông minh di động tích hợp các công cụ quay video ngắn và các chức năng của nền tảng chia sẻ và giao tiếp.
Sự phát triển của các nền tảng xã hội video ngắn dựa trên nhu cầu của người dùng và phù hợp với sự phát triển của thị trường. Các nghiên cứu đã tóm tắt những lý do cho sự gia tăng của các nền tảng xã hội video ngắn như: Cung cấp nhu cầu hoạt động thuận tiện và tức thì Thích ứng với thói quen đọc phân mảnh của mọi người Đáp ứng nhu cầu của mọi người về hình ảnh được cá nhân hóa Thúc đẩy sự phát triển của truyền thông xã hội Sản phẩm của giải trí quốc gia. 9 Ba mục đầu tiên đều liên quan đến nhu cầu riêng của người dùng, trong khi hai mục sau là yếu tố xã hội. Một số học giả chỉ ra rằng so với kỷ nguyên Internet PC, trong kỷ nguyên Internet di động, tầm quan trọng của “cảnh” như yếu tố giao tiếp được tăng cường đáng kể và các nền tảng xã hội video ngắn đang thích ứng với các bối cảnh giao tiếp đương đại về thời gian và không gian bị phân mảnh, bầu không khí xã hội trực tuyến và quán tính thể hiện bản thân (Peng Lan, 2015).
Trước nhu cầu ngày càng cao của người dùng và những thay đổi trong các yếu tố xã hội, các nền tảng xã hội video ngắn cũng đang đối mặt với một số thách thức, chẳng hạn như một hình thức biểu đạt duy nhất, sự tham gia của nhiều người dùng vẫn còn thấp, v. Do đó, các nền tảng xã hội video ngắn khác nhau liên tục được cập nhật và nâng cấp, cố gắng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dùng, thích ứng với những thay đổi của xã hội. Khái niệm nền tảng xã hội video ngắn TikTok TikTok là nền tảng video âm nhạc và mạng xã hội phiên bản quốc tế được ra mắt vào năm 2017 bởi Công ty TNHH ByteDance là một công ty công nghệ internet đa quốc gia của Trung Quốc có trụ sở tại Bắc Kinh. Phiên bản nội địa của TikTok được biết đến là Douyin ra đời trước đó vào cuối năm 2016.
Nó được sử dụng để tạo các video ca nhạc ngắn, hát nhép, khiêu vũ, hài kịch và tài năng từ 3 đến 15 giây, (Guiding Tech, 2018) và các video lặp lại ngắn từ 3 đến 60 giây. Tuy nhiên, tính đến tháng 8/2018, TikTok mới có sẵn trên toàn thế giới sau khi ByteDance mua lại Musical.ly - một công ty khởi nghiệp có trụ sở tại Thượng Hải với văn phòng tại Santa Monica, California (Lin và Winkler, 2017) 2. Khái niệm Social Media Marketing Social Media Marketing (tiếp thị trên mạng xã hội) có thể hiểu là các hoạt động Marketing được thực hiện trên các kênh social (mạng xã hội) nhằm thu về các hiệu quả nhất định như lượt tương tác với người dùng, gia tăng nhận thức của người dùng về dịch vụ, sản phẩm, thu thập các dữ liệu về hành vi, sở thích của người dùng đặc biệt là thúc đẩy hành vi mua hàng và sở hữu sản phẩm của người dùng thông qua 10 mạng xã hội. Hiện nay, social media được chia thành 9 loại hình chính, mỗi loại bao gồm một số ứng dụng, trang web với mỗi tính năng riêng và hướng đến một số đối tượng người dùng với nhu cầu nhất định.
TikTok – giải pháp marketing cho thế hệ mới: Nếu như Facebook là mạng xã hội đứng đầu về số lượng người dùng tại Việt Nam với 65 triệu người dùng, trở thành một kênh tiếp thị vô cùng quen thuộc và phù hợp với đại đa số các doanh nghiệp. Độ tuổi người dùng mạng xã hội này trải dài từ học sinh cấp 1 cho tới những người trên 65 tuổi. Độ tuổi trung bình và chiếm phần đông nhất là 30 tuổi, cũng là độ tuổi thuộc thế hệ Y1 (Millennials). Thứ hai có thể kể đến là Zalo được xem là đối thủ cạnh tranh nội địa của Facebook với hơn 35 triệu người dùng, phần lớn là trên 18 tuổi nhưng độ tuổi tương tác nhiều nhất là trên 30 tuổi.
Zalo vẫn còn chưa có công cụ để tập trung vào đối tượng khách hàng như Facebook & Instagram, vì thế mà khó hơn và tốn kém hơn để tìm đối tượng khách hàng cho sản phẩm và dịch vụ cao cấp. Về Instagram, mạng xã hội này dự tính có 5 đến 8 triệu người dùng tại Việt Nam, độ tuổi từ 18 đến 30 và 60% trong số đó là nữ. Các 1 Thế hệ Millennials (tiếng Anh: Millennials/ Generation Y, viết tắt: Gen Y) hay còn gọi là thế hệ thiên niên kỷ, là nhóm nhân khẩu học nằm giữa thế hệ X và thế hệ Z. Các nhà nghiên cứu và truyền thông phổ biến xem khoảng thời gian từ đầu thập niên 1980 đến giữa thập niên 1990 – đầu thập niên 2000 (hoặc từ năm 1981 đến 1996 (Dimmock, 2019)) là khoảng thời gian được sinh ra của nhóm này.
11 nội dung được yêu thích nhất là về thời trang và phong cách sống. Tuy nhiên, khi quảng bá thương hiệu trên Instagram, sự chân thật được đề cao. Người dùng Instagram rất dễ bị “dị ứng” với quảng cáo so với các mạng xã hội khác (Brand Ninja, 2021). So với 3 nền tảng trên, TikTok tuy mới có mặt tại Việt Nam vào năm 2017 nhưng phát triển với tốc độ mạnh mẽ vượt mặt nhiều đối thủ khác để nằm trong top 4 nền tảng có sức ảnh hưởng lớn nhất.
Hiện nay, Việt Nam là quốc gia có số lượng người dùng TikTok cao nhất Đông Nam Á. Theo ông Nguyễn Lâm Thanh - Đại diện TikTok Việt Nam cho biết thống kê cuối tháng 3 năm 2020, có 13 triệu người Việt sử dụng hàng tháng (Cafebiz, 2019). Đối tượng người dùng được thống kê chủ yếu là thế hệ Z2, cụ thể khoảng 66% dưới 30 tuổi (41% từ 16 tới 24 tuổi) (Brand Ninja, 2021). Thế nên nền tảng chia sẻ video ngắn TikTok chính là giải pháp marketing mới mẻ cho các doanh nghiệp có đối tượng khách hàng là thế hệ Z, thế hệ hứa hẹn sẽ là tương lai của nền kinh tế, ảnh hưởng lớn đến quá trình kinh doanh nói chung cũng như các lĩnh vực khác như công nghệ, giải trí, tiêu dùng nói riêng.
Đây là thế hệ có những đặc tính vô cùng khác biệt về thời gian chú ý, xu hướng sống thật và ưu tiên sự tương tác (Brand VietNam, 2019). Theo thống kê của PopulationPyramid.net, dự đoán đến năm 2025, thế hệ này sẽ chiếm gần 1 phần 3 dân số trong độ tuổi lao động của Việt Nam.