Chương 1: Cơ Sở Lý Thuyết Và Tổng Quan Nghiên Cứu 1. Khái Niệm Công Cụ 1. Sử Dụng Internet Quá Mức Hiện tượng sử dụng Internet quá mức được mô tả lần đầu tiên bởi Ivan Goldberg (1995) thông qua các tiêu chí chẩn đoán về Rối loạn Nghiện Internet (IAD). Trong đó, sử dụng Internet quá mức được mô tả như một dạng nghiện hành vi sử dụng công nghệ, Internet được xem giống như chất gây nghiện hay cờ bạc, từ đó gây nên tình trạng khó khăn về sức khỏe thể chất, tâm lý và kết nối xã hội.
Thời gian kế tiếp, việc sử dụng Internet quá mức được nhiều nhà nghiên cứu thảo luận với các quan niệm khác nhau qua nhiều mốc thời gian khác nhau như: “Nghiện Internet” (Young và Rodgers, 1998), “Lệ thuộc Internet” (Wang, 2001), “Sử dụng Internet bệnh lý” (Davis, 2001), “Sử dụng Internet có vấn đề” (Kaltiala-Heino, Lintonen và Rimpela, 2004), “Lạm dụng Internet” (Young và Case, 2004), “Sử dụng Internet quá mức” (Yang và cộng sự, 2005), “Rối loạn nghiện Internet” (Gonzalez, 2002). Griffiths (2000); Young và Abreu (2011) đã mô tả nghiện Internet là một dạng nghiện công nghệ và hành vi tương tự như thói quen cờ bạc. Chou và cộng sự (2015) đã mô tả nghiện Internet (còn được gọi là Sử dụng Internet bệnh lý), là tình trạng một người không thể kiểm soát việc sử dụng Internet của mình và hậu quả là phải đối mặt với những khó khăn về tâm lý, xã hội hoặc công việc. Nói cách khác, người dùng Internet không thể kiểm soát việc sử dụng Internet của họ, do đó có thể dẫn đến các vấn đề trong cuộc sống hàng ngày của họ (Shek, Sun, & Yu, 2013).
Nghiện Internet có thể được định nghĩa chung là sử dụng Internet quá mức; mất đi khả năng chống lại mong muốn sử dụng nó, dành rất nhiều thời gian quan trọng chỉ để kết nối internet, cực kỳ căng thẳng và hung hăng khi bị kiểm soát hoặc bị tước đoạt quyền truy cập vào internet, và dẫn đến sự suy thoái ngày càng tăng của cuộc sống, xã hội và gia đình (Young, 2016). Đây là khái niệm của đã được sử dụng trong rất nhiều các nghiên cứu, tuy nhiên cho tới hiện nay, 15 từ “nghiện internet” vẫn chưa có một mục riêng rõ ràng trong chẩn đoán của DSM-V và ICD 11. Và với các nghiên cứu ngày nay, các tác giả đã nghiêng về định nghĩa của “nghiện internet” là sử dụng internet quá mức (overuse of internet), mà ở đó, người sử dụng lệ thuộc cảm giác thu được trong quá trình sử dụng, thay vì xem Internet là một chất gây nghiện. Vì thế, trong nghiên cứu này sẽ áp dụng “sử dụng internet quá mức” thay vì “nghiện internet”.
Sự Cô Đơn Và Đặc Điểm Tâm Lý Ở Sinh Viên Đại Học Sự cô đơn được định nghĩa chính thức lần đầu tiên bởi Weiss (1973) sau khi phân tích lý thuyết của J. Bowlby về hành vi gắn bó và ý nghĩa tồn tại của nó; tổng hợp nhiều bằng chứng thực nghiệm của các tác giả và kết hợp những nghiên cứu của chính ông. Trong đó, Weiss (1973) định nghĩa sự cô đơn không đến từ việc ở một mình, mà là một tình trạng thiếu hụt cụ thể một số mối quan hệ cần thiết rõ ràng; nói cách khác, sự cô đơn là do thiếu các kết nối thân mật, tình bạn hoặc các mối quan hệ xã hội khác có sự gắn bó nhất định. Sự cô đơn có thể được chia thành hai dạng chính: một, sự cô lập về cảm xúc do thiếu vắng (mất đi hoặc không có) một người cụ thể; hai, sự cô lập xã hội do thiếu vắng một mạng xã hội (social network) cụ thể.
Weiss phân biệt sự cô đơn là phản ứng đối với sự vắng mặt của hình bóng yêu thương thay vì sự đau buồn là phản ứng đối với trải nghiệm về sự mất mát. Bên cạnh đó, Weiss (1973) chứng minh rằng sự cô lập xã hội không thể đồng nghĩa với sự cô đơn, mà là một yếu tố tình huống góp phần tăng nguy cơ. Kết quả này cũng được tìm thấy trong các nghiên cứu tại thời điểm đó (Townsend, 1964; Lopata, 1969). Hiện nay, định nghĩa của Weiss vẫn được sử dụng trong nhiều nghiên cứu và được bao hàm trong nghiên cứu này.
Cô đơn là một đặc điểm của thời đại chúng ta và về cơ bản là mô tả cho tình trạng một người sống một mình hoặc không giao tiếp với những người xung quanh. Sự cô đơn ở sinh viên đại học được nhắc đến trong nghiên cứu vẫn được định nghĩa với tình trạng thiếu hụt cụ thể một tình bạn hoặc các mối quan hệ xã hội có sự gắn bó nhất định. 16 Đặc điểm tâm lý của sinh viên được đánh giá bằng cách đối chiếu với lý thuyết các giai đoạn phát triển tâm lý xã hội của Erik Erikson (1963). Trong đó, sinh viên đại học là một đối tượng đặc thù khi trong thời gian chuyển tiếp từ giai đoạn 5: căn tính và nhầm lẫn vai trò (hình thành hình ảnh bản thân, tích hợp những ý tưởng của chúng ta về bản thân và về những gì người khác nghĩ về chúng ta) và giai đoạn 6: thân mật và cô lập (thiết lập sự độc lập của mình khỏi cha mẹ, bắt đầu hoạt động tự chủ, thực hiện một số hình thức làm việc hiệu quả và thiết lập các mối quan hệ mật thiết).
Trong giai đoạn này, sinh viên đại học bắt đầu xác định căn tính của bản thân và thiết lập mối tương quan mật thiết với bạn bè và với người khác phái thông qua các hoạt động tương tác trực tiếp trong trường học, nơi cư trú, hoặc tương tác trực tuyến thông qua các công cụ Internet. Sinh viên đại học cảm thấy cô đơn khi thiếu khả năng chia sẻ căn tính với người khác qua những tương quan thân mật. Theo nghiên cứu của McWhirter (1990), sự cô đơn dường như đặc biệt phổ biến ở sinh viên đại học, cụ thể, nghiên cứu ước tính khoảng 30% sinh viên đại học thể hiện sự cô đơn ở mức cao. Trong một nghiên cứu về sinh viên năm nhất đại học, 75% sinh viên báo cáo mức độ cô đơn trong 2 tuần đầu tiên đến trường, với 47% sinh viên được xếp loại là có cảm giác cô đơn từ trung bình đến nặng.
Sau 7 tháng, 25% vẫn cảm thấy cô đơn (Cutrona, 1982). Kết quả cho thấy, sau một khoản thời gian, một số sinh viên vượt qua được cảm giác cô đơn, nhưng một số ít vẫn tiếp tục sống theo tình cảnh này ngay cả trong những năm học cuối cùng. Kết quả trên cũng được tìm thấy trong nghiên cứu của Aral và Gürsoy, 2000; Jin và cộng sự, 2010. Bên cạnh sự bấp bênh trong giai đoạn thiết lập căn tính bản thân, thiết lập và hình thành các mối quan hệ thân mật, sinh viên đại học còn đối diện với những thách thức về thay đổi môi trường sống (Ceyhan, 2011; Silva, 2020); tách khỏi hệ thống gia đình (Shaver et al, 1985; Barankevich và Loebach, 2022).
Từ đó, sinh viên đại học trải qua cảm giác cô đơn tạm thời, nảy 17 sinh nhu cầu tìm kiếm, tương tác và thiết lập các mối quan hệ; mà Internet (như được trình bày ở bên dưới) là một phương tiện truy cập rất phù hợp, thuận tiện và sẵn có. Mục Đích Sử Dụng Internet Quá trình phân loại mục đích sử dụng Internet đã được thực hiện từ thời gian trước đây như nghiên cứu của Wolfradt và Doll (2001) về thanh niên đã xác định ba mục đích chính khi sử dụng internet là thông tin, giải trí và liên lạc liên cá nhân; hay nghiên cứu của Rodgers and Sheldon (2002) cho thấy 4 mục đích sử dụng internet của sinh viên bao gồm nghiên cứu, lướt web, mua sắm và giao tiếp. Trong cả 2 nghiên cứu, sự phân chia về kết quả dựa trên các nhóm sinh viên là khác nhau, và điều này có nghĩa rằng mục đích sử dụng internet của sinh viên là không cố định và trong trường hợp có những mục đích sử dụng mới, sự phân chia này sẽ lại thay đổi. Tuy nhiên, những nghiên cứu này có hạn chế về việc không đưa đề cập tới hình thức bắt nguồn của việc sử dụng internet, có nghĩa xét ở phương diện thiết bị để truy cập vào internet cũng ảnh hưởng tới mục đích sử dụng internet tại thời điểm đó.
Bên cạnh đó, có sự chi phối với những mục đích sử dụng internet của nghiệm thể khi mà họ được gợi ý về các mục đích mà nhà nghiên cứu quan tâm. Điều này cũng có thể làm giảm các mục đích sử dụng internet vốn đã có của người tham gia. Nghiên cứu của Kimberly Young (2016) có mục đích sử dụng internet được chia làm 15 loại: Adult Entertainment Site, Business Surfing, Online Auction, Online Shopping, Stock Trading, New Sites, Recreational Surfing, Business Email, Chat rooms, Discussion Lists, Instant Messaging, Online Gambling, Online Gaming, Personal Email và Other. Từ những phân tích về 15 loại này, nghiên cứu nhận thấy có một số người sử dụng Internet để tương tác với máy vì lý do công việc, việc học hoặc các hoạt động offline.
Còn lại là người sử dụng với mục đích lên mạng online, để kết nối, tương tác xã hội và tìm hiểu. Nghiên cứu của Szabo và cộng sự (2019) cho thấy mục đích sử dụng Internet bao gồm 3 loại: kết nối xã hội, công việc và tìm kiếm thông 18 tin. Mặc dù có sự đa dạng và khác nhau trong cách phân chia giữa các nghiên cứu, nhìn chung mục đích sử dụng Internet bao gồm 2 loại là sử dụng Internet để tương tác với máy (AI) và sử dụng Internet để tương tác với người 1. Lý Thuyết Tiếp Cận Và Các Nghiên Cứu Trong Và Ngoài Nước 1.
Thực Trạng Sử Dụng Internet Ở Sinh Viên Đại Học Việc sử dụng Internet quá mức ngày càng phổ biến trong giới trẻ trên toàn thế giới (Lam, Peng, Mai, & Jing, 2009). Tại Việt Nam, có khoảng 71 triệu người dùng Internet vào năm 2020 và tỷ lệ sử dụng Internet là 72.9%, chiếm 1,4% tổng số người dùng Internet trên thế giới (Internet World Stats, 2020) và một nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng 21,2% thanh niên Việt Nam đã trải nghiệm việc nghiện Internet (Tran và cộng sự, 2017) và phần lớn là sinh viên đại học. Sinh viên đại học sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức hoặc các nhu cầu thực tế trong cuộc sống như chỗ ở, ăn uống, sức khỏe, tham gia vào các nhóm hoặc tổ chức xã hội, sự tự tin, thích nghi với và phát triển mối quan hệ với môi trường xung quanh (Ceyhan, 2011). Ngoài cuộc sống hàng ngày, lịch trình học tập của sinh viên yêu cầu họ phải thường xuyên tra cứu thông tin.
Trong thời đại số, việc truy cập Internet trở nên rất dễ dàng và thuận tiện dẫn đến việc sinh viên dành nhiều thời gian cho các ứng dụng Internet.